Bản án số 108/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 108/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 108/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 108/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 108/2026/DS-PT Bản án số 108/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/DS-PT Bản án số 108/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 108/2026/DSPT
Ngày: 29/9/2026
“V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất và huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy.
Các Thẩm phán: Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn và ông Dương Viết Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều - Thư k Ta án nhân dân tỉnh Quảng
Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số 94/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 9 năm
2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Ta án nhân
dân khu vực 4 - Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 104/2026/QĐ-PT ngày 15
tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn T,
xã Q, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
+ Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963;
địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị; có mặt
2. Đồng bị đơn:
2.1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị;
vắng mặt.
+ Đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị H: Ông Trần Văn T, sinh năm 1968;
địa chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
2
+ Ông Trần Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1977; địa
chỉ: thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị; ông T có mặt, bà T1 vắng mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1968; địa
chỉ: Thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
3.2. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q - Đại diện theo pháp luật: Ông
Nguyễn Văn A - Giám đốc - Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung H2 -Phó
giám đốc (Văn bản ủy quyền số 1684/VPĐKĐĐ, ngày 26/6/2026 của Văn phng
đăng k đất đai tỉnh Q); địa chỉ: Số B, N, phường Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
3.3. Ủy ban nhân dân xã Q, tỉnh Quảng Trị - Đại diện theo ủy quyền tham gia
tố tụng: Ông Nguyễn Văn H3 - Chuyên viên phng Kinh tế (Văn bản ủy quyền số
273/UBND, ngày 05/3/2026 của UBND huyện Q, tỉnh Quảng Trị); vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án v tại phiên tòa nguyên đơn
bà Nguyễn Thị Thanh P v người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn D đều
thống nhất trình by:
Đầu năm 2024, bà P được bố mẹ là ông Nguyễn Văn D, bà Trần Thị H1 tặng
cho quyền sử dụng đất. Ngày 25/7/2024, bà P được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số DO 869390 đối với thửa đất số 1169, tờ bản đồ số 14, diện tích 192,5m²
tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị).
Thửa đất có nguồn gốc từ đất của gia đình ông D, bà H1.
Theo nguyên đơn, ranh giới giữa đất của gia đình ông D, bà H1 với đất của gia
đình bà Trần Thị H, ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị T1 đã được các bên sử dụng ổn
định từ trước; năm 2008 các bên xác định ranh giới và xây dựng hàng rào kiên cố.
Sau khi xây nhà, bà P phát hiện diện tích đất thực tế đang sử dụng lớn hơn diện tích
được cấp Giấy chứng nhận khoảng 50m². Nguyên đơn cho rằng nguyên nhân do quá
trình cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ liền kề đã căn cứ vào
bản đồ địa chính mà không căn cứ đầy đủ vào nguồn gốc, hiện trạng và ranh giới sử
dụng đất thực tế. Vì vậy, bà P yêu cầu:
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BV846136 đối với thửa đất số 516, tờ bản đồ số 14, diện tích 905m²
tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và xác định 38,6m² đất bị cấp chồng lấn
thuộc quyền sử dụng của bà;
3
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn
liền với đất số BV941765 đối với thửa đất số 501, tờ bản đồ số 14, diện tích 373,5m²
tại thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình và xác định 11,5m² đất bị cấp chồng lấn
thuộc quyền sử dụng của bà.
Bị đơn b Trn Thị H, do ông Trn Văn T đại diện theo ủy quyền, trình by:
Thửa đất số 516, tờ bản đồ số 14, diện tích 905m² được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 31/12/2014 và bà H được tặng cho vào năm 2017. Khi gia đình ông
D, bà H1 xây nhà cho bà P, phía bà H phát hiện một phần móng nhà xây chồng lấn
lên đất đã được cấp Giấy chứng nhận của mình. Do đó, bà H không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện, yêu cầu bà P sử dụng đất theo Giấy chứng nhận đã được cấp và tháo
dỡ phần móng nhà 3m² mà bà H cho rằng đã xây lấn sang thửa đất số 516.
Bị đơn ông Trn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Đất của ông bà có
nguồn gốc từ thửa đất số 144, tờ bản đồ số 01 của bố mẹ ông T là ông Trần Văn Đ,
bà Nguyễn Thị L. Năm 2004, ông T, bà T1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa 144b, diện tích 253m²; sau đó được cấp đổi thành thửa đất số 501,
tờ bản đồ số 14, diện tích 373,5m². Theo ông T, năm 2008 gia đình ông D, bà H1 xây
móng, cột, cn gia đình ông xây hàng rào liền kề làm ranh giới; đến năm 2010 gia
đình ông D tiếp tục xây hàng rào phía sau nhưng ông T cho rằng vị trí hàng rào không
phù hợp với ranh giới theo Giấy chứng nhận nên đã phản đối. Ông T cn cho rằng
diện tích đất của gia đình ông D, bà H1 giảm một phần do Nhà nước thu hồi đất để
mở rộng đường và đã được bồi thường. Vì vậy, ông T, bà T1 không chấp nhận yêu
cầu của nguyên đơn đối với diện tích 11,5m² và không đồng  hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đã cấp cho ông bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn D và bà Trn Thị
H1 trình bày: Ông bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà P. Đối với diện tích
11,5m², ông bà xác định phần đất này hiện nằm trong phạm vi sử dụng thực tế của
thửa 1169 của bà P. Trên diện tích này ông bà có xây dựng chuồng chăn nuôi, mái
tôn và hàng rào, sử dụng ổn định từ lâu. Theo ông bà, thửa đất của ông T năm 2004
chỉ có diện tích 253m² nhưng khi cấp đổi năm 2014 thành thửa 501 lại có diện tích
373,5m²; phần diện tích tăng thêm đã chồng lấn vào đất của gia đình ông bà và hiện
trạng đất bà P đang sử dụng. Ông bà đồng  hủy Giấy chứng nhận đối với thửa 501
trong phần có liên quan và tự nguyện tháo dỡ công trình do mình xây dựng trên diện
tích 11,5m² để bảo đảm hiện trạng quyền sử dụng đất của bà P.
4
Bản án sơ thẩm số 65/2026/DS-ST ngy 31/7/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 4 - Quảng Trị quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, 39, Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1
Điều 165 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 100, 168, 170, 188, 202, 203 Luật
đất đai 2013; Điều 235, 236 Luật đất đai 2024; các Điều 175, 176 Bộ Luật dân sự
2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường
vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Ta án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh P về
tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị cấp
chồng lấn.
1.1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BV 846136, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01048 do
UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014 đối với thửa đất số 516, tờ
bản đồ số 14 (nay là tờ bản đồ số 145), diện tích 905m
2
; trong đó có 80m
2
đất ở và
825m
2
đất trồng cây hàng năm khác tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay
là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị) mang tên ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L đã
được chỉnh l sang tên bà Trần Thị H vào năm 2017.
Buộc bị đơn bà Trần Thị H trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh P 38,6m
2
đất
vườn (tính từ các điểm 1-2-3-4-1 trên sơ đồ) tại thửa đất số 516 do bị cấp chồng lấn
lên hiện trạng sử dụng đất trên thực tế đối với thửa đất số 1169, tờ bản đồ số 14 (nay
là tờ bản đồ số 145), diện tích 192,5m
2
(trong đó có 120m
2
đất ở và 72,5m
2
đất trồng
cây hàng năm khác) tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã
Q, tỉnh Quảng Trị) do Văn Phng đăng k đất đai tỉnh Q (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO869390 vào ngày
25/7/2024 mang tên Nguyễn Thị Thanh P.
1.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BV 941765, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 00624 do
UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 10/12/2014 đối với thửa đất số 501, tờ
bản đồ số 14 (nay là tờ bản đồ số 145), diện tích 373,5m
2
; trong đó có 60m
2
đất ở và
313,5m
2
đất trồng cây hàng năm khác tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình
(nay là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị) mang tên ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị
T1.
5
Buộc bị đơn ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 trả lại 11,5m
2
đất vườn
(tính từ các điểm 3-4-5-6-3 trên sơ đồ) tại thửa đất số 501 do bị cấp chồng lấn lên
hiện trạng sử dụng đất trên thực tế đối với thửa đất số 1169, tờ bản đồ số 14 (nay là
tờ bản đồ số 145), diện tích 192,5m
2
(trong đó có 120m
2
đất ở và 72,5m
2
đất trồng
cây hàng năm khác) tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã
Q, tỉnh Quảng Trị) do Văn Phng đăng k đất đai tỉnh Q (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO869390 vào ngày
25/7/2024 mang tên Nguyễn Thị Thanh P.
1.3. Buộc ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H4 phải tháo dỡ, phá bỏ
chuồng trại xây bằng gạch bờ lô, mái lợp tôn, sàn lát xi măng đã xây dựng trên diện
tích 11,5m
2
đất (tính từ các điểm 3-4-5-6-3 trên sơ đồ) để trả lại nguyên hiện trạng
thửa đất cho bà Nguyễn Thị Thanh P tại thửa đất số 1169, tờ bản đồ số 14 (nay là tờ
bản đồ số 145), diện tích 192,5m
2
(trong đó có 120m
2
đất ở và 72,5m
2
đất trồng cây
hàng năm khác) tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là thôn T, xã Q,
tỉnh Quảng Trị) do Văn Phng đăng k đất đai tỉnh Q (nay là tỉnh Quảng Trị) cấp
GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DO869390 vào ngày
25/7/2024 mang tên Nguyễn Thị Thanh P.
1.4. Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền về quản l đất đai để thực hiện việc chỉnh l, biến động kê khai quyền
sử dụng đất theo đúng hiện trạng sử dụng đất được mô tả chi tiết theo biên bản xem
xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo vẽ ngày 25/3/2026 kèm theo là một phần không
thể tách rời của bản án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm cn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của đương sự.
Nội dung kháng cáo của đương sự: Ngày 10/8/2026, bị đơn ông Trần Văn T
và bà Nguyễn Thị T1 có đơn kháng cáo đề nghị Ta án cấp phúc thẩm giải quyết:
Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề
nghị cấp phúc thẩm sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, vì cho rằng việc cấp sơ thẩm hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa 501 và xác định 11,5m² đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà P là
không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát
biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án và quan điểm giải quyết
vụ án như sau:
6
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về
việc yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bà Nguyễn Thị Thanh P.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Ta
án nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị.
Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của các đương sự
và đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1.1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T và bà
Nguyễn Thị T1 được làm trong thời hạn luật định, người kháng cáo có quyền kháng
cáo và đã thực hiện thủ tục kháng cáo theo quy định nên được xem xét theo trình tự
phúc thẩm.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu xác định quyền sử dụng đối
với phần đất cho rằng bị Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ liền kề cấp
chồng lấn, yêu cầu trả lại đất và xử l Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có liên
quan. Ta án cấp sơ thẩm xác định đây là tranh chấp quyền sử dụng đất gắn với yêu
cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thụ l, giải quyết là phù hợp với yêu
cầu khởi kiện.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Mặc dù ông T, bà T1 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm, nhưng căn cứ
nội dung đơn kháng cáo, l do kháng cáo tập trung vào việc cho rằng Ta án cấp sơ
thẩm không có căn cứ khi xác định diện tích 11,5 m² đất thuộc quyền sử dụng của bà
Nguyễn Thị Thanh P; từ đó hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với
thửa đất số 501 mang tên ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị T1 và buộc trả lại diện
tích đất này cho nguyên đơn. Người kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm đánh giá chứng
cứ thiếu khách quan, chưa xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ và yêu
cầu Ta án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các nội dung kháng cáo nêu trên
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.1] Xét nguồn gốc và quá trình hình thành các thửa đất:
7
Thửa đất số 1169 hiện do bà Nguyễn Thị Thanh P đứng tên có nguồn gốc từ
thửa đất số 143, tờ bản đồ số 01 theo bản đồ giải thửa 299 lập năm 1991, được quy
chủ cho cụ D1, B là bố, mẹ ông Nguyễn Văn D. Thửa đất này qua nhiều lần biến
động, tách, nhập và chỉnh l; ngày 25/7/2024 bà P được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa số 1169, diện tích 192,5 m² do nhận tặng cho từ ông Nguyễn
Văn D, bà Trần Thị H1.
Thửa đất số 501 của ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị T1 có nguồn gốc từ thửa
đất số 144, được quy chủ cho cụ Trần Văn Đ. Năm 2004, cụ Đ tách 253 m² trong
thửa đất số 144 cho ông T; ngày 29/7/2004, cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông T đối với thửa 144b, diện tích 253 m². Năm 2014
khi cấp đổi thành thửa đất số 501, diện tích được xác định là 373,5 m² (tăng 120,5
m² so với diện tích được cấp năm 2004).
[2.2] Về hiện trạng và ranh giới sử dụng đất thực tế:
Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ ngày 25/3/2026, thửa đất số
1169 do bà Nguyễn Thị Thanh P đứng tên Giấy chứng nhận có diện tích theo giấy là
192,5 m² nhưng diện tích sử dụng thực tế là 242,6 m² (tăng 50,1 m²). Trong đó có
38,6 m² nằm trong phạm vi thửa đất số 516 theo Giấy chứng nhận đã cấp cho bà H
và 11,5 m² nằm trong phạm vi thửa đất số 501 theo Giấy chứng nhận đã cấp cho ông
T, bà T1 (được giới hạn bởi các điểm 3-4-5-6-3 theo sơ đồ).
Hồ sơ thể hiện ranh giới giữa các thửa đất số 1169, 501 và 516 là hàng rào xây
bằng táp lô, dài khoảng 29,94 m. Theo lời trình bày của ông Nguyễn Văn D, hàng
rào này được hai gia đình xác định làm ranh giới và xây dựng từ năm 2008, tồn tại
ổn định cho đến nay. Khi thực hiện các thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận vào năm
2014, hiện trạng ranh giới thực tế này đã tồn tại.
[2.3] Về thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 144b sang
501 năm 2014:
Thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 501 cho
ông T, bà T1, cơ quan chuyên môn đã tiến hành kiểm tra hiện trạng và lập biên bản
mô tả ranh giới, mốc giới. Tuy nhiên, khi xác định diện tích để cấp đổi lại căn cứ vào
bản đồ địa chính được phê duyệt năm 2015 mà không đối chiếu đầy đủ với ranh giới
thực tế đã được các hộ sử dụng ổn định và thể hiện tại biên bản xác định ranh giới
dẫn đến năm 2014 sau khi cấp đổi diện tích tăng thêm 120,5m
2
. Trong khi đó, hồ sơ
không thể hiện có giao dịch, tặng cho hoặc căn cứ pháp l khác làm phát sinh thêm
quyền sử dụng của ông T, bà T1 đối với phần 11,5 m² đang tranh chấp. Do đó, việc
11,5 m² hiện được thể hiện nằm trong phạm vi thửa số 501 trên Giấy chứng nhận cấp
8
năm 2014 không có căn cứ để xác định diện tích này thuộc quyền sử dụng hợp pháp
của ông T, bà T1.
Mặt khác, đối tượng khởi kiện của bà P là phần quyền sử dụng đất mà bà cho
rằng đã bị các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho các hộ liền kề chồng lấn
lên diện tích mình đang sử dụng. Sau khi Ta án xem xét, thẩm định tại chỗ và đo
vẽ, phần diện tích chồng lấn được xác định cụ thể, trong đó có 11,5 m² nằm trong
phạm vi Giấy chứng nhận thửa đất số 501 của ông T, bà T1.
[3] Xét kháng cáo đối với việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số
501:
Như đã phân tích trên, có đủ căn cứ xác định việc cấp đổi Giấy chứng nhận đối
với thửa đất số 501 năm 2014 đã không phản ánh chính xác ranh giới, diện tích sử
dụng đất thực tế, được thể hiện trên Giấy chứng nhận chồng lấn 11,5 m² với phần đất
thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.
Vì vậy, việc Ta án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà P, xử l Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T, bà T1 để bảo đảm việc xác lập lại quyền
sử dụng đất theo đúng ranh giới, hiện trạng thực tế là có căn cứ.
Tuy nhiên, phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà Trần Thị H trả
lại 38,6 m² và buộc ông Trần Văn T, bà Nguyễn Thị T1 trả lại 11,5 m² là chưa phù
hợp với hiện trạng. Kết quả thẩm định xác định cả hai phần đất này hiện đều nằm
trong phạm vi bà P đang quản l, sử dụng; các bị đơn không trực tiếp chiếm giữ để
buộc giao trả. Bản chất tranh chấp là xác định quyền sử dụng đối với phần đất bị
Giấy chứng nhận của các thửa liền kề thể hiện chồng lấn. Vì vậy, cần điều chỉnh cách
tuyên theo hướng công nhận bà Nguyễn Thị Thanh P có quyền sử dụng 38,6 m² và
11,5 m² nêu trên. Việc điều chỉnh này không làm thay đổi kết quả giải quyết về quyền
sử dụng đất của bà P.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về việc
yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của bà Nguyễn Thị Thanh P.
9
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2026/DS-ST ngày 31/7/2026 của Ta
án nhân dân khu vực 4 - Quảng Trị.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh P về
tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
do bị cấp chồng lấn.
1.1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BV 846136, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 01048 do
UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 31/12/2014 đối với thửa đất số 516, tờ
bản đồ số 14 (nay là tờ bản đồ số 145), diện tích 905m
2
; trong đó có 80m
2
đất ở và
825m
2
đất trồng cây hàng năm khác tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay
là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị) mang tên ông Trần Văn Đ và bà Nguyễn Thị L đã
được chỉnh l sang tên bà Trần Thị H vào năm 2017.
Công nhận bà Nguyễn Thị Thanh P có quyền sử dụng diện tích 38,6 m² đất
vườn, giới hạn bởi các điểm 1-2-3-4-1 theo sơ đồ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
và đo vẽ ngày 25/3/2026; diện tích này nằm trong phạm vi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp đối với thửa đất số 516.
1.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BV 941765, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH: 00624 do
UBND huyện Q, tỉnh Quảng Bình cấp ngày 10/12/2014 đối với thửa đất số 501, tờ
bản đồ số 14 (nay là tờ bản đồ số 145), diện tích 373,5m
2
; trong đó có 60m
2
đất ở và
313,5m
2
đất trồng cây hàng năm khác tại Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình
(nay là thôn T, xã Q, tỉnh Quảng Trị) mang tên ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị
T1.
Công nhận bà Nguyễn Thị Thanh P có quyền sử dụng diện tích 11,5 m² đất
vườn, giới hạn bởi các điểm 3-4-5-6-3 theo sơ đồ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
và đo vẽ ngày 25/3/2026; diện tích này nằm trong phạm vi Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp đối với thửa đất số 501.
2. Các quyết định của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng nhưng được trừ vào biên lai tạm nộp án
phí phúc thẩm số 0000446 ngày 11 tháng 8 năm 2026. Ông T, bà T1 đã nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
10
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 4 - Quảng Trị;
- Cơ quan THADS KV4;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Hoài Thuỷ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 108/2026/DS-PT Bản án số 108/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/DS-PT Bản án số 108/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất