Bản án số 63/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 63/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 63/2026/DS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cao Bằng
Số hiệu: 63/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CAO BẰNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 63/2026/DS-PT
Ngày: 30/9/2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vi Khánh Dần
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Thụ và bà Tô Thị Thuỳ Ngân
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký viên, Toà án nhân dân tỉnh Cao
Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Luyện
Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 23 và 30 tháng 9 năm 2026 Tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Cao Bằng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2026/TLPT-DSPT ngày
28 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 97/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1- Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2026/QĐ- PT ngày 04 tháng 9
năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Thị T, sinh năm 1971. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm Đ (xóm G B cũ), xã H, tỉnh Cao Bằng.
Bị đơn: Ông Dương Quang T1, sinh năm 1954. Có mặt.
Địa chỉ: Xóm V (Xóm M cũ), xã H, tỉnh Cao Bằng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Cao Bằng. Người đại diện theo pháp luật: Ông
Đàm Thế T2- Chức vụ: Chủ tịch - Người được uỷ quyền ông: Nông Anh H-
Trưởng phòng kinh tế. vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt.
2. Hạt kiểm lâm khu vực H, tỉnh Cao Bằng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Quang V- Chức vụ: Hạt trưởng-
Uỷ quyền cho Bà Chu Thị T3, Kiểm lâm viên- Hạt kiểm lâm khu vực H, Có mặt.
3. Bà Dương Thị Khánh L. Có mặt
4. Ông Đinh Ngọc N. vắng mặt.
5. Ông Phan Dương C. vắng mặt.
6. Ông Dương Quang Lê . Có mặt
2
7. Ông Dương Quang B (đã chết) Bà Sầm Thị H1- Vợ ông B. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm V (Xóm M cũ), xã H, tỉnh Cao Bằng.
8. Ông Dương Thế H2. Có mặt
Địa chỉ: Xóm Đ (xóm G B cũ), xã H, tỉnh Cao Bằng.
9. Bà Dương Thị H3. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường N, tỉnh Cao Bằng.
Người làm chứng:
1. Bà Dương Thị Đ. Vắng mặt
2. Ông Dương Quang P.Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Ông Dương Quang K. Vắng mặt
4. Ông Dương Ngọc H4. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
5. Ông Dương Quang T4. Vắng mặt
6. Ông Phan Minh T5. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
7. Bà Dương Thị N1. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
8. Ông Phan Dương M (Phan Văn M1). Vắng mặt
9. Bà Nông Thị H5. Vắng mặt
10. Ông Đinh Ngọc C1. Vắng mặt
11. Ông Dương Quang T6. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Xóm V (xóm M cũ), xã H, tỉnh Cao Bằng.
12. Ông Dương Quang P1. Có mặt
Địa chỉ: Tổ T (Tổ 4 cũ), phường T, tỉnh Cao Bằng.
Người kháng cáo: Bị đơn Dương Quang T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Cụ ông Dương Quang K1 và cụ bà Hà Thị N2 là vợ chồng sinh ra 04 người
con là: Dương Quang K2, Dương Quang M2, Dương Quang P2, Dương Quang
N3. Sau khi lập gia đình ông Dương Quang K2 sinh ra ông Dương Thế Q (Bố đẻ
của bà T), ông Dương Quang N3 sinh ra ông Dương Quang T1.
Khu đồi Tắp Mu trước đây của gia đình cụ ông Dương Quang K1 và cụ bà
Hà Thị N2 quản lý, sau đó các cụ lấy dông đồi ở giữa làm ranh giới, chia bên trái
phần chân đồi cho ông Dương Quang K2, bên phải cho ông Dương Quang N3.
Phía đỉnh đồi tiếp giáp đất của ông Dương Quang K2 vẫn là đất của dòng họ D.
Năm 1971, ông Q đi bộ đội về, ông K2 giao lại phần đất được bố để lại cho ông
Q quản lý, sử dụng. Trong quá trình sử dụng, ông Q có cho ông Phan Dương M
(Phan Văn M1) mượn đất để trồng sắn và các cây trồng khác. Đến năm 2013, bà
T được bố là Dương Thế Q giao quản lý đồi Tắp Mu diện tích khoảng hơn
3.000m
2
, khi đó ông Phan Dương M vẫn đang mượn đất của ông Q. Năm 2022,
3
có dự án của tỉnh đo đạc lại đất để cấp bìa đỏ chuyển từ rừng phòng hộ sang rừng
sản xuất ít xung yếu, đất của bà T cũng nằm trong dự án này, ông M đã trả đất cho
bà T và bà T đã thanh toán tiền công trồng, chăm sóc các cây trồng trên đất cho
ông M là 3.000.000 đồng. Khi công ty Đ1 đến đo đạc đất của bà T để làm bìa đỏ,
bà T thấy ông T1 đã trồng thông, đào hào cắm cột mốc ở trên đất. Bà T làm đơn
khởi kiện ra Tòa, yêu cầu ông T1 trả lại đất đồi Tắp Mu (Theo kết quả đo đạc ký
duyệt ngày 22/7/2025 là thửa đất 434, tờ bản đồ địa chính 01) địa chỉ tại xóm M
(cũ), nay là xóm V, xã H cho bà T với diện tích 3.635,7m
2
. Có tứ cận:
Phía Đông: Tiếp giáp đất của ông Dương Quang B; Phía Tây: Tiếp giáp
một phần thửa đất 160 của ông Dương Quang T1 và một phần thửa đất 162 của
ông Đinh Ngọc N; Phía Nam: Tiếp giáp đất của dòng họ D; Phía Bắc: Tiếp giáp
một phần thửa đất 161 của ông Dương Quang Lê .
Việc ông T1 và ông C cho rằng có đất của ông C trong phần đất tranh chấp,
bà T không đồng ý vì đất là của ông K2 để lại cho bố bà T, trước đây ông C và
ông M mượn đất của ông Q để trồng sắn từ thời chưa tan Hợp tác xã. Sau khi tan
Hợp tác xã đến năm 1989 thì ông C không trồng cây gì thêm, còn ông M vẫn trồng
cây thông, cây trẩu trên đất đến năm 2023 trả lại đất cho bà T và bà T đã trả tiền
cây cho ông M là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Vào năm 2022, khi bà T thuê công ty Đ1 đến làm bìa đỏ thì ông T1 không
cho thực hiện. Ông T1 đã trồng keo, đào hào, cắm mốc là cột bê tông sang phần
đất của bà T. Bà T không được nhổ các cây ông T1 trồng, nên không nhất trí bồi
thường theo yêu cầu của ông T1. Khi Hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định thì
đã không còn thấy những cây keo và cột bê tông, chỉ còn lại hào, nay bà T yêu
cầu ông T1 lấp lại hào như nguyên trạng ban đầu, trả lại phần đất tranh chấp, cho
bà T.
Nguyên đơn nhất trí với biên bản thẩm định; kết quả đo đạc ngày 18/3/2025
của Trung tâm điều tra, đo đạc, quy hoạch tài nguyên nông lâm nghiệp và các bản
trích đo được chỉnh sửa trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại đơn trình bày ngày 26/10/2024 và bản tự khai ngày 31 tháng 10 năm
2024, trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Dương Quang T1 trình bày:
Tại phần đất tranh chấp có 04 khu riêng biệt. Nguồn gốc đất là thuộc ông tổ Dương
Quang K1 và bà Hạ Thị N4. Nay nguyên đơn yêu cầu ông T1 nhổ cột mốc thì cột
mốc đó là do ông T1 và anh trong họ (cao tuổi nhất) đã thỏa thuận để chôn không
liên quan đến nguyên đơn, ông T1 chôn để đánh dấu hai khu đất do vậy ông T1
không nhất trí nhổ. Nguyên đơn yêu cầu ông T1 lấp rãnh, rãnh là để ông T1 đánh
4
dấu vào khuân viên của mộ bố ông T1, chỉ là rãnh ngăn nước không phải hào,
không liên quan đến đất của bà T. Khi giải quyết tại xóm, nguyên đơn ngồi ở nhà
văn hóa nhưng bảo ông T1 trồng cây xuống đất của nguyên đơn nhưng ông T1
mua 250 cây về trồng xuống khu đất bố ông T1 canh tác từ trước năm 1945 đến
nay, nguyên đơn đã nhổ hết những cây của ông T1 trồng, nay ông T1 yêu cầu
nguyên đơn bồi thường.
Về sơ đồ đo đạc, tại thời điểm đo đạc thì chưa có sơ đồ nên ông T1 và bên đo đạc
không hiểu ý, bị thiếu mất một đường ngăn cách đất của ông T1 và đất ông C, đất
ông C do ông T1 chia cho. Đất của ông C có tứ cận phía đông giáp đất của ông
T1, phía nam giáp đất của 4 ông, phía tây nam giáp đất bố mẹ ông T1, phía bắc
giáp đất của ông T1. Phần đất của ông T1, phía tây bắc giáp ông N, phía nam giáp
ông T4 và giáp đất của 4 ông (có 174m
2
gồm ông Dương Quang K2, Ông Dương
Quang M2, ông Dương Quang N3, ông Dương Quang P2). Phần đất của ông T1
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tuy nhiên chưa đúng với phần
đất của ông. Ông T1 đã được cấp bìa đối với thửa 160, diện tích là 3.600m
2
, việc
cấp bìa này chỉ đúng một phần. Khi bị đơn còn 10 tuổi, nhà ngay cạnh nhà của
ông P2, ông P2 có nói rất nhiều lần thời 4 ông mới tách hộ với bị đơn như sau:
“Ông cả là ông K2 đã gọi các em lên chia, 2 ông ở trên đồi lấy phần xung quanh
nhà trên đồi, 2 ông ở làng dưới thì lấy phần xung quanh nhà ở làng dưới”. Bà T
nói có giấy của bố mẹ để lại về việc giao đất, thì giấy này di chúc cũng không
phải mà chỉ là giấy dặn dò con, về hình thức cứ cho hợp lệ, nội dung là trái pháp
luật vì đất của người khác mà giao cho con là trái pháp luật. Hai đời 4 ông không
hề tranh nhau, ông Q và bị đơn không tranh chấp đến hàng cháu mới tranh chấp
là không đúng. Tờ giấy giao đất mơ hồ, các phía không nói giáp ai, ranh giới giáp
ai cũng không ghi, nói xung quanh có bụi tre cũng không đúng. Bà T có 4 yêu cầu
đối với bị đơn đó là trả đất, nhổ keo, lấp rãnh, hàng rào xi măng. Bà T hãy xác
định bị đơn trồng keo ở đâu trong sơ đồ này, bà T bắt nhổ cây keo ở phạm vi ngoài
bà T chỉ là vô lý. Bà T yêu cầu ông T1 lấp hào nhưng đây không phải hào mà chỉ
là rãnh để đánh dấu khu mộ của bố ông T1 đều ngoài phạm vi tranh chấp. Bà T
yêu cầu trả lại đất thì có 1 phần của ông T1 đã được nhà nước ghi nhận, còn lại 3
phần đã được giao nên bà T không có quyền yêu cầu. Trong biên bản định giá tài
sản có sơ đồ đo thể hiện bà T không có đất ở đó. Đất tranh chấp có 1 phần thuộc
thửa 160 với diện tích bao nhiêu thì ông T1 không cộng được chính xác. Đối với
thửa 160 ông T1 được cấp bìa năm 2004, ông T1 sử dụng đúng bìa đỏ, ngoài ra
còn khu chưa có trong bìa đỏ sử dụng từ trước đến nay không có tranh chấp tuy
nhiên không đúng vào bản đồ đo vẽ tại hôm thẩm định. Tại hôm thẩm định ông
T1 cũng được chỉ để cơ quan đo đạc đo.
Về diện tích đất tranh chấp không sinh thêm ra cũng không bị co lại nhưng
nguyên đơn trình bày 3 đến 4 lần thì diện tích đều khác nhau, thế nên là vô lý.
Những người làm chứng khai không khớp với hiện trường vì ông sinh ra lớn lên
5
tại mảnh đất này ông mới biết rõ. Khoảng năm 2003-2004 Nhà nước đã có dự án
cho dân đăng ký rừng phòng hộ, bản thân ông đã sử dụng quyền đối với mảnh đất
này và được hưởng dịch vụ từ 20 năm nay. Ngoài ra, phần đất nguyên đơn yêu
cầu nằm ngoài phạm vi sơ đồ nguyên đơn chỉ nên ông đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận bốn yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn nhất trí với biên bản thẩm định và kết quả đo đạc của Trung tâm
điều tra, đo đạc, quy hoạch tài nguyên Nông Lâm N5, sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh C.
Trong quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trình bày:
1. Ý kiến Ủy ban nhân dân xã H: UBND xã H đã giải quyết theo đúng trình tự,
thủ tục, tiến hành hòa giải tuy nhiên không thành. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ
án theo đúng quy định của pháp luật.
2. Ông Phan Dương C: Là cháu ngoại của Dương Quang N3, con trai của chị gái
ông T1, phần đất hiện nay bà T tranh chấp với ông T1 do ông ngoại ông C để lại
phần đất cho ông, nhưng không có giấy tờ gì và không có ai làm chứng. Mẹ ông
C lấy chồng về sống cùng ông N3. Ông N3 mất từ khoảng năm 1980, mẹ ông mất
ngày 30/3/2025. Ông N3 có con trai là ông T1 và mấy người con gái nữa. Thửa
đất này ông C được trồng khoai, sắn từ năm 1983. Khi ông Q còn sống thấy ông
C canh tác cũng không có ý kiến gì. Phần đất của ông C đúng như phần đất ông
T1 chỉ. Tiếp giáp như nào thì ông C không xác định được các phía tiếp giáp, ông
C chỉ biết giáp ông T1 vì đất này nằm trong đất ông T1, ông không đo đạc diện
tích đất bao giờ nên chỉ ước lượng diện tích khoảng 500m
2
. Bà T cho rằng ông C
mượn đất của ông Q là không chính xác, đây là đất ông N3 để lại cho ông C nên
ông yêu cầu được giữ nguyên thửa đất này cho ông.
3. Bà Dương Thị Khánh L trình bày: Bà là con gái của ông T1, từ nhỏ đã được
theo bố mẹ đi lên đồi trồng cây, về số thửa diện tích thì bà không biết. Gia đình
bà được trồng các cây trẩu, xoan, thông trên thửa 160. Diện tích tranh chấp giữa
nguyên đơn và bị đơn thì bà không rõ. Quanh khu đất tranh chấp này thì bà cũng
được đi trồng các loại cây. Nay bà có ý kiến như sau các cụ để lại đất đã chia rõ,
ông N3 chỉ có bố bà là con trai nên phần đất được thừa kế sẽ là nhiều hơn. Thực
tế ông T1 có ba người con, với vợ trước có 2 con trai tuy nhiên đã ly hôn. Mẹ bà
về làm dâu từ khoảng năm tám mươi mấy và bố mẹ bà chỉ có một mình bà là con
ruột.
4. Ý kiến của Hạt kiểm lâm K4, tỉnh Cao Bằng: Diện tích các bên đương sự tranh
chấp nằm trong lô 100 khoảnh 1 T diện tích 0,36 ha. Lô 101, khoảnh 1, T diện
tích 0,63ha trùng thửa 161 của bên trích đo địa chính mang tên ông Dương Quang
6
Lê . Lô 108, khoảnh 1 diện tích 0,3ha cùng tiểu khu với 2 lô trên trùng với thửa
328 của bản đồ địa chính là của UBND xã quản lý. Lô 107, khoảnh 1 cùng tiểu
khu với các lô trên trùng thửa 194 bên trích đo địa chính mang tên Dương Quang
B. Còn một phần nhỏ trong lô 99, khoảnh 1, cùng tiểu khu có diện tích 2,47ha
trùng với thửa 162 của trích đo địa chính mang tên Đinh Ngọc N. Theo hệ thống
phần mềm quản lý của lâm nghiệp lô 100 trùng thửa 160 mang tên ông Dương
Quang T1. Ông T1 có được đến nhận tiền dịch vụ môi trường rừng. Lô 101 có tên
của ông Dương Quang L1 và ông L1 cũng được nhận tiền dịch vụ môi trường
rừng. Theo bản đồ lâm nghiệp thì chức năng rừng của các lô rừng này là rừng sản
xuất. Loại rừng là rừng tự nhiên lá rộng thường xanh nghèo (TXN).
5. Ý kiến của ông Đinh Ngọc N: Ông được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng
thửa đất 162, tờ bản đồ số GĐLN, diện tích là 24.800m
2
, mục đích sử dụng
R.Tn.P, do UBND huyện H cấp ngày 20/9/2004. Phần đất của gia đình ông đã có
hàng tre để làm ranh giới với phần đất tranh chấp. Phần đất các đương sự đang
tranh chấp có một phần đất thuộc thửa 162 của ông đề nghị Tòa án không xem xét
cho bà T vì đất của ông đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất.
6. Ông Dương Quang L1 trình bày: Từ khi còn nhỏ ông được biết ông Q (là bác
của ông) có nhờ ông giúp chặt cây tại phần đất tranh chấp hiện nay, đúng là đất
của ông Q. Ông C xác định đó là đất của ông C ông được biết trước đấy là của
ông Q, sau ông Quảng Y thì mới cho ông C mượn để ông C sử dụng một thời
gian, sau này ông M sử dụng. Những lời trình bày của ông T1 thì ông thấy không
đúng sự thật. Ông được cấp bìa đỏ hai thửa đất cách nhau trên gần phần đất tranh
chấp, tuy nhiên ông không nhớ rõ số thửa được cấp, hàng tháng ông nhận được
tiền dịch vụ môi trường rừng của hai thửa đó. Ông và ông B là hai chú cháu ruột,
phần đất đang tranh chấp không liên quan đến phần đất ông được cấp bìa đỏ.
7. Ông Dương Thế H2 là con đẻ của ông Dương Thế Q, em ruột của bà Dương
Thị T trình bày: Ông nhất trí theo yêu cầu khởi kiện của bà T, nguồn gốc đất là
của ông K1 và bà N4 để lại cho 04 người con trong đó có ông K2 là ông nội của
ông H2. Từ lúc ông K2 còn sống đã chia cho bố ông là Dương Thế Q khu đồi Tắp
M3. Từ năm 1985 trở về năm 2013 ông cũng thường xuyên cùng bố lên khu đất
này lấy củi về làm ngói. Năm 2013 do sức khỏe yếu thì bố ông viết giấy giao rừng
cho chị gái ông là bà T. Năm 2019 bố ông mất, trước khoảng thời gian bố ông mất
thì chưa có tranh chấp gì. Nay ông T1 nói đất đấy không phải của gia đình ông là
không có căn cứ vì đất đó không phải đất của ông T1.
8. Bà Dương Thị H3 là con gái thứ ba của ông Dương Thế Q, em gái của bà Dương
Thị T trình bày: Năm 2013 ông Q chia đất cho bà T ở phần đồi Tắp Mu bà có biết
7
và nhất trí với ý kiến của bố bà. Khi bố bà chia cho bà T thì bà đang học ở Thái
Nguyên, bố mẹ cũng gọi bà về để chứng kiến việc giao đất nhưng do ở xa nên bà
cũng nói với bố mẹ anh chị để cho bà T quản lý. Bà không có ý kiến gì với việc
tranh chấp đất giữa bà T, ông T1.
9. Bà Sầm Thị H1 là vợ của ông Dương Quang B trình bày: Ông B đã chết cách
đây gần 10 năm, gia đình bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa 194, đất của bà giáp đất của ông Dương Quang K, ông Dương Quang T4,
ông Mã Đình L2. Phần đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không
liên quan gì đến phần đất tranh chấp của bà T, ông T1. Phần đất hiện nay ông T1
và bà T đang tranh chấp có nguồn gốc là của cha ông để lại, đất của ông T1 là của
ông T1, của ông Q là của ông Q. Mọi người đều đã đăng ký làm bìa đỏ chỉ còn có
nhà bà T. Bà T ở chỗ khác chưa được thông báo nên mới không đăng ký làm. Khi
nào Nhà nước có chủ trương để làm bìa thì mới đăng ký làm, từ lúc bà T làm bìa
đỏ thì bà mới thấy có hiện tượng tranh chấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa những người làm chứng
trình bày:
1. Ông Dương Quang P1 trình bày: Ông nội ông có 4 người con trai là ông M2,
ông K2, ông P2, ông N3, ông là con của ông P2. Nguyên đơn và bị đơn đều là họ
hàng với ông. Đất là của chung, từ xưa ai làm đất ở đâu thì vẫn giữ nguyên ở đó.
Phần đất hiện nay đang tranh chấp ông K2 đã canh tác rồi bỏ vài năm, sau đó giao
lại ông Q (là con trai ông K2) để làm. Khi giao đất cho ông Q thì cũng có tranh
chấp với bố ông T1 tuy nhiên sau đó đã hòa giải được. Khi ông Quảng Y đã giao
lại đất tranh chấp này cho bà T. Đối với ông C thì trước đây có mượn đất của ông
Q để trồng sắn.
2. Ông Dương Ngọc H4 trình bày: Ông nội ông là Dương Quang K2 trồng sắn
trên đất tranh chấp này (đoạn dốc dựng đứng) tiếp đến 1 đoạn bằng hơn thì trồng
mía (bản thân ông cũng được trực tiếp đi trồng). Từ trước khi ông K2, ông Quảng
canh T7 thì không xảy ra tranh chấp. Ông chỉ được canh tác sử dụng 1 thời gian
ngắn sau đó để lại cho gia đình ông Quảng canh T7.
3. Bà Dương Thị N1 trình bày: Bà có quan hệ họ hàng với nguyên đơn và bị đơn.
Bà được chứng kiến việc bà T trả tiền cây trồng cho ông M do bà T gọi bà đi cùng
chứng kiến việc giao tiền giữa bà T và ông M về tiền quản lý cây trên đất của gia
đình ông Q, số tiền là 3.000.000 đồng. Từ bé bà cũng đi theo bố bà lên đồi, có
nghe bố bà nói đây là đất của ông Q.
4. Ông Dương Quang P trình bày: Ông là cháu nội của ông K2, phần đất tranh
chấp giữa bà T và ông T1 là của ông K2 để lại cho ông Q quản lý từ năm 1971
8
(sau khi ông Q đi bộ đội về). Từ đó đến nay đều do ông Q quản lý sử dụng đất
này và giao lại cho bà T. Ông không có phần đất nào liên quan đến diện tích đất
đang tranh chấp.
5. Ông Dương Quang T6 trình bày: Ông là cháu nội của ông K2, sau khi
tan hợp tác thì ông Q cũng có nói với ông đây là đất của ông Q, đi lại thì để ý
giúp. Ông không có phần đất nào liên quan đến diện tích đất đang tranh chấp.
6. Bà Dương Thị Đ trình bày: Bà là chị gái ruột của ông T1, về nguồn gốc
đất tranh chấp thì trước đây cả bốn ông thì đều được chia đất, ông M2 và ông K2
làm nhà trong làng, ông P2 nhà trên đồi, ông N3 không có đất dựng nhà nên ông
bà cho lên đồi Tắp Mu dựng nhà làm vườn ở. Ngoài ra ông N3 còn không có đất
bằng làm rẫy nên ông N3 phải phát thêm ra phía sau để làm vườn, bà cũng được
canh tác đất này, trồng các loại hoa màu, không thấy ai tranh chấp và cũng không
phải đất của ông Q. Bố mẹ bà có chia đất con trai Dương Quang T1, sau đó ông
T1 chia lại đất cho cháu là Phan Dương C con của chị gái bà. Đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
7. Ông Dương Quang K trình bày: Ông Dương Quang N3 có bốn anh em
ruột là Dương Quang K2, Dương Quang P2, Dương Quang M2 và Dương Quang
N3. Căn nhà ông N3, bà Bế Thị T8 (nay con là Dương Quang T1) ở trên đồi T,
xung quanh nhà có cây nhãn, cây vải, cây mít, cây trám, rừng vầu mọc. Đất hiện
nay đang tranh chấp là của ông Dương Quang T1 do ông Dương Quang N3 để lại.
8. Ông Dương Quang T4 trình bày: Ông có quan hệ họ hàng với bà T và là
cháu của ông T1, phần đất hiện nay tranh chấp giữa bà T và ông T1 trước đây do
ông Q được bố mẹ chia cho từ năm 1971, ông Q trực tiếp khai thác, chặt các loại
cây nhãn về để xẻ gỗ và chặt các loại cây gạo, tre về để đốt lò gạch, lò ngói và
làm củi đun…. Sau này ông Q già yếu đã giao lại cho bà T.
9. Ông Phan Dương M (Phan Văn M1) trình bày: Ông là họ hàng với bà T
và ông T1, phần đất tranh chấp giữa bà T và ông T1 là của ông Q, trước đây trên
đất có 4 bụi tre, ông Q đến lấy về làm nhà. Ông được trồng sắn và các loại cây
khác trên đất này, sau khi ông trả đất đã được bà T thanh toán số tiền cây trồng là
3.000.000 đồng. Trước khi ông trồng sắn, trên đất có một số cây trẩu, cây sâu sâu
tự mọc.
10. Bà Nông Thị H5 trình bày: Bà là hàng xóm của ông T1 và bà T, bà biết
đất đồi Tắp Mu là của ông Dương Quang N3 (Bố đẻ của ông T1) quản lý. Đất ở
phía sau nhà ông Dương Quang P1 nhưng ranh giới cụ thể như thế nào thì bà
không biết, bà T và ông T1 tranh chấp ở vị trí nào bà cũng không biết.
11. Ông Đinh Ngọc C1 trình bày: Ông là hàng xóm với bà T và ông T1,
ông chỉ biết đất đồi Tắp Mu là của dòng họ D, nhưng các anh em họ D chia nhau
như thế nào ông không biết, ông cũng không biết bà T, ông T1 sử dụng ở những
vị trí nào.
9
12. Ông Phan Minh T5 trình bày: Ông là hàng xóm của bà T và ông T1,
phần đất hiện nay đang tranh chấp giữa bà T và ông T1 là của ông T1, bà T tranh
chấp đòi lấy là vô lý, do gia đình ông T1 đã sử dụng hai đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Cao Bằng phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm
và ý kiến về giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư
ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn, bị đơn người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn, những người làm chứng đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73,
76, 78 Bộ luật TTDS như: giao nộp chứng cứ, tham gia phiên họp kiểm tra việc
giao nộp chứng cứ và tiếp cận công khai chứng cứ, có mặt theo giấy triệu tập của
Tòa và chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Thẩm phán đã xác định đúng tư cách
những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật TTDS.
Ý kiến về giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 35, điểm c khoản
1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố
tụng dân sự; Các Điều 155, Điều 166 Bộ luật Dân sự; Các điều 4, Điều 236 Luật
Đất đai năm 2024; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T đối với
phần diện tích đất nằm trong một phần các thửa 161, 194, 328 (nằm ngoài thửa
đất 160, tờ bản đồ số 01)
Buộc ông Dương Quang T1:
Nhổ tất cả cây keo ông T1 đã trồng trong phạm vi ranh giới thửa đất số 434, tờ
bản đồ số 1 (Nằm trong 1 phần thửa 161, 194, 328, diện tích 2.622.57m
2
), trả lại
phần đất rừng mà ông T1 đã lấn chiếm
San lấp hào, rãnh do ông T1 đào trả lại hiện trạng đất rừng ban đầu.
Tất cả tài sản trên đất không nằm trong phạm vi thửa 160.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T đối với phần
diện tích đất tranh chấp nằm trong phạm vi Thửa đất số 160, tờ bản đồ số 1 (do
ông Dương Quang T1 đứng tên quản lý trên sổ mục kê và thụ hưởng tiền dịch vụ
môi trường rừng).
10
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 97/2026/DS- ST ngày 31/7/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 1- Cao Bằng. Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm a, c khoản
1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, Điều 271, Điều 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 164, Điều 166 và Điều 169 Bộ Luật dân sự; Điều
12, Điều 131, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 11, Điều 178, Điều 236 Luật
đất đai 2024; điểm đ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Dương Thị T về
việc yêu cầu bị đơn ông Dương Quang T1 trả lại diện tích 2.554,7m
2
(theo đường
nét màu tím trên sơ đồ) thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 01 (10-520536) tỷ lệ 1/10.000
năm 2022, thuộc một phần thửa đất số 161, 194, 328: Tờ bản đồ địa chính 01 (10-
520536+520542+514536+514542) tỷ lệ 1/10.000 năm 2006 có tứ cận tiếp giáp
như sau: Phía Đông giáp đất của ông Dương Quang B dài 44,4m; Phía Tây giáp
thửa đất 160 của ông Dương Quang T1, từ điểm A đến điểm B dài 50,81m; Phía
Nam giáp đất của dòng họ D dài 49,88m; Phía Bắc giáp đất của ông Dương Quang
Lê D1 63,53m.
(Có bản trích đo chỉnh sửa thửa đất ký duyệt ngày 30/7/2026 của Trung
tâm Điều tra, đo đạc, quy hoạch tài nguyên Nông Lâm N5 kèm theo).
Buộc bị đơn ông Dương Quang T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
bà Dương Thị Khánh L lấp hào, rãnh đã đào và nhổ bỏ các cây ông T1, bà L đã
trồng trên phần đất trên, trả lại đất cho nguyên đơn bà Dương Thị T và chấm dứt
hành vi lấn chiếm thửa đất 434.
Không chấp nhận ý kiến của ông Phan Dương C về việc ông có một phần
đất trong phần đất đang tranh chấp giữa bà T và ông T1.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về phần diện tích 1.081m
2
thuộc thửa 160 của ông Dương Quang T1 và thửa 162 của ông Đinh Ngọc N.
Không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AA 259502 ngày 20/9/2004 của UBND huyện H cấp cho ông Dương
Quang T1 đối với thửa đất 160, diện tích 3.600m
2
, mục đích sử dụng R.Tn.P.
Về chi phí thẩm định, định giá và án phí dân sự sơ thẩm:
Về chi phí thẩm định, định giá đất: Ông T1 phải chịu chi phí thẩm định và
định giá đất là 7.746.000 đồng (Bẩy triệu bẩy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng),
trong đó chi phí đo đạc 5.821.000 đồng (Năm triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn
đồng), chi phí bồi dưỡng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 1.925.000
đồng (Một triệu chín trăm hai mươi năm nghìn đồng). Chi phí này bà T đã thanh
11
toán xong, ông T1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà T số tiền 7.746.000 đồng (Bẩy
triệu bẩy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương
sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 09 tháng 8 năm 2026 Ông Dương Quang T1
có đơn kháng cáo nội dung không nhất trí bản án sơ thẩm, huỷ bản án sơ thẩm,
ngày 10 tháng 8 năm 2026 ông kháng cáo bổ sung, không nhất trí về chi phí tố
tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn, người có quyền lợi liên
quan: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn; người có quyền lợi liên quan: Không nhất trí với những yêu cầu
kháng cáo của bị đơn; Rút một phần yêu cầu khởi kiện (về yêu cầu di rời cây, cột
bê tông…) và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên
tòa, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy
định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết: Căn cứ Điều 299, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn Dương Quang T1, sửa một phần quyết định của Bản án sơ
thẩm số: 97/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao
Bằng theo hướng:
1. Chấp nhận việc bà Dương Thị T tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi
kiện; đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu khởi kiện bà T đã rút.
2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với các thửa 161,
194, tương ứng với phần diện tích nằm trong diện tích 2.554,7m2 được xác định
thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Dương Thị T.
3. Sửa phần quyết định liên quan đến bà Dương Thị Khánh L theo đúng
phạm vi yêu cầu khởi kiện.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, nghe lời trình bày
của các đương sự, ý kiến phát biểu của kiểm sát viên và căn cứ vào kết quả tranh
luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp,
thu thập và giao nộp chứng cứ, thẩm định, và hòa giải, trình tự và thủ tục phiên
tòa sơ thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, được
12
miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
[2]. Xét nội dung đơn kháng cáo và các căn cứ kháng cáo của bị đơn.
Về nội dung vụ án:
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Dương Thị T yêu cầu ông Dương
Quang T1 trả lại thửa đất số 434, tờ bản đồ địa chính số 01, địa chỉ tại xóm M
(cũ), nay là xóm V, xã H cho bà T với diện tích 3.635,7m
2
.
Nhổ tất cả cây keo ông T1 đã trồng trong phạm vi ranh giới thửa đất số 434, tờ
bản đồ số 1; Tháo dỡ toàn bộ cột bê tông do ông T1 đã chôn trên phần đất tranh
chấp.
San lấp hào, rãnh do ông T1 đào trả lại hiện trạng đất rừng ban đầu.
Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông
Dương Quang T1 đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ GĐLN.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng
thửa đất đang tranh chấp do ông được thừa kế từ thời ông cha để lại, quản lý và
sử dụng ổn định, đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất một phần
nhưng phần tranh chấp chưa được cấp giấy CNQSD Đất, trên phần đất tranh chấp
còn có những cây trẩu, do gia đình ông trồng, còn cây keo ông trồng ngoài phạm
vi đất đang tranh chấp.
Căn cứ Sơ đồ trích đo địa chính khu đất ký duyệt ngày 01/7/2026 thể hiện
thửa đất 434 tờ bản đồ số 01 (10-520536) tỷ lệ 1/10.000 năm 2022, có diện tích
3.635,7m
2
, thuộc một phần thửa đất số 160, 161, 162, 194, 328: Tờ bản đồ địa
chính 01 (10-520536+ 520542+514536+514542) tỷ lệ 1/10.000 năm 2006. Thửa
đất 160 đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Dương Quang T1, thửa 161 đã được
cấp GCNQSDĐ cho ông Dương Quang L1; thửa 162 đã được cấp GCNQSDĐ
cho ông Đinh Ngọc N; thửa 194 đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Dương Quang
B; thửa 328 vẫn do UBND xã H quản lý. Tuy nhiên những người sử dụng các
thửa đất 161, 162, 194 xác nhận: Không có tranh chấp với bà Dương Thị T, thực
tế đất hiện nay những người trên sử dụng cũng không tiếp giáp với đất bà T. Đất
tranh chấp hiện nay, trước đây do ông Q sử dụng, sau đó ông Q để lại cho bà
Dương Thị T.
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp:
Nguồn gốc đất tranh chấp: Cả nguyên đơn và bị đơn, những người làm chứng,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thừa nhận nguồn gốc đất khu đồi Tắp
Mu do cụ ông Dương Quanh K3 và cụ bà Hà Thị N2 để lại cho các con, theo dông
đồi từ đỉnh đồi xuống phần đất bên phải để lại cho ông Dương Quang N3 (Bố của
13
ông Dương Quang T1), phần bên trái để lại cho ông Dương Quang K2 (Bố đẻ của
ông Dương Thế Q), phía gần đỉnh đồi vẫn là đất của dòng họ D.
Quá trình quản lý, sử dụng đất:
Nguyên đơn (bà Dương Thị T) cho rằng: Đất tranh chấp do ông bà nội là Dương
Quang K2 và Dương Thị N6 để lại cho bố mẹ bà T là ông Dương Thế Q, bà
Nguyễn Thị T9 quản lý, sử dụng từ năm 1971. Đến ngày 11/5/2013 bố mẹ bà T
giao lại cho bà Dương Thị T trực tiếp quản lý, sử dụng.
Bị đơn (ông Dương Quang T1) cho rằng: Đất tranh chấp là đất của dòng họ D, bà
T là con gái đã đi lấy chồng nên không được hưởng. Nguồn gốc đất thuộc về ông
Dương Quang N3 (bố ông T1) được chia từ thời trước (khoảng năm 1935 - 1940),
sau đó để lại cho ông T1 quản lý. Phần đất của ông T1 đã được cấp GCNQSD đất
tuy nhiên chưa đúng với phần đất của ông T1. Ông T1 được cấp bìa đối với thửa
160, diện tích 3600m
2
, việc cấp này chỉ đúng 1 phần. Ông T1 cũng cho rằng ông
T1 đã sử dụng đúng phần đất ông được cấp GCNQSDĐ.
Lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là
người trong dòng họ đồng thời là chủ sử dụng các thửa đất giáp ranh gồm: ông
Dương Quang P1, ông Dương Quang L1, ông Dương Quang T4 và ông Phan
Dương M (Phan Văn M1) đều xác định: Diện tích đất tranh chấp thực tế do ông
Dương Thế Q sử dụng từ trước, sau đó giao lại cho bà Dương Thị T quản lý, sử
dụng.
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện:
Đối với căn cứ về ranh giới thực địa: Tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất
ngày 17/06/2022 do Công ty TNHH Đ1 lập, xác định ranh giới thửa đất thực địa
của bà Dương Thị T có chữ ký xác nhận của ông Dương Quang T1 với tư cách là
chủ đất giáp ranh. Điều này thể hiện sự thừa nhận của bị đơn đối với ranh giới
quản lý thực tế của nguyên đơn.
Đối với dữ liệu quản lý hành chính và chi trả dịch vụ môi trường rừng: Tại Công
văn trả lời số 223 ngày 05/05/2026 của UBND xã H và Biên bản hòa giải ngày
28/05/2026 thể hiện: Thửa đất số 160 (diện tích 3.600m²) đứng tên quản lý trên
Sổ mục kê là ông Dương Quang T1 và ông T1 là người trực tiếp nhận tiền dịch
vụ môi trường rừng hàng năm đối với thửa 160.
Căn cứ lời khai khách quan của các hộ giáp ranh (Bà H1, ông L1, ông T4) và Biên
bản mô tả ranh giới ngày 17/06/2022 có chữ ký xác nhận của ông T1, có đủ căn
cứ xác định phần diện tích đất tranh chấp nằm ngoài phạm vi thửa 160, có nguồn
gốc hợp pháp do ông Dương Quang K1 để lại cho ông Dương Quang K2, sau đó
ông K2 giao lại cho ông Dương Thế Q, ông Q giao cho bà Dương Thị T quản lý,
sử dụng. Việc ông Dương Quang T1 tự ý đào hào, rãnh, chôn cột bê tông và trồng
14
keo trên phần diện tích này là hành vi lấn chiếm. Như vậy, diện tích đất tranh chấp
thuộc thửa số 434, tờ bản đồ số 01 theo sơ đồ năm 2022 (nằm trong 1 phần các
thửa số 161, 162, 194, 328 theo sơ đồ năm 2006) thuộc quyền quản lý, sử dụng
hợp pháp của bà T;
Đối với phần diện tích đất mà nguyên đơn bà Dương Thị T yêu cầu giải quyết
nhưng nằm trong phạm vi ranh giới thửa đất số 160 và một phần thửa đất 162 đã
được cấp Giấy chứng nhận cho ông Đinh Ngọc N: Mặc dù quy trình cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 cho ông Dương Quang T1 đối với thửa
đất này còn chưa đầy đủ về mặt hồ sơ hành chính, nhưng xét về quá trình sử dụng
đất thực tế cho thấy, ông T1, ông N đã kê khai, quản lý và sử dụng ổn định, liên
tục từ trước năm 2004 cho đến nay (thể hiện rõ tại Sổ mục kê theo Công văn số
223 của UBND xã H) và không có tranh chấp phát sinh trong thời gian dài. Mặt
khác, ông T1 cũng là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ và được hưởng lợi từ
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với thửa đất số 160 qua các năm
(theo xác nhận của Hạt Kiểm lâm).
Từ những phân tích, nhận định trên đây, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn bà Dương Thị T đối với phần diện tích đất thuộc một phần các
thửa 161, 194, 328 và không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Dương Thị T đối với phần diện tích nằm trong phạm vi thửa đất số 160
của ông Dương Quang T1 và thửa 162 của ông Đinh Ngọc N.
Trong phần Toà án cấp sơ thẩm tuyên công nhận cho bà T được quyền quản lý,
sử dụng là không có diện tích đất mà ông Dương Quang T1 đã được cấp giấy
chứng nhận; Ông T1 cho rằng ông quản lý, sử dụng thực tế là không đúng; Thửa
162 ông T1 có giấy chứng nhận nằm trong thửa 434 là 94,4m2. Tuy nhiên, cấp sơ
thẩm không chấp nhận cho bà T diện tích đó. Số diện tích Toà án cấp sơ thẩm
chấp nhận cho bà T sử dụng, quản lý trong đó có 1890,9m2 trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Dương Quang L1 tại thửa 161 và 588,3m2 trong giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Dương Quang B tại thửa 194, cộng với
75,7m2 tại thửa 328 mang tên Ủy ban nhân dân xã H.
Về số diện tích 75,7m2 nằm trong thửa Uỷ ban nhân dân xã đang quản lý. Tuy
nhiên, việc quản lý, sử dụng của người dân là liên tục nên có căn cứ công nhận
quyền quản lý, sử dụng cho người dân là phù hợp. Về diện tích nằm trong giấy
chứng nhận của ông Dương Quang L1 và Dương Quang B (bà H1 đại diện). Tại
các lời khai và phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm ông Dương Quang L1 và Bà Sầm
Thị H1 (vợ ông B đã mất) đều khẳng định: Phần đất tranh chấp giữa ông T1 và bà
T không nằm trong phần đất ông, bà đang quản lý, sử dụng, việc cấp giấy chứng
nhận có sự nhầm lẫn nhất định. Hội đồng xét xử thấy rằng, việc cấp giấy chứng
nhận cho ông L1, ông B là chưa phù hợp và đúng diện tích sử dụng thực tế nên
15
cần huỷ đối với các giấy chứng nhận đó để phù hợp với thực tế quản lý, sử dụng
đất các hộ trên.
Ông Phan Dương C cho rằng phần đất tranh chấp có khoảng 500m
2
là của ông
được ông bà ngoại chia cho, nằm trong phần đất của ông Dương Quang T1 nhưng
không có tài liệu nào chứng minh về quyền quản lý, sử dụng. Đồng thời ông Phan
Dương M (Phan Văn M1) là em trai của ông C cho rằng đất trước đây mượn của
ông Q để trồng sắn, sau này đã trả lại cho bà T và được bà T thanh toán tiền cây
trồng trên đất là 3.000.000 đồng. Vì vậy ý kiến của ông C không có căn cứ và
không phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Sau khi xét xử sơ thẩm
ông C không có kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét kháng cáo của ông T1 về chi phí thẩm định, định giá đất: Ông Dương Quang
T1 là bị đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên
ông T1 phải chịu chi phí thẩm định và định giá đất là 7.746.000 đồng (Bẩy triệu
bẩy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng), trong đó chi phí đo đạc 5.821.000 đồng (Năm
triệu tám trăm hai mươi mốt nghìn đồng), chi phí bồi dưỡng xem xét thẩm định
tại chỗ và định giá tài sản là 1.925.000 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi năm
nghìn đồng). Chi phí này bà T đã thanh toán xong, ông T1 có trách nhiệm hoàn
trả cho bà T số tiền 7.746.000 đồng (Bẩy triệu bẩy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
Do vậy, ông T1 phải chịu là đúng quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử thấy rằng, Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đúng về nội dung và chi
phí tố tụng. Tại phiên toà phúc thẩm đương sự không nộp tài liệu gì thêm để có
thể thay đổi quyết định bản án sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận kháng
cáo của ông Dương Quang T1. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn
kháng cáo. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn có đơn rút yêu cầu
khởi kiện, bị đơn đồng ý việc bà T rút một phần khởi kiện. Hội đồng xét xử sẽ
huỷ quyết định sơ thẩm (về phần rút) và đình chỉ đối với phần rút khởi kiện; Toà
án cấp sơ thẩm tuyên cho bà Dương Thị T được quyền sử dụng đất thuộc một
phần trong giấy chứng nhận của thửa 161 và 194 nhưng không xử lý giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho các hộ ông Dương Quang L1 và Dương Quang
B là thiếu sót. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định sửa một phần quyết
định của bản án sơ thẩm số: 97/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 1- Cao Bằng.
[4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng: Đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của Dương Quang T1. Sửa một phần quyết định của bản án dân
sự sơ thẩm số: 97/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1-
Cao Bằng phù hợp với nhận định, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp
nhận.
16
[5] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của Ông Dương Quang T1 không
được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên,
ông Dương Quang T1 là đối tượng tại khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì vậy, Ông Dương Quang T1 được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 299; khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 148 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 164, Điều 166 và Điều 169 Bộ Luật dân sự;
Điều 12, Điều 131, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 34, Điều 11, Điều 178,
Điều 236 Luật đất đai 2024; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận toàn bộ nội dung đơn kháng cáo của ông Dương Quang
T1. Sửa một phần quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số: 97/2026/DS-ST ngày
31/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cao Bằng.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị T về việc yêu
cầu ông Dương Quang T1 trả lại diện tích 2.554,7m
2
(theo đường nét màu tím trên
sơ đồ) thuộc thửa 434, tờ bản đồ số 01 (10-520536) tỷ lệ 1/10.000 năm 2022,
thuộc một phần thửa đất số 161, 194, 328: Tờ bản đồ địa chính 01 (10-
520536+520542+514536+514542) tỷ lệ 1/10.000 năm 2006 có tứ cận tiếp giáp
như sau: Phía Đông giáp đất của ông Dương Quang B dài 44,4m; Phía Tây giáp
thửa đất 160 của ông Dương Quang T1, từ điểm A đến điểm B dài 50,81m; Phía
Nam giáp đất của dòng họ D dài 49,88m; Phía Bắc giáp đất của ông Dương Quang
Lê D1 63,53m.
(Vị trí, tứ cận diện tích đất trên có bản trích đo chỉnh sửa thửa đất ký
duyệt ngày 30/7/2026 của Trung tâm Điều tra, đo đạc, quy hoạch tài nguyên
Nông Lâm N5 kèm theo- Sơ đồ là một phần của bản án không tách rời).
2. Huỷ đối với diện tích 1890,9m2 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số: AA 259490 của Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ ông Dương Quang
L1, sinh năm: 1962, địa chỉ: M, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng, ngày 20/9/2004,
17
thửa số, 161, diện tích 6300 m2; Huỷ diện tích 588,3 m2 giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số: AA 259495 của Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho hộ
ông Dương Quang B, địa chỉ: M, xã H, huyện H, tỉnh Cao Bằng, ngày 20/9/2004
đối với thửa số 194, diện tích 6800 m2.
3. Huỷ và đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị
đơn ông Dương Quang T1 và bà Dương Thị Khánh L lấp hào, rãnh đã đào và nhổ
bỏ các cây ông T1, bà L đã trồng trên phần đất trên, trả lại đất cho nguyên đơn bà
Dương Thị T và chấm dứt hành vi lấn chiếm thửa đất 434.
4. Về chi phí thẩm định, định giá và án phí phúc thẩm:
Chi phí thẩm định, định giá đất: Ông Dương Quang T1 phải hoàn trả cho
bà Dương Thị T số tiền 7.746.000 đồng (Bẩy triệu bẩy trăm bốn mươi sáu nghìn
đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
dân sự năm 2015.
Án phí phúc thẩm: Ông Dương Quang T1 được miễn án phí dân sự phúc
thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh;
- THADS tỉnh;
- THADS khu vực 1 – Cao Bằng;
- TAND khu vực 1- Cao Bằng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu Toà DS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Vi Khánh Dần
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 63/2026/DS-PT Bản án số 63/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất