Bản án số 247/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 247/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 247/2026/HS-PT ngày 30/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 247/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn B, Lang Văn C và Lương Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2026/HSST, ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 247/2026/HS-PT Bản án số 247/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 247/2026/HS-PT Bản án số 247/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 247/2026/HS-PT
Ngày: 30 - 9 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr và bà Nguyễn Thị Nhung
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Vương Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 209/2026/TLPT-HS ngày 24/8/2026
đối với các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn B, Lang Văn C và Lương Văn T do
có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2026/HSST,
ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lang Văn H, sinh năm 2003 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 12 (nay là
thôn 5), xã EB, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Con ông
Lang Văn Th và bà Lương Thị Di; Vợ: Lương Thị H1, có 02 con, lớn nhất sinh
năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự, tiền án: Không; Bị áp dụng biện pháp
tạm giam từ ngày 11/9/2025 đến ngày 15/01/2026 thì thay đổi sang biện pháp Bảo
lĩnh; Có mặt tại phiên tòa.
2. Lương Văn B, sinh năm 2004 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 11 (nay
là thôn 5), xã EB, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn:
10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam;
Con ông Lương Văn K (đã chết) và bà Ngân Thị L; Chưa có vợ con; Tiền sự, tiền
án: Không; Bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 11/9/2025 đến ngày
15/01/2026 thì thay đổi sang biện pháp Bảo lĩnh; Có mặt tại phiên tòa.
3. Lang Văn C, sinh năm 2000 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 11 (nay là
thôn 5), xã EB, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Con ông
Lăng Văn S và bà Ngân Thị T1; Chưa có vợ con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Nhân thân: Ngày 06/11/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 02 năm 06
2
tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo Bản án số 281/2020/HS-PT, chấp hành
xong hình phạt tù ngày 10/01/2023; Bị tạm giam từ ngày 02/01/2026 đến nay; Có
mặt tại phiên tòa.
4. Lương Văn T, sinh năm 2001 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn 11 (nay
là thôn 5), xã EB, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm
nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam;
Con ông Lương Văn Q và bà Đinh Thị C1; Vợ: Lê Thị H1, có 03 con, lớn nhất
sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2026; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giam từ
ngày 02/01/2026 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lê Văn Th1, sinh năm 1989; Trú tại: Thôn 8, xã ES, tỉnh Đắk
Lắk (vắng mặt).
- Người bào chữa cho các bị cáo:
1. Ông Hoàng Văn C2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp
pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk (bào chữa cho bị cáo Lang Văn C và Lương Văn
T). Có mặt.
2. Bà Hoàng Thị Th2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp
lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk (bào chữa cho bị cáo Lang Văn H và Lương Văn B).
Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 26/02/2025, sau khi hát Karaoke tại quán
Karaoke Grammy (số 22 đường Lê Hồng Phong, thôn Đoàn Kết, xã ES, tỉnh Đắk
Lắk), nhóm của Lương Văn B, Lương Văn T, Lang Văn C, Lang Văn H và Vi
Văn N ra quầy tính tiền thì xảy ra to tiếng, xích mích với Lê Văn Th1 cùng Trần
Ngọc Q1 và một người tên Q2. Sau đó, nhóm của Hồng đi xe ô tô đến quán cơm
Bắc tại đường Nguyễn Du, thôn Hòa Bình, xã ES để ăn tối.
Khi đang ngồi trước quán cơm, thấy nhóm của Lê Văn Th1 cầm theo vật giống
cây sắt tìm đến, bị cáo Lang Văn H đã đứng dậy cầm ghế nhựa xông ra đường
đánh nhau với anh Th1. Cùng lúc đó, Lương Văn B mở cốp xe ô tô lấy 01 con dao
dài khoảng 50cm, Lang Văn C cầm 01 con dao dài khoảng 70cm, còn Lương Văn
T cầm 01 khẩu súng cồn tự chế dài khoảng 50cm chạy ra hỗ trợ. Lương Văn T
đứng phía sau xe ô tô bắn 02 phát (không trúng ai) nhằm hỗ trợ tinh thần cho đồng
phạm. Lang Văn H cầm ghế nhựa đánh vào người anh Th1 làm anh Th1 ngã xuống
đường. Tiếp đó, Lương Văn B và Lang Văn C dùng dao chém nhiều nhát từ trên
xuống vào người anh Lê Văn Th1 và dùng chân đạp làm anh Th1 gục tại chỗ.
Thấy anh Th1 bị gục, H vứt ghế nhựa chạy lại giật lấy khẩu súng cồn từ tay T cất
vào cốp xe rồi gọi B và C lên xe ô tô rời khỏi hiện trường. Anh Lê Văn Th1 được
đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế huyện ES và chuyển điều trị tại Bệnh viện TH.
3
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
211/KLTTCT-PY, ngày 17/3/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận:
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Lê Văn Th1 là 18% (gồm: vết thương đỉnh đầu
2%, vết thương cổ - ngực trái 3%, vết thương vai phải 2%, vết xây xát cẳng tay
2% và nứt sọ trán đỉnh hai bên 10%). Vật tác động là vật sắc và vật tày, cứng, có
cạnh.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn B, Lang Văn C
và Lương Văn T đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí điều trị và các khoản
thiệt hại khác cho anh Lê Văn Th1 với tổng số tiền 130.000.000 đồng. Anh Th1
đã nhận đủ tiền, làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho cả 04 bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2026/HSST, ngày 17/7/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lang Văn H,
Lương Văn B, Lang Văn C và Lương Văn T phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự:
− Xử phạt bị cáo Lang Văn H: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
− Xử phạt bị cáo Lương Văn B: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù.
− Xử phạt bị cáo Lang Văn C: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
− Xử phạt bị cáo Lương Văn T: 03 (ba) năm tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, miễn án phí hình sự
sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Kháng cáo của các bị cáo:
− Ngày 20/7/2026 và ngày 27/7/2026, các bị cáo Lang Văn C và Lương Văn
T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
− Ngày 28/7/2026, các bị cáo Lang Văn H và Lương Văn B có đơn kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và
không cung cấp thêm tình tiết mới.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu tại phiên tòa phúc
thẩm: Kiểm sát viên phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân
của từng bị cáo. Nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội,
áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ và xử phạt mức án tương xứng. Do đó, đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của 04 bị cáo, giữ nguyên bản án
sơ thẩm và miễn án phí hình sự phúc thẩm cho các bị cáo.
4
Người bào chữa cho các bị cáo Lương Văn T và Lang Văn C đề nghị áp dụng
Điều 54 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo; cho bị cáo Tiến được hưởng án
treo, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo Chung do các bị cáo có nhiều
tình tiết giảm nhẹ, ăn năn hối cải; bị cáo Tiến là lao động chính, nuôi 03 con nhỏ.
Người bào chữa cho các bị cáo Lang Văn H và Lương Văn B đề nghị áp dụng
Điều 54 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo, cho các bị cáo được hưởng án
treo do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn,
không có sự chuẩn bị từ trước; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh
gia đình khó khăn và nơi cư trú rõ ràng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định
như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo
Lang Văn H, Lương Văn B, Lang Văn C và Lương Văn T được gửi trong thời hạn
luật định, nội dung và hình thức đơn phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332
và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình. Lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện
trường, kết luận giám định thương tích, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng
các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Có đủ căn cứ xác định: Do mâu thuẫn
bộc phát, các bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (dao, ghế nhựa, súng
cồn tự chế) tấn công gây thương tích cho anh Lê Văn Th1 với tỷ lệ tổn thương cơ
thể là 18%. Vì vậy, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk xét xử các bị cáo Lang
Văn H, Lương Văn B, Lang Văn C và Lương Văn T về tội "Cố ý gây thương tích"
theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người,
đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức
khỏe của người khác, thể hiện thái độ xem thường pháp luật và gây mất an ninh
trật tự tại địa phương. Các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm bộc phát, sử
dụng nhiều hung khí nguy hiểm cùng lúc tấn công bị hại.
− Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lang Văn C: Bị cáo Chung
là người trực tiếp dùng con dao dài 70cm chém vào người bị hại làm gục tại chỗ.
Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 06/11/2020, đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
xử phạt 02 năm 06 tháng tù cũng về tội "Cố ý gây thương tích", chấp hành xong
ngày 10/01/2023. Bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội
5
cố ý gây thương tích. Mức án 03 năm 06 tháng tù mà cấp sơ thẩm tuyên đối với
bị cáo Chung là đúng tính chất, mức độ hành vi và nhân thân, không có căn cứ để
giảm nhẹ.
− Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lương Văn T: Bị cáo T
cầm khẩu súng cồn tự chế bắn 02 phát tại hiện trường nhằm uy hiếp và giúp sức
về mặt tinh thần cho các bị cáo khác chém bị hại. Mức án 03 năm tù cấp sơ thẩm
áp dụng đối với bị cáo T là mức thấp nhất và đã phân hóa so với các bị cáo khác.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vai trò thứ yếu của bị cáo nên mức án này là hợp
lý, không có cơ sở để giảm nhẹ thêm.
− Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo
Lang Văn H và Lương Văn B:
Bị cáo Lang Văn H là người dùng ghế nhựa đánh bị hại ngã xuống đường. Bị
cáo Lương Văn B là người dùng con dao dài 50cm trực tiếp chém nhiều nhát vào
người của bị hại. Do đó, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời
gian là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xem
xét đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo và tuyên mức án 03 năm
03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả hành vi của các bị báo.
Vì vậy, Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo xin giảm nhẹ và xin hưởng án treo
của bị cáo Hồng và bị cáo B.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn B, Lang
Văn C và Lương Văn T là người dân tộc thiểu số (dân tộc Thái), thuộc hộ nghèo
sinh sống tại xã EB (vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), nên
Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để miễn tiền án phí hình
sự phúc thẩm cho cả 04 bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn B,
Lang Văn C và Lương Văn T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số
57/2026/HSST, ngày 17/7/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đắk Lắk.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo:
6
− Xử phạt bị cáo Lang Văn H: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Cố ý
gây thương tích". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án,
được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 11/9/2025 đến ngày 15/01/2026.
− Xử phạt bị cáo Lương Văn B: 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội "Cố ý
gây thương tích". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án,
được trừ thời gian đã bị tạm giam từ ngày 11/9/2025 đến ngày 15/01/2026.
− Xử phạt bị cáo Lang Văn C: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý
gây thương tích". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam
02/01/2026.
− Xử phạt bị cáo Lương Văn T: 03 (ba) năm tù về tội "Cố ý gây thương
tích". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 02/01/2026.
3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Miễn tiền án phí hình sự phúc thẩm cho các bị cáo Lang Văn H, Lương Văn
B, Lang Văn C và Lương Văn T.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Công an tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 2 – Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 2 – Đắk Lắk;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ; lưu án văn.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Thuấn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 247/2026/HS-PT Bản án số 247/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 247/2026/HS-PT Bản án số 247/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất