Bản án số 277/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 277/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 277/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 277/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 277/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 277/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 277/2026/DS-PT
Ngày 15 - 5 - 2026
“Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị My My, bà Nguyễn Thị Thu Trang;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Mai, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Bà Trần Thị Xuân Linh
Byă - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 13/2026/TLPT-DS ngày
05/02/2026 về việc
“Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản”. Do Bản án số
49/2025/DS-ST ngày 18/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 213/2026/QĐ-
PT ngày 02/4/2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 266/2026/QĐ-PT
ngày 20/4/2026 và Thông báo về việc chuyển lịch phiên tòa xét xử vụ án dân sự
phúc thẩm số 25/2026/TB-TA ngày 06/5/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần C
Người đại diện theo pháp luật:
+ Ông Nguyễn M – chức vụ: Tổng giám đốc công ty C
+ Ông Nguyễn Viết T – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ
phần C
Địa chỉ: Số C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H – chức vụ: Nhân viên
phòng nhân sự pháp chế; Có mặt
Địa chỉ: Số C N, phường T, tỉnh Đắk Lắk
- Bị đơn: Ông Tô Văn H1; Địa chỉ: Thôn A, xã C, tỉnh Đắk Lắk (Cũ là
thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đặng Đình T1, sinh năm
1984; Địa chỉ: Số A H, phường B, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi nhánh N;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Ngọc V – Quyền giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T2, sinh năm 1977 – Phó
giám đốc Chi nhánh N; có mặt.
Địa chỉ: K, quốc lộ A, xã C, tỉnh Đắk Lắk
Do có kháng cáo của bị đơn ông Tô Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn trình bày:
Nông trường cao su N được thành lập theo quyết định số 278/QĐ-UB ngày
14/6/1978 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ trực thuộc Công ty cổ phần C, nông
trường được nhà nước giao diện tích 3.350ha đất theo quyết định số 561/QĐ-UB
ngày 05/8/1978.
Năm 1994 để phát triển kinh tế theo hướng chuyên canh và phát triển các
ngành nghề cũng như tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người lao động
góp phần xóa đói giảm nghèo đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn. Ngày
10/4/1994 nông trường cao su N ban hành quyết định giao đất cho ông Tô Văn
H1 diện tích 0,62ha để trồng cà phê xen cao su liên kết, thời gian là 30 năm,
ngày 10/10/2007 nông trường N và ông Tô Văn H1 ký hợp đồng giao khoán số
09/HĐGK về việc sử dụng đất nông nghiệp trồng cà phê, diện tích 6,0380m
2
(giảm so với quyết định ngày 10/4/1994 là 162m
2
) thời gian giao khoán từ
10/10/2007 đến ngày 10/12/2010, theo quy định tại Điều 4 của hợp đồng, theo
khoản 3.2 Điều 3 của Hợp đồng có quy định: Giao trả lại toàn bộ lô đất và tài
sản trên đất khi thời hạn giao khoán kết thúc mà không được bồi thường giá trị,
diện tích đất giao khoán cho ông Tô Văn H1 trồng cà phê nằm trong tổng thể
diện tích 19.682.900m
2
đất được UBND tỉnh Đ, cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 418221 tại quyết định số 1048/QĐ-UB ngày 18/4/2001, đến năm
2008 UBND tỉnh Đ ban hành quyết định số 2098/QĐ-UBND ngày 19/8/2008,
cấp giấy mới là AM204441.
Theo quyết định giao đất thời hạn sử dụng 30 năm (10/4/1994 đến ngày
10/4/2024) và hợp đồng giao khoán số 09/HĐGK, thời hạn 03 năm (10/10/2007
– 10/12/2010) thì thời hạn sử dụng đất giao khoán của ông Tô Văn H1 đã kết
thúc, mặc dù nông trường N đã nhiều lần mời chủ hộ lên làm việc nhưng yêu
cầu trả lại đất nhưng ông H1 không đồng ý.
Do đó, Công ty cổ phần C đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Tô Văn H1
phải di dời toàn bộ tài sản (các loại cây trồng, công trình…trên đất) hoặc tiêu
hủy đốn hạ, thu gom các loại tài sản và trả lại toàn bộ diện tích đất giao khoán
trồng cà phê theo diện tích đo đạc thực tế của Tòa án,
thuộc thửa đất số 110, tờ
bản đồ số 54, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất AM204441, đất thuộc xã E,
huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã C, tỉnh Đắk Lắk) cho Công ty C để quan lý
đúng quy định pháp luật.
3
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Tô Văn H1 trình bày:
Diện tích đất thực tế mà lô đất tôi đang canh tác trồng cà phê xen tiêu có
diện tích 6.200m
2
nguyên lô đất này trước đây là khu nghĩa địa của đồng bào dân
tộc buôn Aring, năm 1978 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ giao cho liên hiệp xí nghiệp
C1 (nay là công ty cổ phần C) trồng cao su. Song vì cao su trồng trên khu nghĩa
địa cũ của đồng bào nên không sống được do bị nhổ bỏ, đất trống hoang hóa,
mãi đến năm 1994 thực hiện chỉ đạo của nhà nước cho tận dụng đất đai để phát
triển kinh tế cho cán bộ công nhân viên nên nông trường cao su Phú X mới cho
làm và liên kết, gia đình tôi mới làm hợp đồng giao nhận khoán cà phê.
Đối với hợp đồng được ký kết năm 2007 thì công ty và tôi chưa thanh lý
hợp đồng cũ, còn đối với cây trồng cao su thì thời gian từ năm 1979 đến năm
1994 công ty để đất hoang hóa, lúc đó tôi trồng cây lương thực ngắn ngày, đến
năm 1995 thì UBND tỉnh có chủ trương cho phát triển kinh tế thì công ty mới
giao khoán đất cho tôi.
Đối với bản đồ hiện trạng mà công ty cung cấp thì không phải là bản đồ
được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp năm 1978.
Nay Công ty cổ phần C khởi kiện thì ý kiến của tôi như sau:
- Xin được tiếp tục thực hiện hợp đồng liên kết cà phê để phát triển kinh tế
gia đình chăm lo nuôi dạy con cái vì ngoài diện tích đất này gia đình tôi không
còn mảnh đất nào khác để sản xuất
- Nếu thu hồi thì để nghị đền bù thỏa đáng cho tôi vì tôi đã đầu tư phân
bón, chăm sóc để có vườn cây như hiện nay
- Theo quy định tại Điều 181 luật đất đai năm 2024 thì tôi yêu cầu công ty
trả đất về cho địa phương để địa phương quản lý.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh N – Đại diện theo
ủy quyền ông Hồ Ngọc V: Có đơn từ chối tham gia tố tụng và đề nghị Tòa án
giải quyết vắng mặt tại cấp sơ thẩm: Về nội dung vụ án: Ông V đồng ý với ý
kiến của đại diện Công ty cổ phần C và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại kết quả đo đạc và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài
sản thể hiện: Diện tích đất tranh chấp có diện tích 7.820,8m
2
có tứ cận phía bắc
giáp lô cao su của nông trường; phía nam giáp đường bờ lô; phía đông giáp
đường B; phía tây giáp đất của ông Nguyễn Hữu P.
Tài sản trên đất gồm: 736 cây cà phê (trong đó 247 cây dưới đường dây
điện, 489 cây ngoài hành lang đường điện); 932 cây hồ tiêu (trong đó 300 cây
dưới đường dây điện; 632 cây ngoài hành lang đường điện); 75 cây sầu riêng
Đôna (trong đó 30 cây dưới đường dây điện, 45 cây ngoài hành lang đường
điện); 15 cây bơ ghép; 8 cây cau; 79 cây đinh lăng (trong đó 24 cây dưới hành
lang lưới điện, 55 cây ngoài hành lang lưới điện); 02 cây mãng cầu; 01 căn nhà
rẫy (diện tích 3x3m); 01 giếng nước; hệ thống tưới ngầm ống phi 42 dài 181m;
hàng rào kẽm gai trụ bê tông bao quanh rãy (02 đường kẽm)
4
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 18/11/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần
C.
Chấm dứt Hợp đồng giao khoán sử dụng đất nông nghiệp trồng cà phê số
09/HĐGK ngày 10/10/2007 giữa Nông trường cao su N (nay là Chi nhánh N) và
ông Tô Văn H1
Buộc ông Tô Văn H1 phải di dời hoặc đốn hạ toàn bộ cây trồng trên đất, hệ
thống tưới, nhà rẫy, hàng rào và trả lại diện tích đất 7.820.8 m
2
tại xã C, tỉnh Đắk
Lắk cho Chi nhánh N – Công ty Cổ phần C thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số
54, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 204441 ngày 19/8/2008 của Ủy
ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho Nông trường cao su N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và tuyên
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/11/2025, bị đơn ông Tô Văn H1 kháng cáo
toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 49/2025/DS-ST, ngày 18/11/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 – Đắk Lắk, lý do Bản án sơ thẩm giải quyết chưa khách
quan, toàn diện; Quyết định của cấp sơ thẩm không phù hợp với quy định pháp
luật; Các yêu cầu của nguyên đơn được cấp sơ thẩm chấp nhận không có căn cứ
pháp lý và chứng cứ vững chắc.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên nội dung đơn khởi kiện; bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo; đại diện theo ủy quyền của người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan đồng ý với ý kiến của đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng
dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cho rằng kháng cáo của
bị đơn ông Tô Văn H1 là không có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ
khoản 1 Điều 308 BLTTDS, Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Tô
Văn H1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 18/11/2025 của
Toà án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên:
5
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn làm trong hạn luật định và đã
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Tô Văn H1 và các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 10/4/1994, Nông trường P thuộc Công ty C giao cho ông Tô Văn H1
diện tích đất 0,62 ha tại lô 10-02, CS79 để trồng cà phê xen cao su liên kết, thời
hạn 30 năm. Đến ngày 10/10/2007, Nông trường P thuộc Công ty cổ phần C và
ông H1 tiếp tục ký Hợp đồng giao khoán (sử dụng đất nông nghiệp trồng cà phê)
số 09/HĐGK, theo hợp đồng ông H1 nhận khoán diện tích 6.038 m², gồm: 990
m² tại vườn ươm buôn R và 5.048 m² tại cuối lô 14 CS79 đội 2; thời gian giao
khoán từ ngày 01/10/2007 đến ngày 10/12/2010.
Bị đơn cho rằng phần diện tích đất nằm dưới hành lang đường điện không
thuộc quyền quản lý của Công ty cổ phần C; diện tích nguyên đơn khởi kiện là
8.300 m² là không đúng; đồng thời cho rằng hợp đồng năm 1994 chưa được
thanh lý nên vẫn còn hiệu lực. Tuy nhiên, các ý kiến này không có căn cứ chấp
nhận.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Nông trường Cao su N (nay là Chi
nhánh N) được thành lập theo Quyết định số 278/QĐ-UB ngày 14/6/1978 của
UBND tỉnh Đ và là đơn vị trực thuộc Công ty cổ phần C. Kết quả xem xét, thẩm
định tại chỗ và đối chiếu bản đồ địa chính xác định phần diện tích đất ông H1
đang quản lý, sử dụng thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 54, nằm trong tổng
diện tích 19.682.900 m² đất đã được UBND tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số O 418221 cho Nông trường Cao su N (Nay là chi nhánh N) theo
Quyết định số 1048/QĐ-UB ngày 18/4/2001.
Ngày 19/8/2008, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2098/QĐ-UBND
cho Nông trường Cao su N thuê 18.591.600 m
2
đất và cấp đổi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AM 204441 (thay thế Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số O 418221). Đối chiếu vị trí thửa đất thực tế ông H1 đang quản lý với bản đồ
hiện trạng sử dụng đất của Nông trường Cao su N cho thấy toàn bộ diện tích đất
ông H1 sử dụng đều nằm trong ranh giới diện tích đất đã được Nhà nước giao
cho Nông trường Cao su N quản lý, sử dụng hợp pháp.
Đối với phần diện tích thực tế đo đạc tăng so với diện tích ghi trong hợp
đồng giao khoán, có căn cứ xác định vẫn thuộc quỹ đất do Nông trường Cao su
N quản lý, không phát sinh tranh chấp với các hộ dân liền kề. Nguyên nhân
chênh lệch diện tích là do thời điểm ký hợp đồng các bên chưa tiến hành đo đạc
chính xác. Riêng phần diện tích thuộc hành lang đường điện hiện vẫn nằm trong
diện tích đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 204441 cho
Nông trường P. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định diện tích đất thực tế ông Tô Văn
H1 đang quản lý, sử dụng thuộc quyền quản lý hợp pháp của Chi nhánh N là
7.820,8 m².
Theo Hợp đồng giao khoán số 09/HĐGK ngày 10/10/2007, thời hạn giao
khoán đã hết vào ngày 10/12/2010. Tại khoản 3.2 Điều 3 của hợp đồng quy định
6
nghĩa vụ của bên nhận khoán là: “Giao trả lại toàn bộ lô đất và tài sản trên đất
khi thời hạn giao khoán kết thúc mà không được bồi thường giá trị...”.
Xét thấy việc giao kết hợp đồng giữa các bên được thực hiện trên cơ sở tự
nguyện, nội dung và hình thức phù hợp quy định pháp luật. Sau khi hết thời hạn
giao khoán, ông H1 không thực hiện nghĩa vụ giao trả đất theo thỏa thuận là vi
phạm nghĩa vụ của bên nhận khoán theo quy định tại Điều 511 Bộ luật Dân sự
năm 2005 và Điều 493 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Tô Văn H1 trả lại diện
tích đất 7.820,8 m² thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 54 theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AM 204441 cấp ngày 19/8/2008 cho Chi nhánh N là có
căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với yêu cầu buộc Công ty cổ phần C bồi thường giá trị tài sản trên đất:
Như đã phân tích ở trên, hợp đồng giao khoán đã hết thời hạn từ ngày
10/12/2010 và các bên đã thỏa thuận rõ về việc bên nhận khoán phải giao trả đất
cùng tài sản trên đất mà không được bồi thường giá trị. Tại cấp sơ thẩm, người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn không đồng ý yêu cầu bồi thường của bị đơn
nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này là phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên, kháng cáo của ông Tô Văn H1 không có căn
cứ chấp nhận.
[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Tô Văn H1. Giữ nguyên bản
án sơ thẩm số 49/2025/DS-ST ngày 18/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3
- Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; Điều
266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 501, 503, 505, 506, 507, 508, 511 Bộ luật dân sự
năm 2005; các Điều 483; 485; 493 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ
phần C.
- Chấm dứt Hợp đồng giao khoán sử dụng đất nông nghiệp trồng cà phê
số 09/HĐGK ngày 10/10/2007 giữa Nông trường cao su N (nay là Chi nhánh N)
và ông Tô Văn H1. Buộc ông Tô Văn H1 phải di dời hoặc đốn hạ toàn bộ cây
trồng trên đất, hệ thống tưới, nhà rẫy, hàng rào và trả lại diện tích đất 7820.8 m
2
7
tại xã C, tỉnh Đắk Lắk cho Chi nhánh N – Công ty Cổ phần C thuộc thửa đất số
110, tờ bản đồ số 54, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 204441 ngày
19/8/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cấp cho Nông trường cao su N.
[2]. Về chi phí tố tụng: Ông Tô Văn H1 phải chịu 8.000.000 đồng tiền chi
phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Công ty Cổ phần C
được nhận lại số tiền 8.000.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp sau khi thu
được từ ông Tô Văn H1.
[3]. Về án phí: Ông Tô Văn H1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự
sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ 300.000 đồng
mà ông H1 đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai 0004915, ngày
27/11/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Công ty Cổ phần C không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm
ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2024/0008061 ngày
07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk (nay
là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Đắk Lắk).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND tối cao; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 3 – Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 3; (Đã ký)
- Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyễn Thị Nhung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng