Bản án số 199/2018/HNGĐ-ST ngày 28/06/2018 của TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 199/2018/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 199/2018/HNGĐ-ST ngày 28/06/2018 của TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Gò Công Đông (TAND tỉnh Tiền Giang)
Số hiệu: 199/2018/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/06/2018
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự. Tuyên xử
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
H. GÒ CÔNG ĐÔNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số:199/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 28/6/2018
V/v ly hôn.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Quang
2. Ông Nguyễn Văn Vui
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh
Đại diện viện kiểm sát nhân n huyện Công Đông: Trần Thị Ngọc
Tuyền, kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Công
Đông xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thẩm thsố 431/2018/TLST-
HNGĐ
ngày 20 tháng 12 năm 2017 về việc tranh chấp Xin ly hôn theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xsố 40/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2018
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Lê Thị Mộng K, sinh năm 1979
Đa ch: s D, p B, xã P, huyn B, Thành ph H Chí Minh
Bị đơn: Trƣơng Thái P, sinh năm 1973
Đa ch: Khu ph L, th trn V, huyn G, tnh Tin Giang.
(Các đương s có mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 12 năm 2017 trong quá trình xét xử,
nguyên đơn Lê Thị Mộng K trình bày: Tnguyện kết hôn năm 2003, đăng
kết hôn và được UBND P, huyện B cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi cưới
sống bên gia đình chị đến năm 2014 phát sinh mâu thuẩn do anh thường xuyên
uống rượu về đập phá tài sản trong gia đình. Chị đã làm đơn xin ly hôn tại Tòa án
nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, anh hứa khắc phục sửa đổi
nên chị rút đơn về chung sống lại, nhưng anh không thay đổi, vẫn tiếp tục uống
2
ợu về đập phá tài sản. Khi chị bệnh nằm bệnh viện anh không quan tâm mà bỏ đi
uống rượu. Hôn nhân không hạnh phúc đến tháng 3/2017 anh bỏ vgia đình anh
sống đến nay không gặp trao đổi hàn gắn tình cảm. Nhận thấy tình cảm vợ chồng
không còn nên yêu cầu ly hôn.
Có 01 con chung Trương Ngọc Diễm H sinh ngày 17/9/2003, trước nay sống
với chị, yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Trong quá trình xét xử bị đơn Trương Thái P tnh bày: Thống nhất thời gian,
điều kiện kết hôn nguyên nhân mâu thuẩn như chị K trình bày. Anh uống
rượu về đập phá đồ đạc trong nhà do mổi khi đi làm về đến nhà thấy nhà cữa bề
bộn, không gọn gàng (nhà vợ chồng bán bia), vợ hay cằn nhằn. Chị K xin ly
hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, sau đó rút đơn về sống lại. Khi vợ
bệnh anh có quan tâm hỏi nhưng chị K không trả lời nên anh không quan tâm nữa.
Từ tháng 3/2017 anh bỏ về gia đình anh sống đi làm, về nhà vợ để hàn gắn
nh cảm nhưng không gặp vợ, đến nay không gặp trao đổi tình cảm. Anh nhận
thấy chị K không muốn chung sống với anh nữa, nhưng anh còn thương vợ nên
không đồng ý ly hôn.
Về con chung như chị trình bày, nếu Tòa xử ly hôn anh đồng ý giao con cho
chị trực tiếp nuôi, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mổi tháng 1.000.000 đồng.
Tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn
nhân gia đình xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn, cho chị Thị Mộng K được
ly hôn anh Trương Thái P. Giao con chung tên Trương Ngọc Diễm H sinh ngày
17/9/2003 cho chị K tiếp tục nuôi, ghi nhận anh P tnguyện cấp dưỡng nuôi con
mổi tháng 1.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên a, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc nộp đơn khởi kiện, thụ đơn thẩm quyền giải
quyết của Tòa án đúng quy định; Việc thu thập tài liệu chứng cứ; Thủ tục kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử được thực hiện
đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1] Về hôn nhân, chị Thị Mộng K anh Trương Thái P tnguyện kết
hôn, được UBND P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận
kết hôn số 70 ngày 12/6/2003 hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa anh P hứa sẽ
khắc phục, sửa đổi tính tình đưa ra giải pháp hàn gắn tình cảm để chị về chung
sống, nhưng chị K cương quyết ly n. t nguyên nhân mâu thuẩn do bất đồng
quan điểm sống, anh P thường hay uống rượu về nhà đập phá tài sản gia đình. Chị
3
K đã một lần xin ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy mâu thuẩn trầm trọng. Do anh P hứa khắc phục sửa đổi nên chị
rút đơn về chung sống, nhưng anh vẫn không sửa đổi. Thời gian không chung sống
anh chị không gặp nhau trao đổi hàn gắn tình cảm để mâu thuẩn kéo dài ngày càng
trầm trọng. Xét giải pháp anh P đưa ra để hàn gắn tình cảm không thể thực hiện
được chính anh P cũng đã nhận thấy chị K không muốn chung sống với anh
nữa. Xét thấy mâu thuẩn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời
sống chung không thể kéo dài, sở chấp nhận yêu cầu xin ly n của chị K,
phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về nuôi con chung, xét yêu cầu của chị K anh P về việc nuôi con
chung khi ly hôn phù hợp điều kiện sống, nguyện vọng của con hiện nay. Mặc
chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng anh P tự nguyện cấp
dưỡng nuôi con như trên, phù hợp đạo đức hội quy định tại Điều 81, 82, 83
Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3] Về tài sản chung, nợ chung, ghi nhận đương sự không yêu cầu giải quyết.
Án phí thẩm: ch K phải chịu án phí ly hôn, anh P phải chịu án phí cấp
dưỡng nuôi con theo quy định.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, điểm a
khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Luật thi hành án dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mộng K.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ch Lê Thị Mộng K và anh Trương Thái P.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung Trương Ngọc Diễm H sinh ngày
17/9/2003 cho chị Lê Thị Mng K trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh Trương Thái P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với chị Lê Thị Mộng K
số tiền 1.000.000 đ/tháng (Một triệu đồng một tháng) kể từ khi án hiệu lực
pháp luật cho đến khi cháu Trương Ngọc Diễm H đủ 18 tuổi khả năng lao
động được. Anh Trương Thái P quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi nh án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí thẩm: Chị Lê Thị Mộng K phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm
300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên
lai thu số 45382 ngày 14/12/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Công
Đông, tỉnh Tiền Giang. Anh Trương Thái P phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là
300.000 đồng.
4
Các đương sự quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
n sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
Nơi nhận:
- VKSND huyện GCĐ
- Chi cục THA DS huyện GCĐ
- UBND xã P, huyện B,TP. HCM
- Các đương sự
- Lưu: HS, AV Trần Văn Dũng
Tải về
Bản án số 199/2018/HNGĐ-ST Bản án số 199/2018/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất