Bản án số 789/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 789/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 789/2026/DS-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 789/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông H khởi kiện yêu cầu Nguyễn Tứ H1 trả lại phần đất 36.576m² thửa đất số 12, 27, 31 tờ bản đồ số 6, toạ lạc ấp F L, xã B, huyện T và huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà P với anh H1; hủy Giấy chứng nhận đứng tên Nguyễn Tứ H1.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 789/2026/DS-PT Bản án số 789/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 789/2026/DS-PT Bản án số 789/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 789/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 9 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền
Các Thẩm phán: Bà Giang Thị Cẩm Thúy
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Thũy là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Huỳnh Diễm Lệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 29 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 523/2026/TLPT-DS
ngày 20 tháng 8 năm 2026 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 223/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 680/2026/QĐ-PT ngày 26 tháng 8
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1947.
Số CCCD: ************, cấp ngày 18/01/2023.
Địa chỉ: Ấp I, xã T, tỉnh Cà Mau (Địa chỉ cũ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà
Mau).
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm
1972, ( văn bản ủy quyền ngày 19/4/2023), (có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 20/8/2021.
Địa chỉ: Tổ I, Khu phố B, xã A, tỉnh An Giang (Địa chỉ cũ: Tổ B, khu phố B,
thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang).
Chỗ ở hiện nay: Ấp C, xã V, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tứ H1, sinh năm 1989 (có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 25/12/2021.
Địa chỉ: Ấp I, xã T, tỉnh Cà Mau, (Địa chỉ cũ: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau).
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Lê Anh T, thuộc
Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/01/1986 (xin vắng).
Số CCCD: ************, cấp ngày 18/01/2023.
Địa chỉ: Ấp I, xã T, tỉnh Cà Mau.
2/ Ông Nguyễn Hoàng B (vắng).
Địa chỉ: Ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau
3/ Chị Lê Thị N, sinh năm 1989 (vợ ông H1, có mặt).
Số CCCD: ************, cấp ngày 22/02/2024.
4/ Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Cà Mau (vắng).
Địa chỉ: Ấp A, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo:
Ông Nguyễn Văn H, là nguyên đơn
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn, ông Nguyễn Văn D trình bày:
Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị X chung sống với nhau trước năm
1972, có hai người con là Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn D; ông H và bà X ly hôn.
Khoảng năm 1985 - 1986, ông H chung sống với bà Huỳnh Thị P (không đăng ký
kết hôn), có hai con chung tên Nguyễn Thị S và Nguyễn Tứ H1; trước khi chung
sống với bà P thì khoảng năm 1983, ông H nhận sang nhượng hai thửa đất khoảng
27 công tầm lớn toạ lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau từ ông L, sang nhượng
không làm giấy tờ; ông L đã chết, tuy nhiên có một số người biết việc ông H sang
đất của ông L.
Khi nhà nước có chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy
chứng nhận), nên vào năm 1993 ông H làm thủ tục kê khai và năm 1995 bà Huỳnh
Thị P được cấp Giấy chứng nhận, diện tích là 36.576m², thửa đất số 12, 27, 31, tờ
bản đồ số 6. Bà P lấy Giấy chứng nhận và cất giữ vì tin tưởng nên ông không kiểm
tra Giấy chứng nhận.
Đến năm 2015, khi anh Nguyễn Tứ H1 lập gia đình vợ chồng ông H bà P đã
lớn tuổi cho nên giao phần đất nói trên cho anh H1 canh tác. Năm 2019 bà P chết;
năm 2020, ông H tính chia đất cho các con riêng thì H1 không đồng ý vì cho rằng
phần đất bà P đã làm hợp đồng tặng cho H1 vào năm 2015 và H1 đã được cấp Giấy
chứng nhận nên không đồng ý trả lại đất cho ông H, từ đó phát sinh tranh chấp. Việc
tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà P với H1 thì ông H không biết. Do đó, ông H
khởi kiện yêu cầu Nguyễn Tứ H1 trả lại phần đất 36.576m² thửa đất số 12, 27, 31 tờ
bản đồ số 6, toạ lạc ấp F L, xã B, huyện T và huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng
đất giữa bà P với anh H1; hủy Giấy chứng nhận đứng tên Nguyễn Tứ H1.
3
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Nguyễn Tứ H1 trình bày:
Khi bà Huỳnh Thị P còn sống, bà P có nói phần đất đang tranh chấp là bà P
mua của người khác, khi đó chị em của H1 còn nhỏ nên không nhớ nhận chuyển
nhượng của ai, vào năm nào. Sau khi nhận chuyển nhượng mẹ và cha ông là ông
Nguyễn Văn H cùng canh tác. Sau đó, bà P làm Giấy chứng nhận đứng tên Huỳnh
Thị P. Đến năm 2015, bà P làm hợp đồng tặng cho anh H1 phần đất. Khi đến Uỷ ban
nhân dân (UBND) xã B để ký hợp đồng tặng cho đất thì cha ruột là ông Nguyễn Văn
H chở bà Huỳnh Thị P, còn H1 chở vợ đi. Ngày 16/04/2015, anh H1 được UBND
huyện T cấp Giấy chứng nhận diện tích 36.576m², thửa đất số 12, 27, 31 tờ bản đồ
số 6.
Ngoài ra, ông Nguyễn Văn H cũng có phần đất do ông Nguyễn Văn H đứng
tên. Năm 2018, ông H cũng đã ký hợp đồng tặng cho anh H1 phần đất có diện tích
trên 25.000m² và anh H1 cũng đã được chỉnh lý biến động trang 4, phần đất này
không có tranh chấp. Trước và sau năm 2015 cho đến nay vợ chồng H1 sống chung
với ông H. Vợ chồng Hải sản xuất trên 02 phần đất. Đến năm 2023, do các anh chị
em cùng cha, khác mẹ yêu cầu ông H lấy lại phần đất 36.576m² để chia cho các anh
chị em khác thì mới phát sinh tranh chấp. Nay anh H1 xác định phần đất trên đã
được tặng cho hợp lệ nên ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị N và Nguyễn Thị S trình
bày: Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của anh H1. Đối với Nguyễn Thị S có yêu
cầu vắng mặt suốt quá trình Tòa án các cấp giải quyết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 223/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau đã quyết định:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà ông Nguyễn Văn H đối
với ông Nguyễn Tứ H1 về việc trả lại diện tích đất theo đo đạc thực tế là 36.482,2m
2
tại thửa số 12, 27 và 31 tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau (theo
bản trích đo hiện trạng do Công ty TNHH Đ, đo vẽ ngày 10/7/2025).
Không chấp nhận yêu cầu của ông H về việc huỷ hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất giữa bà Huỳnh Thị P với Nguyễn Tứ H1.
Không chấp nhận yêu cầu của ông H về việc huỷ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số BY589584 đứng tên Nguyễn Tứ H1.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
theo luật định.
Ngày 10 tháng 7 năm 2026, ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ
thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông Nguyễn Văn H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng
cáo. Căn cứ kháng cáo: Phần đất tranh chấp do ông H nhận chuyển nhượng từ ông
4
L vào khoảng năm 1983, thời điểm này chưa chung sống với bà P; việc bà P đứng
tên Giấy chứng nhận thì ông H cũng không để ý, vì thời điểm làm Giấy chứng nhận
thì ông H cũng đứng tên một phần đất là tài sản chung, đất này ông H và bà P đã
tặng cho H1, còn thửa đất bà P đứng tên thì ông H để sản xuất lo cho cuộc sống của
ông H, việc bà P lập thủ tục tặng cho H1, ông H không biết. Hiện tại ông H đã lớn
tuổi, chỉ còn phần đất để có thu nhập cho cuộc sống chứ ông không thể sống chung
với vợ chồng H1.
- Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Không đồng ý với kháng cáo của ông H, vì phần đất do bà P mua, bà P đứng tên
Giấy chứng nhận, đây là tài sản riêng của bà P, nên bà tặng cho ông H1 là hợp pháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định
của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ
của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận
một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm; đất tranh chấp
là tài sản chung của ông H và bà P; chia cho ông H ½ diện tích đất tranh chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm;
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn H nộp trong thời hạn luật định, hợp
lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo,
[2.1] Liên quan đến phần đất tranh chấp, theo Bản trích đo hiện trạng ngày
10/7/2025 thể hiện kết quả đo đạc thực tế ký hiệu ở các thửa 1,2,3 có tổng diện tích
là 36.482,2m
2
. Và theo Bản trích đo hiện trạng ngày 25/9/2026, được ký hiệu tại các
thửa 1,2,3,4 có tổng diện tích là 36.497,1m
2
. Phần đất này bà Huỳnh Thị P đứng tên
Giấy chứng nhận được cấp năm 1995, bà P lập hợp đồng tặng cho anh H1 quyền sử
dụng đất; vào ngày 16/04/2015, Nguyễn Tứ H1 được UBND huyện T cấp Giấy
chứng nhận diện tích 36.576m², thửa đất số 12, 27, 31 tờ bản đồ số 6 tọa lạc ấp F,
xã B, huyện T (nay là ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau).
[2.2] Đối với kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử
xem xét các vấn đề sau:
2.2.1- Theo như lời khai của anh Nguyễn Tứ H1 thì không xác định chính xác ông
H, bà P chung sống từ năm nào; theo lời trình bày của ông H, thì ông H và bà P
chung sống với nhau từ khoảng năm 1985, lời khai này của ông H là có căn cứ, bởi
vì con chung của ông bà tên Nguyễn Thị S, sinh ngày 01/01/1986 (được thể hiện ở
Căn cước công dân); do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh
5
Thị P được pháp luật công nhận là vợ chồng, được quy định tại Nghị quyết số
35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội quy định về Luật Hôn nhân và
Gia đình năm 2000.
2.2.2- Xem xét về nguồn gốc đất: Anh H1 trình bày, đất do bà P mua, nhưng
mua năm nào, của ai thì không biết. Về phía ông H khai, đất ông nhận chuyển
nhượng từ ông L vào năm 1983, là thời điểm trước khi chung sống với bà P, qua xác
minh thể hiện đúng như lời trình bày của ông H. Tuy nhiên, ông H và bà P quản lý,
canh tác trên phần đất từ khi sống chung với nhau cho đến khi bà P chết (năm 2015),
sau đó thì ông H sống cùng với vợ chồng anh H1 và ông H cùng H1 tiếp tục canh
tác. Thời điểm được cấp Giấy chứng nhận năm 1995, là thời điểm tồn tại hôn nhân
của ông H và bà P, bà Huỳnh Thị P đứng tên Giấy chứng nhận, chứng tỏ ông H thừa
nhận bà P có quyền đối với tài sản; theo quy định Luật Đất đai năm 1993, quyền sử
dụng đất của vợ chồng không bắt buộc vợ chồng cùng đứng tên. Theo Điều 27 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định về tài sản chung của vợ chồng, trong
trường hợp không có chứng cứ chứng minh là tài sản mà vợ chồng đang có tranh
chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung. Đối chiếu với quy
định này, thì phần đất đang tranh chấp là tài sản chung của ông Nguyễn Văn H và
bà Huỳnh Thị P.
2.2.3- Theo ông H trình bày, ông và bà P có chung thửa đất diện tích khoảng
30.000m
2
do ông H đứng tên Giấy chứng nhận, thửa đất này đã tặng cho H1; còn
phần đất tranh chấp của ông để dưỡng già, nhưng năm 2015, bà P lập hợp đồng tặng
cho H1, ông H không biết và ông H không đồng ý việc tặng cho; như phân tích trên,
quyền sử dụng đất là tài sản chung của ông H và bà P, việc bà P tặng cho anh H1
toàn bộ là không đúng quy định, mà bà P chỉ có quyền tặng cho ½ diện tích đất. Vì
vậy, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có diện tích 34.690m
2
giữa bà Huỳnh Thị
P và Nguyễn Tứ H1 vô hiệu một phần; vì bà P chỉ có quyền tặng cho H1 ½ diện tích
đất, đối với ½ diện tích đất thuộc quyền của ông H; do đó, hủy một phần hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất.
2.2.4- Do hủy một phần hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, cho nên yêu
cầu của ông H về việc hủy Giấy chứng nhận đứng tên Nguyễn Tứ H1 được chấp
nhận; tuy anh H1 được quyền sử dụng ½ diện tích đất, nhưng Hội đồng xét xử hủy
toàn bộ Giấy chứng nhận để thuận tiện trong việc cấp lại Giấy chứng nhận và cũng
phù hợp với văn bản hướng dẫn của Bộ T2, nếu hủy một phần Giấy chứng nhận thì
gặp khó trong việc cấp lại Giấy chứng nhận.
[3] Từ nhận định trên, chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa
một phần bản án sơ thẩm theo hướng ông Nguyễn Văn H được chia ½ diện tích đất.
Theo kết quả đo đạc thực tế thể hiện ở Trích đo hiện trạng ngày 25/9/2026, được ký
hiệu tại các thửa 1, 2, 3, 4 có tổng diện tích là 36.497,1m
2
, ông H được nhận ½ diện
tích bằng 18.241,5m
2
ở thửa đất ký hiệu số 1, 3, 4; buộc anh Nguyễn Tứ H1 giao
cho ông H diện tích đất này. Phần đất của anh Nguyễn Tứ H1 ký hiệu ở thửa đất ký
hiệu số 2 có diện tích 18.255,6m
2
.
[3] Về chi phí tố tụng
6
- Tại cấp sơ thẩm: chi phí đo đạc, định giá tổng số tiền 45.281.600đ; do yêu
cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, vì vậy, nguyên đơn và bị đơn mỗi
người chịu ½, ông H đã nộp đủ, anh H1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho ông H
22.641.000đ (làm tròn). Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán phải chịu lãi suất theo
quy định.
- Tại cấp phúc thẩm: chi phí Biên tập Bản Trích đo hiện trạng, nguyên đơn
chịu, đã nộp đủ.
[4] Về án phí dân sự
Bị đơn không phải chịu.
Nguyên đơn, ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi được miễn án phí dân sự
sơ thẩm không giá ngạch và án phí có giá ngạch; án phí dân sự phúc thẩm ông H
không phải chịu.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H; sửa bản
án dân sự sơ thẩm số: 223/2026/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 – Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H.
- Hủy một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị P và
anh Nguyễn Tứ H1 lập ngày 13 tháng 3 năm 2015 đối với thửa đất theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số D 0679927, diện tích 34.690m
2
đất tọa lạc tại ấp F L, xã B,
huyện T, tỉnh Cà Mau, (nay là ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau).
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY589584, thửa đất số 12, 27, 31
tờ bản đồ số 6, diện tích 36.576m
2
đất tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau,
(nay là ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau) do Nguyễn Tứ H1 đứng tên được Ủy ban nhân dân
huyện T (cũ) cấp ngày 16/4/2015.
- Phần đất thể hiện ở Bản trích đo hiện trạng ngày 25/9/2026 của Công ty TNHH
Đ có kết quả đo đạc thực tế được ký hiệu tại các thửa 1, 2, 3, 4 có tổng diện tích là
36.497,1m
2
là tài sản chung của ông Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị P. Giao cho ông
Nguyễn Văn H ½ diện tích đất bằng 18.241,5m
2
được ký hiệu ở các thửa 1, 3, 4 tọa lạc
tại ấp F L, xã B, tỉnh Cà Mau.
Buộc anh Nguyễn Tứ H1 giao cho ông Nguyễn Văn H diện tích đất 18.241,5m
2
nêu trên.
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 25/9/2026 của Công ty TNHH Đ).
7
Ông Nguyễn Văn H và anh Nguyễn Tứ H1 có quyền liên hệ với Cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật.
3. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn mỗi bên chịu ½; ông Nguyễn Văn
H đã nộp đủ; anh Nguyễn Tứ H1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn H số
tiền 22.641.000 đồng (làm tròn).
Kể từ ngày ông H có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền. Trường hợp anh
H1 chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật dân sự.
4. Về án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H được miễn án
phí theo quy định. Anh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 4, 7, 8, 34, 36 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật thi hành án
dân sự.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 2 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hiền
8
THÀNH VIÊN HĐXX PHÚC THẨM
Giang Thị Cẩm Thúy – Đinh Cẩm Đào
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hiền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 789/2026/DS-PT Bản án số 789/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 789/2026/DS-PT Bản án số 789/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất