Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 19/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 19/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 19/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cao Bằng |
| Số hiệu: | 19/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/03/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chia di sản thừa kế |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 19/2025/DS-PT
Ngày: 05-3-2025
V/v chia di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
- Thnh phn Hi đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngôn Ngọc Viên
Các Thẩm phán: Bà Tô Thị Thuỳ Ngân
Bà Nguyễn Thị Vân Khánh
- Thư ký phiên to: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao
Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên to: Bà
Luyện Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm
2024 về việc Chia di sản thừa kế.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 40/2025/QĐ-PT ngày 10
tháng 02 năm 2025; Thông báo hoãn phiên toà số 39/TB-TA ngày 24 tháng 02 năm
2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ 7, phường S,
thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Hoàng Lệ T1, sinh năm 1976; Địa
chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
2
2. Bị đơn: Hoàng Thị H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN,
huyện H, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Trần Ngọc L, sinh năm 1994; Địa chỉ:
Tổ 16, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Văn bản uỷ quyền ngày
27/02/2025) (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hoàng Thị Tr, sinh năm 1966; Địa chỉ: Xóm ĐH, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Bà Hoàng Lệ T1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
- Chị Nông Thị Thúy K, sinh năm 1990; Địa chỉ tạm trú: Số nhà 009, tổ 03,
phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng ; Nơi thường trú: Xóm GC, xã LC, huyện
H, tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
- Chị Nông Thị Bích N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số nhà 002, tổ 02, phường
NX, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Chị Lục Thị Lan H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn A, xã TH, huyện BĐ,
tỉnh Đăk Lăk (Vắng mặt);
Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ 7,
phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Văn bản ủy quyền ngày 06/7/2021) (Có
mặt)
- Chị Lục Thị Huyền Tr, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh
Bình Phước;
Đại diện theo ủy quyền: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ 7,
phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Văn bản ủy quyền ngày 30/9/2020) (Có
mặt)
- Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1963; Địa chỉ: Phố C, xã C, huyện Q, tỉnh Cao
Bằng (Có mặt);
- Anh Hoàng Việt V1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện
H, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
Đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Việt V1: Bà Hoàng Thị H, sinh năm
1979; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng (Văn bản ủy quyền
ngày 15/4/2022); (vắng mặt)
Bà Hoàng Thị H uỷ quyền cho bà Trần Ngọc L tham gia tố tụng (Có mặt)
3
- Anh Lục Văn D, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 7, phường D, thành phố C,
tỉnh Cao Bằng (đã chết).
Người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của anh Lục Văn D:
+ Chị Lục Thị Lan H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn A, xã TH, huyện BĐ,
tỉnh Đăk Lăk (Vắng mặt);
+ Chị Lục Thị Huyền Tr, sinh năm 1988; Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh
Bình Phước (Vắng mặt);
- Bà Tô Thị H; sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm BN, xã Th, huyện H, tỉnh Cao
Bằng (Vắng mặt);
- Bà Thẩm Thị H2; sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm Đ, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Bà Nông Thị Ỏ; sinh năm 1956; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Đại diện Cửa hàng xe máy TR: Ông Lôi Thanh G, sinh năm 1979; Địa chỉ:
Tổ 14, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Bà Khoảng Thị K2; sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm N3, thị trấn TN, huyện
HL, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Bà Lục Thị Hoan; sinh năm 1965; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Chị Phùng Thị Phương T3; sinh năm 1990; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN,
huyện H, tỉnh Cao Bằng (Vắng mặt);
- Ông Cao Văn C2, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ 7, phường S, thành phố C,
tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
- Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1971; Địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H,
tỉnh Cao Bằng (Có mặt).
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Hoàng Thị
T: Luật sư Nguyễn Thị Th2, luật sư Trần Thị T3 - Văn phòng Luật sư Nguyễn Thị
Th2; Địa chỉ: Tổ 10, phường NX, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị Tr, bà
Hoàng Thị V và bà Hoàng Lệ T1: Ông Nông Văn D2 - Trợ giúp viên pháp lý
thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
4
6. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị H: Ông
Nông Văn S2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước
tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
7. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Hoàng Việt V1: Bà
Hoàng Thị L - Luật sư cộng tác viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước
tỉnh Cao Bằng (Có mặt);
8. Người làm chứng:
- Ông Hoàng Doãn L, sinh năm 1948;
- Ông Khoảng Văn L, sinh năm 1953;
Cùng địa chỉ: Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng (Những người
làm chứng đều vắng mặt).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hoàng Thị T; Bị đơn bà Hoàng Thị H;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: anh Hoàng Việt V1, chị Nông Thị Thuý
K2, chị Nông Thị Bích N, bà Hoàng Lệ T1;
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng kháng nghị,
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/12/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án
tại cấp sơ thẩm nguyên đơn bà Hoàng Thị T trình bày: Bố mẹ đẻ của bà Hoàng Thị
T là ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M. Ông S2 và bà M sinh được 07 người
con: Con nhứ nhất là Hoàng Thị D, sinh năm 1960 (chết năm 2021), có 03 con là
Lục Thị Huyền Tr, Lục Thị Lan H và Lục Văn D (đã chết); con thứ hai là Hoàng
Thị V, sinh năm 1963; con thứ ba là Hoàng Thị Tr, sinh năm 1966; con thứ tư là
Hoàng Thị T, sinh năm 1968; con thứ năm là Hoàng Thị T4, sinh năm 1970 (đã
chết năm 2004); con thứ sáu là Hoàng Văn B, sinh năm 1973 (đã chết năm 2017),
vợ là Hoàng Thị H; con thứ bảy là Hoàng Lệ T1, sinh năm 1976. Ông S2 và bà M
không có vợ, chồng, con đẻ, con riêng nào khác. Bà M chết năm 2018 không để lại
di chúc, Ông S2 chết năm 2010 có để lại di chúc. Hiện nay toàn bộ di sản của Ông
S2 bà M để lại bà Hoàng Thị H đang quản lý và sử dụng. Di sản Ông S2 bà M để
lại gồm:
- Thửa đất số 175 diện tích 211,5m2 tờ bản đồ số 16-5 tại Phố HL, thị trấn
TN, huyện H, tài sản trên đất có 01 ngôi nhà cấp IV và dãy cửa hàng ki ốt.
- Thửa đất số 190 có diện tích 222,7m2 tờ bản đồ số 16-5 tại Phố HL, thị
trấn TN, huyện H và tài sản trên đất có 01 ngôi nhà cấp IV.
5
- Thửa đất số 49, tờ bản đồ số 18-5, diện tích 658,0m2 là đất trồng lúa tại
NL, xóm ĐH, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 627,3m2 là đất trồng lúa tại
NB, xóm ĐH, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 389,3m2 là đất trồng lúa tại
PH, xóm ĐH, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 21-5 diện tích 434,2m2 là đất trồng lúa tại
BP, xóm ĐĐ, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 56, tờ bản đồ 17-5, diện tích 764,3m2 tại LM, Xóm ĐH, thị
trấn TN, đã được Nhà nước thu hồi diện tích 449,3m2 để xây trụ sở làm việc Chi
cục Thuế huyện H, diện tích còn lại là 315m2.
- Thửa đất số 193, tờ bản đồ 19-5, diện tích 244,1m2 là đất ở tại Phố HL, thị
trấn TN, huyện H. Hiện cửa hàng xe máy Trường Giang đang thuê mặt bằng.
- Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 152,0m2 là đất trồng cây
hàng năm khác tại ĐC, xóm ĐĐ, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 2.553,4m2 là đất trồng cây
hàng năm khác tại ĐC, xóm ĐĐ, thị trấn TN, huyện H.
- Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 635,4m2 là đất trồng cây hàng
năm khác tại PP, xóm ĐĐ, thị trấn TN, huyện H.
- 01 cái ao cá đằng sau nhà của bà Hoàng Thị H đang ở.
Nay bà T yêu cầu Tòa án: Xác định về tính hợp pháp của tờ “di chúc Hoàng
Văn S2 năm 2009”; Chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật và chia bằng
hiện vật; Yêu cầu bà Hoàng Thị H công khai toàn bộ giấy tờ liên quan đến đất đai
của Ông S2 và bà M để lại. Về yêu cầu phản tố của bị đơn Hoàng Thị H và người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Việt V1, bà T không nhất trí và không
chấp nhận.
Giữ yêu cầu khởi kiện về chia di sản thừa kế. Đối với yêu cầu chia 01 cái ao
theo đơn khởi kiện mà trước đây anh Hoàng Văn B đã bán nên không yêu cầu xem
xét nữa, tuy nhiên đối với 02 cái ao là các thửa đất số 191, 192 cùng tờ bản đồ 16-
5, mỗi ao có diện tích gần 40m2 theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thì vẫn
yêu cầu chia thừa kế. Về bản di chúc của ông Hoàng Văn S2 là không hợp pháp
nên yêu cầu chia toàn bộ di sản thừa kế của Ông S2, bà M theo pháp luật, chia
thành 07 kỷ phần cho những người con còn sống thì trực tiếp nhận, còn những
người nào chết thì các con được hưởng thừa kế thế vị và yêu cầu được chia bằng
6
hiện vật. Về lợi tức là số tiền cho thuê các ki ốt nếu bị đơn không yêu cầu về tính
công sức bảo quản, giữ gìn di sản và thanh toán mai táng phí cho Ông S2 bà M thì
nguyên đơn cũng không yêu cầu chia số tiền lợi tức mà có thể đối trừ các khoản
này cho nhau.
Theo đơn phản tố và trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn
Hoàng Thị H thống nhất cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn
trình bày: Ông S2 và bà M là bố mẹ chồng. Ông S2, bà M có 07 người con là chị
D, chị V, chị Tr, chị T, chị T2, anh B và cô T1. Chị Huyên là vợ của anh B, là con
dâu của Ông S2, bà M. Bà M chết năm 2018 không để lại di chúc, Ông S2 chết
2010 có để lại di chúc chia di sản cho vợ chồng Bình, Huyên và cháu Vương quản
lý và sử dụng. Nay bà T có yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ chồng để lại bà
Huyên không nhất trí, vì bố mẹ chồng đã chia tài sản cho các con gái lúc còn sống.
Lúc bố mẹ chồng ốm đau chỉ một mình chăm sóc, anh B đã chết năm 2017, không
có ai giúp đỡ chị Huyên. Toàn bộ giấy tờ về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
hợp đồng thuê ki-ốt và bản di chúc hiện nay chị Huyên đang giữ. Ông S2 giao di
chúc cho chị Huyên trước khi chết 02 tháng, trước khi giao ông có nói với chị
Huyên là hương khói cho ông. Sau khi bố mẹ chồng chết cả gia đình đã họp chia di
sản thừa kế một lần nhưng không thống nhất được. Nay bà Hoàng Thị T yêu cầu
chia di sản thừa kế chị Huyên không nhất trí. Ngày 09/01/2023, chị Huyên có đơn
khởi kiện phản tố đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan cụ thể:
Thứ nhất, chia tài sản chung của hộ gia đình theo quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình và Bộ luật dân sự về chia tài sản chung trong trường hợp vợ,
chồng sống chung với gia đình nhà chồng. Di sản thừa kế hiện nay của Ông S2 và
bà M là tài sản chung của hộ gia đình gồm 05 thành viên có Hoàng Thị H, anh
Hoàng Văn B, con trai Hoàng Việt V1, Ông S2, bà M gồm: Đất ở tại thị trấn
Thanh Nhật 02 thửa là thửa số 190 và thửa số 175 cùng tờ bản đồ 16-5; Đất trồng
cây hàng năm khác có 03 thửa là thửa số 106 và thửa số 115 cùng tờ bản đồ 22-5,
thửa số 75 tờ bản đồ số 21-5; Đất trồng lúa có 04 thửa là thửa số 49, tờ bản đồ số
18-5, thửa số 137, tờ bản đồ số 21-5, thửa số 36 và thửa số 50 cùng tờ bản đồ 19-5.
Những tài sản trên đã được đăng ký quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình và
được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung của
hộ gia đình không phải Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng của vợ, chồng
Ông S2 và bà M.
Thứ hai, chia di sản thừa kế của ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M theo
quy định của pháp luật thừa kế, trong đó xác định Ông S2 đã chết có để lại di chúc.
Thứ ba, yêu cầu được chia một phần công sức quản lý di sản trong khối di
sản của Ông S2 và bà M cho bà Hoàng Thị H theo quy định của pháp luật.
7
Tại phiên toà, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
tự nguyện và đồng ý thoả thuận đối trừ giữa phần công sức quản lý di sản của bị
đơn và yêu cầu chia lợi tức có được T việc cho thuê di sản của nguyên đơn. Nay có
hai yêu cầu đó là: Thứ nhất, chia tài sản chung của hộ gia đình theo quy định của
Luật hôn nhân và gia đình và Bộ luật dân sự về chia tài sản chung trong trường hợp
vợ chồng sống chung với gia đình nhà chồng; thứ hai, chia di sản thừa kế của Ông
S2, bà M theo quy định của pháp luật về thừa kế, theo đó Ông S2 đã chết có để lại
di chúc. Đề nghị Hội đồng xét xử chia phần di sản của Ông S2 để lại theo di chúc
và theo pháp luật, cụ thể: Bà Hoàng Thị H và cháu Hoàng Việt V1 được hưởng
toàn bộ phần di sản của ông Hoàng Văn S2 để lại theo di chúc. Phần di sản thừa kế
của bà Triệu Thị M được hưởng phần di sản của Ông S2 bằng hai phần ba suất của
một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật theo quy định
tại Điều 644 Bộ luật dân sự 2015.
Tại biên bản bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa sơ thẩm những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Hoàng Thị
V, Hoàng Thị Tr, Hoàng Lệ T1, Nông Thị Bích N, Nông Thị Thúy K đều yêu cầu
được chia di sản thừa kế theo pháp luật, yêu cầu chia bằng hiện vật và đều cho rằng
bản di chúc là không hợp pháp.
Theo đơn phản tố và trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Việt V1 trình bày: Ông S2 viết di chúc để lại toàn
bộ tài sản cho cha mẹ và anh, nên anh không đồng ý chia tài sản. Ngày 09/01/2023,
anh Vương có đơn khởi kiện phản tố đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
như sau:
Thứ nhất, yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình theo quy định của Luật
đất đai, Bộ luật dân sự về chia tài sản chung của hộ gia đình theo phần để xác định
phần quyền của các đồng sử dụng trong khối tài sản chung;
Thứ hai, chia di sản thừa kế của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M theo
quy định của pháp luật thừa kế, theo đó xác định Ông S2 đã chết có để lại di chúc;
Thứ ba, tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay
ngày 03/3/1995 giữa Ông S2 với bà Hoàng Thị T và ông Cao Kiên Cường; hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 11/12/2001 giữa Ông S2 cho
bà Hoàng Lệ T1 và ông Đặng Văn Q; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
viết tay ngày 31/10/2006 cho bà Hoàng Thị Tr và ông Hoàng Quang Phổ vô hiệu
một phần (phần bà Triệu Thị M không trực tiếp tham gia hợp đồng, không được bà
M định đoạt trong hợp đồng vô hiệu) và đưa phần quyền sử dụng đất của bà M bị
tuyên bố vô hiệu vào khối di sản chung để chia thừa kế theo quy định của pháp
luật.
8
Do anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H là hai mẹ con, hiện sống chung
hộ gia đình nên anh Vương với bà Huyên nhất trí cùng hưởng chung phần di sản
thừa kế của Ông S2, bà M để lại và cùng liên đới thanh toán giá trị chênh lệch cho
các đồng thừa kế khác theo quy định.
Trong các ngày 10 và 11/01/2024, Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét,
thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Kết quả như sau:
- Thửa đất số 175, tờ bản đồ số 16-5, diện tích 211,5m
2
, loại đất ở đô thị,
địa
chỉ tại: Phố HL, thị trấn TN, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp thửa 167; phía Nam
giáp chợ cũ Hạ Lang; phía Đông giáp thửa 176; phía Tây giáp đường giao thông đi
xã Vinh Quý. Về vị trí, tứ cận và diện tích đúng theo bản đồ địa chính và Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M.
Thửa đất có giá trị là 617.495.400 đồng. Hiện trạng sử dụng đất tách thành 06 lô ki
ốt cho thuê kinh doanh bán hàng, cụ thể:
+ Lô 01 giáp lô 02 được bà Lục Thị Hoan thuê để kinh doanh quán cà phê
Củ Hành, có chiều rộng mặt tiền hướng nam khoảng 6,38m, chiều sâu hướng tây
khoảng 7,8m.
+ Lô 02: Vị trí liền kề lô 01 và giáp lô 3, được bà Khoảng Thị K2 thuê (có
chiều rộng mặt tiền khoảng 05m, chiều sâu khoảng 08m).
+ Lô 03: Vị trí tiếp giáp lô 02 và lô 04, được bà Phùng Thị Phương Thuý
thuê (có chiều rộng mặt tiền khoảng 03m, chiều sâu khoảng 08m).
+ Lô 04: Vị trí tiếp giáp lô 03 và lô 05, được bà Nông Thị Ỏng thuê (có
chiều rộng mặt tiền khoảng 03m, chiều sâu khoảng 08m).
+ Lô 05: Vị trí tiếp giáp lô 04 và lô 06, được bà Tô Thị H thuê (có chiều
rộng mặt tiền khoảng 03m, chiều sâu khoảng 08m).
+ Lô 06: Vị trí tiếp giáp thửa đất và nhà ông Lục Quang Tỵ và giáp lô 05,
được bà Tô Thị H thuê (có chiều rộng mặt tiền khoảng 03m, chiều sâu khoảng
08m).
Các lô 01, 02 là căn nhà cấp 4 cũ của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M
trước đây cùng các con ở, nay chia thành 02 gian ki ốt cho thuê, một bên là quán cà
phê Củ Hành (lô số 01), một bên là quán hàng của chị Phùng Thị Phương Thuý
thuê (lô số 2). Các lô 03, 04, 05 và 06 là các gian hàng ki ốt cho thuê có diện tích
và kết cấu gần giống nhau, đều lợp mái tôn, tường xây gạch ngăn cách, có tấm tôn
ngăn cách và cửa cuốn sắt. Giá trị tài sản trên thửa đất số 175 gồm: Lô số 1 (Quán
Củ Hành) là 323.236.320 đồng và Lô số 2 (4 lô ki ốt) là 139.109.520 đồng.
9
- Thửa đất số 193, tờ bản đồ 16-5, diện tích 244,1m
2
, loại đất ở đô thị,
địa chỉ
tại: Phố HL, thị trấn TN, tên gọi theo tiếng địa phương là Nà Pác Keo (Tẩu Háng),
có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp
thửa đất 186 của hộ gia đình bà Hoàng Lệ T1; phía Đông giáp thửa 260 của hộ gia
đình bà Hoàng Lệ T1; phía Tây giáp suối. Hiện bà Hoàng Thị H đang cho Cửa
hàng xe máy Trường Giang thuê mặt bằng kinh doanh, tài sản trên đất có 01 nhà
cấp 4, xây tường gạch bao quanh, mái tôn, cửa sắt do Cửa hàng xe máy Trường
Giang xây dựng. Giá trị của thửa đất là 712.674.360 đồng.
+ Thửa 186 tờ bản đồ 16-5, diện tích là 137,4m
2
,
loại đất ở đô thị, địa chỉ
Phố HL, thị trấn TN, huyện H, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị
Hoa; Phía Nam giáp thửa 190, tờ bản đồ số 16-5 của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu
Thị M; Phía Tây giáp thửa 193 tờ bản đồ 16-5, cửa hàng xe máy Trường Giang
đang thuê; Phía Đông giáp thửa 190 của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M. Hiện
nay trên thửa đất có 01 ngôi nhà cấp 4 của gia đình bà Hoàng Lệ T1, xây dựng T
năm 1996, một bên lợp mái tôn, một bên lợp pờ rô xi măng. Giá trị của thửa đất là
401.153.040 đồng.
- Thửa 191, tờ bản đồ 16-5, diện tích là 40,1m
2
, là loại đất nuôi trồng thuỷ
sản (ao), địa chỉ Phố HL, thị trấn TN, huyện H. Trên bản đồ địa chính đo thì thửa
191, tờ bản đồ 16-5 nằm trong thửa 190, tờ bản đồ 16-5. Chưa đăng ký kê khai
quyền sử dụng đất. Giá trị của thửa đất là 1.764.400 đồng.
- Thửa số 192, tờ bản đồ 16-5, diện tích 42,6m
2
, loại đất nuôi trồng thuỷ sản
(ao), địa chỉ Phố HL, thị trấn TN, huyện H, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa
260; Phía Nam giáp thửa 225; Phía Tây giáp thửa 223 (bể xử lý nước thải thị trấn
Thanh Nhật); Phía Đông giáp thửa 190 của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M.
Chưa đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Giá trị của thửa đất là 1.874.400 đồng.
- Thửa đất số 121, tờ bản đồ số 17-5, diện tích 288m
2
, địa chỉ đất tại: Đoỏng
Hoan, thị trấn Thanh Nhật, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị
Hoa; phía Nam giáp đường dân sinh và thửa 183 của ông Hoàng Văn Đồng; phía
Đông giáp đường dân sinh; phía Tây giáp thửa 134 của gia đình ông Lý Văn
Dương. Hiện trên thửa đất có nhà cấp 4 do gia đình bà Hoàng Thị Tr xây dựng,
trong đó 01 một phần diện tích nhà và đất là của gia đình bà Hoàng Thị Tr đang ở
xây dựng T năm 2000, 01 phần diện tích đất bà Tr đã bán cho Trung tâm thiết bị
văn phòng Thái Hà tại huyện H, đại diện là anh Nguyễn Văn Hưng. Giá trị của
thửa đất là 1.049.596.200 đồng
-Thửa đất số 120, tờ bản đồ 17-5, diện tích 161,1 m
2
là loại đất ở đô thị, địa
chỉ đất tại: Đoỏng Hoan, thị trấn Thanh Nhật, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao
thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa 123 (đất ao) của ông Tài; phía Tây giáp
10
thửa 106, tờ bản đồ 17-5 của gia đình ông Hoàng Văn Thái; phía Đông giáp thửa
đất số 154 của gia đình ông Phùng Văn Coóng, trên đất có 01 nhà cấp 4, hiện bà T,
ông Cường đang cho anh Triệu Văn Thọ thuê để làm cửa hàng sửa xe máy. Giá trị
của thửa đất là 470.347.560 đồng
-Thửa đất số 154, tờ bản đồ 17-5, diện tích 176,7 m
2
, là loại đất ở đô thị, địa
chỉ đất tại: Đoỏng Hoan, thị trấn Thanh Nhật, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao
thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 121 của bà Hoàng Thị Tr; phía
Tây giáp thửa 120 của gia đình bà T, ông Cường và thửa 123 (đất ao của ông Tài);
phía Đông giáp thửa đất số 155, tờ bản đồ 17-5 của gia đình bà Thẩm Thị H2. Giá
trị của thửa đất là 515.893.320 đồng.
-Thửa số 155, tờ bản đồ 17-5, diện tích 114 m
2
, là loại đất ở đô thị, địa chỉ
đất tại: Đoỏng Hoan, thị trấn Thanh Nhật, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao
thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 121 của bà Hoàng Thị Tr; phía
Tây giáp thửa 154 của ông Phùng Văn Coóng; phía Đông giáp thửa đất số 134 của
gia đình ông Lý Văn Dương. Giá trị của thửa đất là 332.834.400 đồng.
-Thửa số 134, tờ bản đồ 17-5, diện tích 114,6 m
2
, là loại đất ở đô thị, địa chỉ
đất tại: Đoỏng Hoan, thị trấn Thanh Nhật, có tứ cận: Phía Bắc giáp đường giao
thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 121 của bà Hoàng Thị Tr phía
Tây giáp thửa 155 của bà Thẩm Thị H2; phía Đông giáp thửa đất số 121 hiện trạng
là Cửa hàng phô tô Thái Hà đã mua với bà Hoàng Thị Tr. Giá trị của thửa đất là
334.586.160 đồng.
- Thửa đất số 49, tờ bản đồ số 18-5, diện tích 658,0m
2
, là đất trồng lúa, địa
chỉ: Nà Luống, Xóm ĐH, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía
Bắc giáp thửa 149; phía Nam giáp thửa đất số 60 và thửa đất số 59; phía Tây giáp
thửa đất số 51; phía Đông giáp thửa đất số 48. Hiện nay thửa đất này đã được Nhà
nước thu hồi để làm đường tránh 208 (đường giao thông), diện tích đã thu hồi là
83,3m
2
, diện tích đất còn lại là 574,7m
2
. Hiện trạng trên đất phần diện tích thu hồi
là đường giao thông đang thi công, thửa đất có bờ thửa, ranh giới rõ ràng, trên đất
không có tài sản gì. Giá trị của thửa đất là 46.718.000 đồng.
- Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 627,3m2, là đất trồng lúa, địa
chỉ: Nà Boóng, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp
đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 61; phía Tây giáp thửa
đất số 49; phía Đông giáp thửa đất số 51. Hiện trạng, thửa đất có bờ thửa, ranh giới
rõ ràng, trên đất không có tài sản gì. Giá trị của thửa đất là 44.538.300 đồng.
- Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 389,3m2, loại đất trồng lúa, địa
chỉ đất tại: PH, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp
mương và thửa đất số 24; phía Nam giáp thửa đất số 109 và thửa đất số 38; phía
11
Tây giáp thửa đất số 147; phía Đông giáp thửa đất số 34. Hiện trạng, thửa đất 36
này đã được Nhà nước thu hồi diện tích là 378,5m
2
để làm đường tránh 208 (đường
giao thông), diện tích đất còn lại là 10,8m
2
, trên đất là con đường đang thi công,
không có tài sản gì trên đất. Giá trị của thửa đất là 27.640.300 đồng.
- Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 21-5 diện tích 434,2m
2
, là đất trồng lúa, địa
chỉ: Bó Pảu, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa
đất số 107, thửa đất số 133 là đất của ông Nông Văn Long, bà Hoàng Thị Thuý;
phía Nam giáp thửa đất số 11, thửa số 27 và thửa số 26 tờ bản đồ 26-5 là đất của bà
Nông Thị Ỏng, ông Nông Văn Tràng, bà Nông Thị Non; phía Đông giáp thửa đất
số 109 và thửa đất số 34 là đất của ông Hoàng Văn Xuân, Hoàng Văn Hải; phía
Tây giáp thửa đất số 138 là đất ông Nông Văn Hưng và thửa đất số 133 của ông
Nông Văn Long, bà Hoàng Thị Thuý. Hiện trạng, thửa đất này đã được Nhà nước
thu hồi một phần diện tích là 64,9m
2
để làm đường tỉnh lộ 208, diện tích đất còn lại
là 369,3m
2
và không có tài sản, vật kiến trúc trên đất. Giá trị của thửa đất là
21.710.000 đồng.
- Thửa đất số 56, tờ bản đồ 17-5, diện tích 764,3m2, là đất trồng lúa, địa chỉ
tại: Lăng Mạ, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, tứ cận: Phía Bắc giáp mương
và thử đất số 50; Phía nam giáp mương và UBND thị trấn Thanh Nhật; phía tây
giáp mương thủy lợi; Phía đông giáp thửa 57. Đã được Nhà nước thu hồi một phần
diện tích là 449,3m
2
để xây trụ sở Chi cục Thuế huyện H, còn 315m
2
. Giá trị diện
tích còn lại của thửa đất là 44.718.000 đồng.
- Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 152,0m2, là đất trồng cây
hàng năm khác, địa chỉ đất: Đông Chả, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có
tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 106 là đất của ông Hoàng Văn S2; phía Nam giáp
mương thuỷ lợi và thửa đất số 114 là đất của bà Thẩm Thị Lích, Lương Thị Hiền;
phía Tây giáp các thửa đất số 107, 108 là đất của ông Hoàng Xuân Hình và thửa
đất số 112 của bà Thẩm Thị Lích; phía Đông giáp mương thuỷ lợi. Hiện trạng, thửa
đất cờ bó thửa, ranh giới rõ ràng, trên đất không có tài sản gì. Giá trị của thửa đất
là 6.992.000 đồng.
- Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 2.553,4m
2
, là đất trồng cây
hàng năm, địa chỉ đất: Đông Chả, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận:
Phía Bắc giáp thửa đất số 80, 160, 79; phía Nam giáp các thửa đất số 115, 116 và
117 là đất của ông Hoàng Văn S2, ông Hoàng Xuân Hình, ông Hoàng Văn Sắm;
phía Tây giáp các thửa đất số 107, 82 của ông Hoàng Xuân Hình; phía Đông giáp
các thửa đất số 79, 93, 105 của bà Lý Thị Lộc. Hiện trạng, trên đất có 03 ngôi mộ
của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M và anh Hoàng Văn B (đều đã chết); trên
đất trồng cây ngô đã thu hoạch; thửa đất có bờ thửa, ranh giới rõ ràng. Giá trị của
thửa đất là 117.456.400 đồng.
12
- Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 635,4m2, là đất trồng cây hàng
năm khác, địa chỉ đất: Bó Pảu, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận:
Phía Bắc giáp thửa đất số 74, 76 là đất của ông Khoảng Văn Lục; phía Nam giáp
mương thuỷ lợi; phía Tây giáp thửa đất 57 là đất của ông Hoàng Xuân Hình; phía
Đông giáp thửa đất số 79 là đất của ông Hoàng Xuân Hình. Hiện trạng, trên đất
trồng cây ngô đã thu hoạch; thửa đất có bờ thửa, ranh giới rõ ràng. Giá trị của thửa
đất là 29.228.400 đồng.
- Thửa đất số 190, tờ bản đồ 16-5 diện tích 222,7m2, là đất ở đô thị, địa chỉ
đất tại: Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc
giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa 223 là khu bể xử lý
nước thải thị trấn Thanh Nhật; phía Đông giáp thửa đất 188 là đất của ông Lương
Văn Đại; phía Tây thửa đất số 186 của gia đình bà Hoàng Lệ T1. Thửa đất có giá
trị là 650.194.920 đồng. Tài sản trên gồm có 01 nhà cấp 4 có 02 tầng, liền kề đằng
sau có 01 nhà bếp tổng tài sản trên đất có giá trị là 511.962.660. Hiện nay, bà
Hoàng Thị H đang quản lý, sử dụng.
(Có sơ đồ các thửa đất kèm theo).
Tại phiên công bố công khai kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản và tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự đều nhất trí với kết quả xem xét,
thẩm định tại chỗ và kết luận định giá tài sản trên.
Ngày 13/3/2024, Ủy ban nhân dân huyện H có Công văn số 259/UBND-
TNMT về việc cung cấp thông tin đối với các thửa đất được Nhà nước thu hồi để
làm công trình đường giao thông theo Quyết định số 3126/QĐ-UBND ngày
23/11/2022 và Quyết định số 3904/QĐ-UBND ngày 31/12/2022 của Uỷ ban nhân
dân huyện H về việc Phê duyệt phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư công trình: Đường tỉnh lộ 208 - Giai đoạn 2, với giá trị các thửa sau: Thửa 49,
tờ bản đồ 18-5 thu hồi 83,3m2 là 27.030.851đ ; thửa 36, tờ bản đồ 19-5, thu hồi
378,5m2 là 122.823.251đ và thửa 137, tờ bản đồ 21-5 thu hồi 64,9m2 là
12.006.500đ.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Hoàng Việt V1
tại phiên toà sơ thẩm: Vẫn giữ các yêu cầu theo đơn phản tố. Cụ thể: Anh Hoàng
Việt V1 yêu cầu chia tài sản chung của hộ gia đình theo quy định của Luật đất đai,
Bộ luật dân sự để xác định phần quyền của các đồng sử dụng trong khối tài sản
chung; thứ hai, chia di sản thừa kế của Ông S2, bà M theo quy định của pháp luật
thừa kế, theo đó xác định Ông S2 đã chết có để lại di chúc. Về di chúc nội dung rất
rõ ràng phù hợp với quy định của pháp luật nên di chúc của Ông S2 để lại là hợp
pháp, xem xét quyền được hưởng thừa kế thế vị của anh Vương theo quy định; thứ
ba, tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày
13
03/3/1995 giữa ông Hoàng Văn S2 với bà Hoàng Thị T và ông Cao Kiên Cường;
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 11/12/2001 giữa Ông S2
cho bà Hoàng Lệ T1 và ông Đặng Văn Q; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất viết tay ngày 31/10/2006 cho bà Hoàng Thị Tr và ông Hoàng Quang Phổ vô
hiệu một phần (phần bà Triệu Thị M không trực tiếp tham gia ký hợp đồng, không
được bà M định đoạt trong hợp đồng vô hiệu) và đưa phần quyền sử dụng đất của
bà M bị tuyên bố vô hiệu vào khối di sản chung để chia thừa kế.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị V, bà
Hoàng Thị Tr, bà Hoàng Lệ T1 tại phiên toà sơ thẩm: Nhất trí với yêu cầu của
nguyên đơn, xác định di chúc Ông S2 để lại là không hợp pháp, vì di chúc không
bảo đảm các điều kiện quy định tại điểm c, d, đ Điều 653 Bộ luật dân sự. Không
nhất trí với các yêu cầu phản tố của bị đơn, người liên quan Hoàng Việt V1, vì xác
định không phải tài sản chung của hộ mà tài sản chỉ là của hai vợ chồng Ông S2,
bà M; đối với yêu cầu tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của bà T1, bà Tr vô hiệu thì căn cứ Án lệ số 04/2016/AL của TAND tối cao về vụ
án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” thì việc các Giấy
chuyển nhượng này, tuy bà M không ký, nhưng bà M cùng sinh sống tại địa
phương, biết rõ việc sử dụng đất của các con nên phải xác định bà M đã đồng ý với
việc chuyển nhượng này. Đề nghị áp dụng các điều 652, 653, 675, 676, 677, 685
BLDS năm 2005 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuyên bố di chúc
của Ông S2 để lại là không hợp pháp và phân chia di sản thừa kế của Ông S2, bà M
theo pháp luật và chia bằng hiện vật. Căn cứ án lệ số 04 năm 2016, Điều 8 Nghị
Quyết số 04 năm 2019 về áp dụng án lệ đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu
tuyền bố vô hiệu một phần các giấy chuyển nhượng đất do Ông S2 chuyển nhượng
cho bà T1, bà Tr của người liên quan Hoàng Việt V1. Về án phí đề nghị miễn án
phí cho bà T1, Tr, V vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện
kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Nghị quyết 326 nên thuộc
trường hợp được miễn án phí theo quy định.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lục Thị Hoan trình
bày tại phiên toà sơ thẩm: Bà Lục Thị Hoan đã có ý kiến tại các bản tự khai gửi
cho Toà, bà Hoan là người thuê đất và tài sản trên đất là ngôi nhà cũ của Ông S2,
bà M hiện nay để làm quán nước. Trường hợp Toà giải quyết cho ai di sản thừa kế
mà hiện bà đang thuê thì bà Hoan vẫn có nguyện vọng tiếp tục được ký hợp đồng
thuê. Các vấn đề liên quan khác nếu có tranh chấp bà sẽ khởi kiện giải quyết bằng
vụ án dân sự khác.
Ý kiến của những người làm chứng ông Khoảng Văn L và ông Hoàng Doãn
L tại phiên toà sơ thẩm: Hai ông đều khẳng định có việc ông Hoàng Văn S2 đến
nhờ các ông ký xác nhận vào tờ di chúc, thời điểm đó Ông S2 còn tỉnh táo, minh

14
mẫn, Ông S2 biết chữ, biết viết vì có thời gian Ông S2 còn làm bí thư chi bộ,
trưởng xóm. Ngoài Ông S2 thì không có ai khác mang di chúc đến cho các ông ký
xác nhận.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của
Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều
39; Điều 92; khoản 2 Điều 147; khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 158; khoản 2
Điều 165; Điều 166; Điều 227, 228, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ khoản 29, 30 của Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ các Điều 33, 66 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 132, 212, 213, 224, 257, 258, 357, 468, 609, 611, 612,
623, 624, 625, 627, 628, 630, 631, 632, 633, 634, 643, 644, 649, 650, 651, 652,
659, 660 và Điều 668 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao;
Căn cứ các điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị T và
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc chia di sản thừa kế của ông
Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M.
2. Xác định di chúc của ông Hoàng Văn S2 lập vào năm 2009 là di chúc hợp
pháp.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị T và những người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về chia thừa kế đối với số tiền lợi tức mà bà Hoàng
Thị H có được trong thời gian quản lý di sản của ông Hoàng Văn S2 và yêu cầu
phản tố của bà Hoàng Thị H về việc xem xét được hưởng công sức bảo quản, giữ
gìn di sản và yêu cầu thanh toán mai táng phí.
4. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị H và anh Hoàng
Việt V1 về chia tài sản chung của hộ gia đình, chia thừa kế theo di chúc đối với
phần di sản của ông Hoàng Văn S2 và chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản
của bà Triệu Thị M.

15
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Hoàng Việt V1 về việc chia di sản
thừa kế đối với các thửa đất mà Ông S2, bà M đã chuyển nhượng cho bà T, ông
Cường, bà Tr, ông Phổ và bà T1, ông Quân gồm thửa đất số 186, tờ bản đồ 16-5; các
thửa đất số 120, 121, 134, 154 và thửa 155 cùng tờ bản đồ 16-5, cùng địa chỉ đất tại:
Đoỏng Hoan, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
6. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị T và những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với 01 cái ao cá đằng sau nhà của bà Hoàng
Thị H đang ở, các thửa đất Khum Toi, thửa đất Ngườm Thong và các tài sản là trâu
bò, hoa màu liệt kê trong di chúc của ông Hoàng Văn S2.
7. Việc phân chia tài sản cụ thể như sau:
+ Bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1 được quản lý, sử dụng:
- Thửa đất số 175, tờ bản đồ số 16-5, diện tích 211,5m
2
, loại đất ở đô thị,
địa
chỉ tại: Phố HL, thị trấn TN, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp thửa 167; phía Nam
giáp chợ cũ Hạ Lang; phía Đông giáp thửa 176; phía Tây giáp đường giao thông đi
xã Vinh Quý.
- Bà Huyên và anh Vương được quyền sở hữu tài sản gắn liền với thửa đất 175,
tờ bản đồ số 16-5 gồm: Lô số 1 (Quán Củ Hành) + Lô số 2 (4 lô ki ốt) 06 lô ki ốt.
- Thửa số 192, tờ bản đồ 16-5, diện tích 42,6m
2
, loại đất nuôi trồng thuỷ sản
(ao), địa chỉ Phố HL, thị trấn TN, huyện H, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp thửa
260; Phía Nam giáp thửa 225; Phía Tây giáp thửa 223 (bể xử lý nước thải thị trấn
Thanh Nhật); Phía Đông giáp thửa 190 của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M.
- Thửa đất số 49, tờ bản đồ số 18-5, diện tích 574,7m2 và giá trị 83,3m2 đất
thuộc thửa số 49, tờ bản đồ 18-5, đã được Nhà nước thu hồi trị giá 27.030.851
đồng, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 149; phía Nam giáp thửa đất số 60 và
thửa đất số 59; phía Tây giáp thửa đất số 51; phía Đông giáp thửa đất số 48.
- Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 627,3m2, là đất trồng lúa, địa
chỉ: Nà Boóng, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp
đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 61; phía Tây giáp thửa
đất số 49; phía Đông giáp thửa đất số 51.
- Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 10,8m2 và giá trị 378,5m2 đất
thuộc thửa số 36, tờ bản đồ 19-5, đã được Nhà nước thu hồi trị giá 122.823.251 đồng;
địa chỉ đất tại: PH, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp
mương và thửa đất số 24; phía Nam giáp thửa đất số 109 và thửa đất số 38; phía Tây
giáp thửa đất số 147; phía Đông giáp thửa đất số 34.
16
- Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 369,3m2 và giá trị 64,9m2 đất
thuộc thửa số 137, tờ bản đồ 21-5, đã được Nhà nước thu hồi trị giá 12.006.500
đồng; địa chỉ thửa đất tại: Bó Pảu, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ
cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 107, thửa đất số 133 là đất của ông Nông Văn Long,
bà Hoàng Thị Thuý; phía Nam giáp thửa đất số 11, thửa số 27 và thửa số 26 tờ bản
đồ 26-5 là đất của bà Nông Thị Ỏng, ông Nông Văn Tràng, bà Nông Thị Non; phía
Đông giáp thửa đất số 109 và thửa đất số 34 là đất của ông Hoàng Văn Xuân,
Hoàng Văn Hải; phía Tây giáp thửa đất số 138 là đất ông Nông Văn Hưng và thửa
đất số 133 của ông Nông Văn Long, bà Hoàng Thị Thuý.
- Thửa đất số 56, tờ bản đồ 17-5, diện tích 315m2 và giá trị 449,3m2 đất
thuộc thửa số 56, tờ bản đồ 17-5, đã được Nhà nước thu hồi trị giá 130.386.850
đồng (bà Huyên đã nhận theo theo Quyết định số 537/QĐ-UBND ngày 16/5/2011
của Uỷ ban nhân dân huyện H), địa chỉ thửa đất tại: Lăng Mạ, thị trấn TN, huyện
HL, tỉnh Cao Bằng, tứ cận: Phía Bắc giáp mương và thử đất số 50; Phía nam giáp
mương và UBND thị trấn Thanh Nhật; phía tây giáp mương thủy lợi; Phía đông
giáp thửa 57.
- Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 2.553,4m
2
, là đất trồng cây
hàng năm, địa chỉ đất: Đông Chả, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận:
Phía Bắc giáp thửa đất số 80, 160, 79; phía Nam giáp các thửa đất số 115, 116 và
117 là đất của ông Hoàng Văn S2, ông Hoàng Xuân Hình, ông Hoàng Văn Sắm;
phía Tây giáp các thửa đất số 107, 82 của ông Hoàng Xuân Hình; phía Đông giáp
các thửa đất số 79, 93, 105 của bà Lý Thị Lộc.
- Thửa đất số 190, tờ bản đồ 16-5 diện tích 222,7m2, là đất ở đô thị, địa chỉ
đất tại: Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc
giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa 223 là khu bể xử lý
nước thải thị trấn Thanh Nhật; phía Đông giáp thửa đất 188 là đất của ông Lương
Văn Đại; phía Tây thửa đất số 186 của gia đình bà Hoàng Lệ T1. Bà Huyên, anh
Vương có quyền sở hữu tài sản trên đất gồm có 01 nhà cấp 4 có 02 tầng, liền kề
đằng sau có 01 nhà bếp.
+ Bà Hoàng Thị T, Hoàng Thị V, Hoàng Thị Tr và Hoàng Lệ T1 được quản
lý, sử dụng: Thửa đất số 193, tờ bản đồ 16-5, diện tích 244,1m
2
, loại đất ở đô thị,
địa chỉ đất tại: Phố HL, thị trấn TN, tên gọi theo tiếng địa phương là Nà Pác Keo
(Tẩu Háng), có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa;
phía Nam giáp thửa đất 186 của hộ gia đình bà Hoàng Lệ T1; phía Đông giáp thửa
260 của hộ gia đình bà Hoàng Lệ T1; phía Tây giáp suối. Trong đó mỗi người
được chia diện tích 61m2 đất thuộc thửa đất số 193, tờ bản đồ 16-5 tương ứng giá
trị 178.168.590 đồng. Bà Hoàng Thị T, Hoàng Thị V, Hoàng Thị Tr và Hoàng Lệ
T1 có quyền thỏa thuận người nhận hiện vật hoặc bán hiện vật để chia.
17
+ Bà Hoàng Thị Tr được quản lý, sử dụng: Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 22-
5, diện tích 152,0m2, là đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ đất: Đông Chả, thị
trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 106 là
đất của ông Hoàng Văn S2; phía Nam giáp mương thuỷ lợi và thửa đất số 114 là
đất của bà Thẩm Thị Lích, Lương Thị Hiền; phía Tây giáp các thửa đất số 107, 108
là đất của ông Hoàng Xuân Hình và thửa đất số 112 của bà Thẩm Thị Lích; phía
Đông giáp mương thuỷ lợi.
+ Bà Hoàng Lệ T1 được quản lý, sử dụng: Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 21-5,
diện tích 635,4m2, là đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ đất: Bó Pảu, thị trấn
TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 74, 76 là đất
của ông Khoảng Văn Lục; phía Nam giáp mương thuỷ lợi; phía Tây giáp thửa đất
57 là đất của ông Hoàng Xuân Hình; phía Đông giáp thửa đất số 79 là đất của ông
Hoàng Xuân Hình.
+ Chị Lục Thị Huyền Tr được nhận số tiền là 93.665.704 đồng.
+ Chị Lục Thị Lan H được nhận số tiền là 93.665.704 đồng.
+ Chị Nông Thị Thuý K2 được được nhận số tiền 93.665.704 đồng.
+ Chị Nông Thị Bích N được nhận số tiền là 93.665.704 đồng.
Các đương sự có quyền, nghĩa vụ kê khai đăng ký biến động quyền sử
dụng đất theo quy định pháp luật.
(Kèm theo Bản án có các mảnh trích đo địa chính sơ đồ các thửa đất).
8. Về nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch tài sản:
Bà Hoàng Lệ T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền chênh lệch của giá trị quyền
sử dụng đất cho bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người là 10.032.791
đồng.
Bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán số
tiền chênh lệch của giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho những người
thừa kế như sau:
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
4.581.409 đồng cho bà Hoàng Thị T;
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
4.581.409 đồng cho bà Hoàng Thị V;
Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
1.085.409 đồng cho bà Hoàng Thị Tr;
18
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
46.832.852 đồng cho Lục Thị Huyền Tr;
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
46.832.852 đồng cho Lục Thị Lan H;
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
46.832.852 đồng cho Nông Thị Thúy K;
- Bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 mỗi người thanh toán số tiền
46.832.852 đồng cho Nông Thị Bích N;
Kể T ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản
tiền phải thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án
chậm thi hành án thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời
gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của
Bộ luật Dân sự năm 2015
Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2024, nguyên đơn Hoàng Thị T có đơn
kháng cáo không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024
của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sửa bản
án sở thẩm theo hướng:
- Phân chia di sản của ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M theo hướng di
sản là khối tài sản chung của Ông S2, bà M, không phải hộ gia đình 05 thành viên
và cần chia theo 07 người con theo pháp luật.
- Xác định di chúc của ông Hoàng Văn S2 là không hợp pháp.
- Xem xét chia số tiền bồi thường khi thu hồi đất, tổng số là 405.240.752
đồng cho những người thuộc hàng thừa kế, yêu cầu chia giá trị bằng tiền vì hiện
nay đất đã bị nhà nước thu hồi.
- Yêu cầu chia đồng đều diện tích đất ở và diện tích đất canh tác cho những
người thừa kế được kỳ phần bằng nhau.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/10/2024, bị đơn Hoàng Thị H có đơn kháng cáo
không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà
án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bao
gồm:
19
- Di chúc của ông Hoàng Văn S2 là hợp pháp vì thể hiện ý chí của Ông S2 để lại
phần di sản của Ông S2 cho những người thừa kế, phần Ông S2 tự định đoạt được chia
theo quy định của pháp luật.
- Không đồng ý việc Tòa án áp dụng án lệ số 04/2016 trong vụ án này vì không
thể cho rằng rằng việc Ông S2 chia đất cho các con là T, Tr, T1 do đã được cấp giấy
chứng nhận, đã chuyển nhượng và không có chữ ký của bà M nhưng được coi là bà M
không phản đối nên việc chuyển nhượng hay tặng cho đất của Ông S2 là có hiệu lực và
không được xem xét là di sản, vì nếu chỉ có phần định đoạt tài sản cho bên nguyên đơn
thì việc áp dụng án lệ 04/2016 mới là chính xác.
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ các giấy
tờ tặng cho, chuyển nhượng và các tờ khai để cấp giấy chứng nhận của các chị T, Tr,
T1 để làm rõ đâu là thật, đâu là già và tại sao có rất nhiều mốc thời gian tặng cho hoặc
chuyển nhượng đến như vậy.
- Việc chia thửa đất ở số 193 có diện tích 144,1 m² (xe máy Trường Giang đang
thuê) cho chị T, V, Tr là chưa đảm bảo sự công bằng vì tính theo kỷ phần được chia thì
những người này không được chia và được chia thửa đất có mặt tiền thuận lợi nhiều
như vậy, vì các chị đều đã được chia toàn là đất mặt đường, có giá trị nhiều hơn so với
giá trị được định giá.
Ngày 14/10/2024, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Hoàng Lệ
T1 có đơn kháng cáo không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày
30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, yêu cầu Toà án cấp phúc
thẩm giải quyết bao gồm:
- Xác định di chúc ông Hoàng Văn S2 để lại là không hợp pháp.
- Không chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị H, anh Hoàng
Việt V1.
- Chia di sản thừa kế của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M để lại theo quy
định của pháp luật về thừa kế và chia bằng hiện vật.
Ngày 14/10/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Việt V1
có đơn kháng cáo không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST
ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng, yêu cầu Toà án cấp
phúc thẩm giải quyết theo hướng: Xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố và tuyên bố
vô hiệu một phần đổi với các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay
ngày 03/3/1995 giữa ông Hoàng Văn S2 với bà Hoàng Thị T và ông Cao Kiên
Cường, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 11/12/2001 giữa
ông Hoàng Văn S2 với bà Hoàng Lệ T1 và ông Đặng Văn Q, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 31/10/2006 giữa ông Hoàng Văn S2 với
20
bà Hoàng Thị Tr và ông Hoàng Quang Phổ (phần bà Triêu Thị Mùi không trực tiếp
tham gia hợp đồng, không được bà M định đoạt trong hợp đồng vô hiệu) và đưa
phần quyền sử dụng đất của bà M bị tuyên bố vô hiệu vào khối di sản chung để
chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/10/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nông Thị Thúy
K và Nông Thị Bích N có đơn kháng cáo không nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm
số 16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng,
yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng sửa bản án sơ thẩm:
- Xác định khối tài sản là tài sản chung của Ông S2, bà M.
- Xác định di chúc của Ông S2 để lại là không hợp pháp và chia thừa kế theo
quy định của pháp luật.
- Yêu cầu được chia bằng hiện vật theo kỷ phần được hưởng.
Ngày 28/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành Quyết
định kháng nghị phúc thẩm số 2473/QĐ-VKS-DS đối với Bản án số 16/2024/DS-
ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn, người đại diẹn theo uỷ quyền của
nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, những có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo và giữ nguyên lời trình bày tại cấp sơ
thẩm
Tại phần tranh luận tại phiên toà phúc thẩm đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp đều giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng giữ nguyên kháng nghị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
* Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
* Về tính hợp pháp của kháng nghị:
Xét thấy Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng có nhiều vi phạm trong
quá trình giải quyết vụ án nên ngày 28/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao
Bằng ra Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 2473/QĐ-VKS-DS đối với Bản án số
16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.
21
Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng ban hành kháng nghị đúng thẩm quyền theo
Điều 278 BLTTDS năm 2015; đúng thời hạn theo quy định tại Điều 280 BLTTDS
năm 2015.
*Về tính có căn cứ của kháng nghị:
Việc thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng trong
vụ án này có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Nội dung bản án vi
phạm về việc áp dụng sai, thiếu điều luật, phân tích, nhận định và đánh giá chứng
cứ không có cơ sở, không khách quan, không đúng theo quy định của pháp luật.
Qua kiểm sát việc thụ lý giải quyết của tòa án, nghiên cứu hồ sơ và đánh giá
chứng cứ, đối với nội dung bản án Viện kiểm sát đã kháng nghị, Kiểm sát viên
nhận thấy việc giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng tại Bản án
số: 16/2024/DS-ST, ngày 30 tháng 9 năm 2024 có những vi phạm như sau:
Thứ nhất, vi phạm trong việc xác định sai về ti sản chung của h gia
đình, xác định sai về di sản thừa kế
- Về xác định tài sản chung của hộ gia đình:
Theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2005:
"Điều 108. Ti sản chung của h gia đình
Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng,
rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập
nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các
thành viên thỏa thuận là tài sản chung của hộ".
Tại khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng
đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất
chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất”.
Khoản 1, Điều 102 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc xác định tài
sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được
xác định theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này”.
Dẫn chiếu đến Khoản 1 Điều 212 Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định:
"Điều 212. Sở hữu chung của các thnh viên trong gia đình
22
1. Tài sản của các thành viên trong gia đình cùng sống chung gồm tài sản do
các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên, và những tài sản khác được xác
lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan".
Trong vụ án này, đối với tất cả các thửa đất nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế
có căn cứ khẳng định là tài sản chung của vợ chồng ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu
Thị M. Bởi trong quá trình giải quyết vụ án mọi đương sự đều thừa nhận nguồn gốc
tất cả các thửa đất là của tổ tiên để lại thừa kế cho Ông S2, bà M mà không phải do
ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1 cùng đóng góp, tạo lập nên
cũng không phải được thừa kế chung hay được tặng cho chung các tài sản là quyền
sử dụng đất nói trên. Hơn nữa giữa Ông S2, bà M không có bất kỳ sự thỏa thuận nào
với anh B, bà Huyên và anh Vương về việc các thửa đất và tài sản trên đất là tài sản
chung của hộ gia đình thể hiện trong hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ nào
chứng minh về sự thỏa thuận này. Đồng thời, tại đơn xin cấp GCNQSD đất ngày
20/3/2008 thể hiện Ông S2 chỉ kê khai tên người sử dụng đất là Hoàng Văn S2 và
Triệu Thị M, không liệt kê tên của các thành viên khác trong gia đình có chung
quyền sử dụng đất. Hơn nữa tại Công văn số: 977/UBND-TNMT ngày 04/8/2023
của Ủy ban nhân dân huyện H cung cấp hồ sơ tài liệu có nội dung: “Việc cấp
GCNQSDĐ cho hộ gia đình ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M là cấp cho hộ ông,
bà; tại thời điểm năm 2008 đơn xin cấp của hộ gia đình Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị
M là cấp cho hộ ông, bà; không ghi những người đồng sử dụng; không tìm được hồ
sơ, tài liệu nào xác định cụ thể họ tên các thành viên hộ gia đình Ông S2, bà M vào
thời điểm cấp GCNQSDĐ”
Theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú năm 2006
"Điều 24. Sổ h khẩu
1. Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú
và có giá trị xác định nơi thường trú của công dân."
Như vậy sổ hộ khẩu là loại giấy tờ để quản lý về nơi cư trú, có ý nghĩa về mặt
hộ tịch nên chỉ có giá trị xác định nơi thường trú hợp pháp của công dân mà không
phản ánh, thể hiện được các tiêu chí để xác định thành viên của hộ gia đình sử dụng
đất.
Tuy nhiên tại Bản án số: 16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân
dân huyện H lại căn cứ việc cấp GNCQSDĐ có chữ "hộ" và theo sổ hộ khẩu để xác
định số thành viên của hộ gia đình tại thời điểm cấp GCNQSDĐ để xác định quyền
sử dụng đất đối với các thửa đất cấp cho "Hộ ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M"
là tài sản chung của hộ gia đình gồm 05 người là ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị
M, ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1 là không chính xác,

23
vi phạm các Điều 108, 212 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú
năm 2006 và khoản 29, Điều 3 Luật đất đai năm 2013 như đã dẫn chiếu ở trên.
- Về việc xác định di sản thừa kế:
Theo quy định tại Điều 612 BLDS năm 2015, “Di sản bao gồm tài sản riêng
của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.
Như đã phân tích ở trên, toàn bộ các thửa đất tranh chấp và tài sản trên đất
cũng như số tiền mà Nhà nước đã bồi thường khi thu hồi đất đều là tài sản chung của
Ông S2, bà M, nên được xác định là di sản thừa kế của Ông S2, bà M. Bản thân
Ông S2, bà M, phần di sản của mỗi người để lại được xác định là ½ giá trị tài sản
tương đương với 1.776.764.016 đồng. Tại Bản án xác định di sản thừa kế của Ông
S2, bà M bao gồm 1/5 giá trị tài sản chung của hộ gia đình và ½ giá trị tài sản chung
của vợ chồng là không chính xác, vi phạm Điều 612 BLDS năm 2015.
Thứ hai, vi phạm về việc xác định tính hợp pháp của di chúc
- Việc lập di chúc không tuân thủ đúng quy định của pháp luật:
Theo quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005:
"Điều 656. Di chúc bằng văn bản c người lm chứng
Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì
có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người
lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm
chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc
và ký vào bản di chúc.
Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ
luật này."
Tòa án nhân dân huyện H nhận định di chúc của ông Hoàng Văn S2 là di
chúc được lập bằng văn bản có 2 người làm chứng và xác định di chúc trên hợp
pháp là không chính xác.
Tại phiên tòa, ông Khoảng Văn L và ông Hoàng Doãn L là 2 người làm
chứng trong bản di chúc xác nhận "hai ông đều khẳng định có việc ông Hoàng Văn
S2 đến nhờ các ông ký xác nhận vào tờ di chúc…ngoài Ông S2 thì không có ai
khác mang di chúc đến cho các ông ký xác nhận" (thể hiện tại trang 12 của bản án),
điều đó cho thấy thực tế là sau khi bản di chúc được lập, Ông S2 đã ký di chúc và
sau đó mới đem bản di chúc đến xin chữ ký xác nhận của 2 người làm chứng đồng
nghĩa với việc ông Lý và ông Lộc không có mặt tại thời điểm lập di chúc để chứng
kiến sự việc lập và kí di chúc, cũng như xác nhận làm chứng nội dung của di chúc;

24
vì vậy không thể hiện đúng bản chất và vai Tr của người làm chứng di chúc theo
đúng quy định Điều 656 Bộ luật dân sự năm 2005, do đó di chúc không hợp pháp
về mặt hình thức và trình tự lập di chúc.
- Về nội dung di chúc: Ông Hoàng Văn S2 lập di chúc với nội dung để lại
toàn bộ đất đai, tài sản cho con trai Hoàng Văn B, con dâu Hoàng Thị H, cháu
Hoàng Việt V1.
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
"Điều 27. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc
được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản
chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung
của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn,
được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận.
Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Tại Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định:
"1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất".
Theo quy định tại điểm b khoản 1, Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005
"Điều 652. Di chúc hợp pháp
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc
không trái quy định của pháp luật."
Bản án xác định di chúc của ông Hoàng Văn S2 là hợp pháp, có hiệu lực đối
với phần tài sản trong khối tài sản thuộc sở hữu chung của hộ gia đình và ½ giá trị
tài sản của Ông S2 trong khối tài sản chung của vợ chồng Ông S2, bà M là không
chính xác, vi phạm khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Khoản
1 Điều 219 BLDS năm 2005. Bởi vì: Trên thực tế toàn bộ các thửa đất và tài sản
trên đất là tài sản chung của vợ chồng ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M, theo
đó ông Hoàng Văn S2 chỉ có quyền quản lý, sử dụng đối với ½ giá trị tài sản

25
chung. Như vậy về nguyên tắc, Ông S2 khi lập di chúc chỉ được định đoạt tài sản
thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình mà không được quyền định đoạt cả phần
tài sản của người khác, trong nội dung di chúc Ông S2 để lại đã định đoạt toàn bộ
tài sản đất đai gồm có cả phần tài sản thuộc sở hữu của bà M là vi phạm điểm b
khoản 1 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 do đó di chúc không hợp pháp về mặt
nội dung. Do di chúc không hợp pháp nên di sản cần phải được chia theo pháp luật.
Thứ ba, vi phạm về nguyên tắc phân chia di sản thừa kế
- Vi phạm về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Khoản 1, Điều 5 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:
"Điều 5. Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu đó".
Trong vụ án này, nguyên đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu chia di sản bằng hiện vật. Tuy nhiên, sau thu hồi một số diện tích
của một số thửa, UBND huyện H có bồi thường bằng giá trị tiền như thu hồi diện
tích 83,3m
2
thuộc thửa 49, tờ bản đồ số 18-5 (đã bồi thường số tiền 27.030.851
đồng); thu hồi 378,5m
2
thuộc thửa 36, tờ bản đồ 19-5 (đã bồi thường 122.823.251
đồng; thu hồi 64,9m
2
thuộc thửa 137, tờ bản đồ 21-5 (đã bồi thường 12.006.500
đồng); thu hồi 449,3m
2
thuộc thửa 56, tờ bản đồ 17-5 (bản thân bà Huyên đã nhận
tiền bồi thường là 130.386.850 đồng). Như vậy diện tích đất được coi là di sản thừa
kế không còn tại thời điểm chia thừa kế do Nhà nước thu hồi nên không thể chia
bằng hiện vật. Về nguyên tắc, phải phân định rõ việc phân chia di sản bằng tiền là
giá trị tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, sau đó mới xem xét đến diện tích
đất còn lại tại thời điểm phân chia di sản để chia bằng hiện vật theo yêu cầu và
nguyện vọng của các đương sự.
Khoản 2, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 660. Phân chia di sản theo pháp luật
…
2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật,
nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về
việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật, nếu không thỏa thuận
được thì hiện vật được bán để chia”.
26
Trong vụ án này, các hàng thừa kế và diện thừa kế theo pháp luật gồm có
Hoàng Thị V, Hoàng Thị Tr, Hoàng Thị T, Hoàng Lệ T1, Lục Thị Huyền Tr, Lục
Thị Lan H, Nông Thị Thúy K và Nông Thị Bích N đều yêu cầu chia thừa kế theo
pháp luật và chia bằng hiện vật. Hơn nữa di sản để lại của Ông S2, bà M không
thuộc trường hợp không thể chia bằng hiện vật. Trong quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa, những người thừa kế không thỏa thuận với nhau về người nhận hiện
vật nhưng Bản án số: 16/2024/DS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
H, tỉnh Cao Bằng lại nhận định: Do Lục Thị Huyền Tr, Lục Thị Lan H, Nông Thị
Thúy K, Nông Thị Bích N đi làm ăn xa, không sinh sống tại địa phương, giá trị di
sản thừa kế mỗi người được hưởng ít nhất, di sản đã ưu tiên chia cho người thừa kế
trên nên chia di sản giá trị bằng tiền cho những người thừa kế này, mỗi người
93.665.704 đồng là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ và vi phạm
quy định tại khoản 2, Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Thứ tư, vi phạm trong việc xác định yêu cu phản tố
Theo khoản 1, Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định:
“Điều 200. Quyền yêu cu phản tố của bị đơn
1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với
yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.”
Điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 cũng quy định:
“Điều 201. Quyền yêu cu đc lập của người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố
tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập...
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập
trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải”.
Trong vụ án này anh Hoàng Việt V1 tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng ngày 09/01/2023 lại có đơn phản tố gửi
Tòa án nhân dân huyện H. Theo quy định của pháp luật thì chỉ bị đơn mới có
quyền yêu cầu phản tố, anh Vương tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu của anh Vương phải được xác định là yêu cầu
độc lập, nhưng Tòa án đã xác định yêu cầu của anh Hoàng Việt V1 là yêu cầu phản
tố là không chính xác, vi phạm khoản 1, Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2015.
Thứ năm, vi phạm trong việc áp dụng sai Án lệ
27
Toà án nhân dân huyện H nhận định: Xét yêu cầu tuyên bố các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay giữa ông Hoàng Văn S2 với vợ chồng
bà Hoàng Thị T, ông Cao Kiên Cường, vợ chồng bà Hoàng Lệ T1, ông Đặng Văn
Q và vợ chồng bà Hoàng Thị Tr, ông Hoàng Quang Phổ, các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nói trên viết tay tuy chỉ có chữ ký của Ông S2 nhưng
căn cứ Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao để xác định là vợ chồng các con đã được bố mẹ tặng cho quyền sử
dụng đất là không chính xác.
Đối với vụ án này, giữa Ông S2 và vợ chồng các con đã ký kết với nhau hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chỉ có chữ ký của Ông S2, không có chữ
ký của bà M) nhưng không thể nhận định các quyền sử dụng đất của vợ chồng các
con (vợ chồng bà T, ông Cường, vợ chồng bà T1, ông Quân, vợ chồng bà Tr ông
Phổ) là do bố mẹ tặng cho mà thực tế đó là quá trình nhận chuyển nhượng quyền
sử dụng đất (là quá trình mua bán đất, trong hợp đồng có ghi số tiền thực tế thanh
toán tương ứng với giá trị thửa đất). Vì vậy cần áp dụng Án lệ số 04/2016/AL ngày
06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với nội dung: Trường
hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp
đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong
hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo
thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển
nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà
đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến
phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.
Thứ sáu, vi phạm về xác định án phí, chi phí xem xt thẩm định, định giá
ti sản
Do Bản án số: 16/2024/DS-ST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
H đã có vi phạm trong việc xác định tài sản chung, xác định di sản thừa kế không
đúng T đó phân chia không đúng giá trị kỷ phần của 1 suất thừa kế mà mỗi người
thừa kế được hưởng, dẫn tới việc xác định sai án phí dân sự sơ thẩm buộc các
đương sự phải chịu và tuyên sai về người phải chịu chi phí xem xét thẩm định,
định giá tài sản, vi phạm khoản 1, 2 Điều 147; khoản 1, 2 Điều 157 BLTTDS năm
2015; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì vậy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành là
đảm bảo có căn cứ, chỉ rõ những vi phạm, đúng quy định của pháp luật.
28
Đề nghị hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ: khoản 5 Điều 26; khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 16/2024/DS-ST
ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng.
Sau khi xem xét đơn kháng cáo; tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét
tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Toà án cấp sơ thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp,
xem xét thẩm định tại chỗ, thu thập và giao nộp chứng cứ và hoà giải, trình tự và
thủ tục tại phiên toà sơ thẩm.
Đơn kháng cáo của những người kháng cáo: Nguyên đơn Hoàng Thị T;
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Hoàng Lệ T1; Bị đơn Hoàng Thị H;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hoàng Việt V1, Nông Thị Thuý K2, Nông
Thị Bích N đều nộp trong thời hạn Luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm
nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng trong thời hạn Luật
định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.1] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hoàng Thị H và của anh Hoàng Việt
V1
Ngày 14/10/2024, bị đơn Hoàng Thị H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm:
Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết: Di chúc của ông Hoàng Văn S2
là hợp pháp vì thể hiện ý chí của Ông S2 để lại phần di sản của Ông S2 cho những
người thừa kế, phần Ông S2 tự định đoạt vượt quá được chia theo pháp luật;
Không đồng ý việc Tòa án áp dụng án lệ số 04/2016 trong vụ án này; Đề nghị Tòa
án kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ các giấy tờ tặng cho, chuyển nhượng và các tờ
khai để cấp giấy chứng nhận của các chị T, Tr, T1; Việc chia thửa đất ở số 193,
diện tích 244,1m
2
(xe máy Trường Giang đang thuê) cho chị T, V, Tr là chưa đảm
bảo công bằng.
Ngày 14/10/2024, đại diện theo ủy quyền của anh Hoàng Việt V1 kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng
xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Vương và Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất viết tay giữa ông Hoàng Văn S2 với bà Hoàng Thị T, ông Cao
Văn C2, giữa Ông S2 với bà Hoàng Lệ T1 và ông Đặng Văn Q, giữa Ông S2 với
bà Hoàng Thị Tr và ông Hoàng Quang Phổ (phần bà Triệu Thị M không trực tiếp

29
tham gia hợp đồng, không được bà M định đoạt trong hợp đồng vô hiệu) và đưa
phần quyền sử dụng đất của bà Triệu Thị M bị tuyên bố vô hiệu vào khối di sản
chung để chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Xét thấy:
Đối với các thửa đất số 120, 154, 155, 134, tờ bản đồ 17-5 ông Hoàng Văn
S2 đã chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị T và ông Cao Kiên Cường theo Giấy
nhượng đất viết tay ngày 03/3/1995; thửa đất số 121, tờ bản đồ 17-5 ông Hoàng
Văn S2 đã chuyển nhượng cho bà Hoàng Thị Tr và ông Hoàng Quang Phổ theo
Giấy chuyển nhượng đất viết tay ngày 31/10/2006; thửa đất số 186, tờ bản đồ 16-5
ông Hoàng Văn S2 đã chuyển nhượng cho bà Hoàng Lệ T1 và ông Đặng Văn Q
theo Giấy nhượng đất viết tay ngày 11/12/2001:
Căn cứ theo quy định tại Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2015 "Thời hiệu yêu
cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125, 126, 127,
128 và 129 của bộ luật này là 02 năm" do vậy đã hết thời hiệu yêu cầu tòa án
tuyên bố hợp đồng vô hiệu.
Mặt khác, các thửa đất trên được Ông S2 và các con lập giấy tờ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất. Mặc dù trong các giấy tờ chuyển nhượng chỉ có chữ ký
của Ông S2, không có chữ ký của bà M, tuy nhiên bà M biết việc chuyển nhượng
và không có ý kiến gì, các con đã quản lý, sử dụng ổn định T thời điểm nhận
chuyển nhượng. Do đó cần áp dụng Án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với nội dung: Trường hợp nhà đất là tài
sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển
nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng;
nếu có căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận,
người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà
đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công
khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì
phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất.
Do đó, các thửa đất số 120, 121, 154, 155, 134, tờ bản đồ 17-5 và thửa đất
số 186, tờ bản đồ 16-5 không phải là di sản thừa kế, không có căn cứ đưa vào khối
di sản chung để chia thừa kế như yêu cầu kháng cáo của anh Hoàng Việt V1.
Vì vậy kháng cáo của bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1 không có căn
cứ chấp nhận.
[1.2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà Hoàng Thị T; bà Hoàng Lệ T1, Chị
Nông Thị Bích N, Chị Nông Thị Thuý K2 là có căn cứ và cần được chấp nhận.
[2] Đối với bản di chúc của ông Hoàng Văn S2 lập vào năm 2009

30
Trên thực tế toàn bộ các thửa đất và tài sản trên đất là tài sản chung của vợ
chồng ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M, theo đó ông Hoàng Văn S2 chỉ có
quyền quản lý, sử dụng đối với ½ giá trị tài sản chung. Như vậy về nguyên tắc,
Ông S2 khi lập di chúc chỉ được định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của mình mà không được quyền định đoạt cả phần tài sản của người khác, trong
nội dung di chúc Ông S2 để lại đã định đoạt toàn bộ tài sản đất đai gồm có cả phần
tài sản thuộc sở hữu của bà M là vi phạm vi phạm khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000, Khoản 1 Điều 219 Bộ luật dân sự năm 2005, điểm b khoản
1 Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2005 do đó di chúc không hợp pháp về mặt nội
dung.
Di chúc có 2 người làm chứng, tuy nhiên lời khai của người làm chứng khai
không nhất quán, tự mâu thuẫn với lời khai của chính mình về địa điểm lập di
chúc, do đó không khách quan, không khách quan về việc xác định nội dung di
chúc cũng như ý chí của Ông S2, hơn nữa không đảm bảo tuân thủ đúng quy định
pháp luật đối với di chúc có người làm chứng vì chỉ đến nhờ ký. Ông S2 đã ký di
chúc và sau đó mới đem bản di chúc đến xin chữ ký xác nhận của 2 người làm
chứng đồng nghĩa với việc ông Lý và ông Lộc không có mặt tại thời điểm lập di
chúc để chứng kiến sự việc lập và kí di chúc, cũng như xác nhận làm chứng nội
dung của di chúc. Do đó di chúc không hợp pháp về trình tự thủ tục lập di chúc.
Do di chúc không hợp pháp về nội dung và không hợp pháp về trình tự thủ
tục lập di chúc nên di sản cần phải được chia theo pháp luật.
[3] Về việc áp dụng án lệ: Giữa Ông S2 và vợ chồng các con đã ký kết với
nhau hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (chỉ có chữ ký của Ông S2,
không có chữ ký của bà M) nhưng không thể nhận định các quyền sử dụng đất của
vợ chồng các con (vợ chồng bà T ông Cường, vợ chồng bà T1 ông Quân, vợ chồng
bà Tr ông Phổ) là do bố mẹ tặng cho mà thực tế đó là quá trình nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất (là quá trình mua bán đất, trong hợp đồng có ghi số tiền
thực tế thanh toán tương ứng với giá trị thửa đất). Vì vậy cần áp dụng Án lệ số
04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao với
nội dung: Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người
đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại
không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã
nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng
sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và
quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà
không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển
nhượng nhà đất.
31
[4] Đối với toàn bộ nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cao Bằng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[5] Về di sản là tài sản của Ông S2 và bà M để lại là các khoản tiền bồi
thường khi thu hồi đất; đất, cụ thể:
[5.1] Số tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất:
Theo Quyết định số 313126/QĐ-UBND ngày 23/11/2022 và Quyết định số
3904/QĐ-UBND ngày 31/12/2022 của Uỷ ban nhân dân huyện H về việc phê
duyệt phương án và dự toán bồi thường, hỗ trợ và tái địnhc ư công trình: Đường
tỉnh lộ 208-Giai đoạn 2 đối với các thửa đất
- Thửa đất 36, tờ bản đồ 19-5 số tiền 122.823.251 đồng (Số tiền chưa chi
trả)
- Thửa đất số 49, tờ bản đồ 18-5 số tiền 27.030.851 đồng
- Thửa đất số 56, tờ bản đồ 17-5 số tiền 130.386.850 đồng (Bà Huyên đã ký
nhận)
- Thửa đất số 137, tờ bản đồ 21-5 số tiền 12.006.500 đồng
Theo Quyết định số 573/QĐ-UBND ngày 16/5/2011 đối với thửa đất 97,
chưa đăng ký kê khai người sử dụng, số tiền 112.993.300 đồng (bà Huyên đã ký
nhận)
Tổng số tiền là 405.240.752 đồng.
[5.2] Các thửa đất:
* 03 thửa đất ở:
- Thửa 175 có diện tích 211,5m
2
thuộc tờ bản đồ số 16-5 địa chỉ Phố HL, giá
trị thửa đất: 617.495.400 đồng
- Thửa 190 có diện tích 222,7m
2
thuộc tờ bản đồ số 16-5; địa chỉ Phố HL,
giá trị thửa đất: 650.194.920 đồng
- Thửa 193 có diện tích 244,1m
2
thuộc tờ bản đồ số 19-5 địa chỉ Phố HL, giá
trị thửa đất 712.674.360 đồng
* 04 thửa đất trồng lúa:
- Thửa số 49 có diện tích 574,7m
2
, tờ bản đồ số 18-5; Địa chỉ: Nà Luông,
Đoỏng Hoan; Giá trị thửa đất: 46.718.000 đồng
- Thửa số 50 có diện tích 627,3m
2
thuộc tờ bản đồ số 19-5, địa chỉ NB,
Đoỏng Hoan; Giá trị thửa đất: 44.538.300 đồng
32
- Thửa số 36 có diện tích 10,8m
2
thuộc tờ bản đồ số 19-5, địa chỉ PH,
Đoỏng Hoan; Giá trị thửa đất: 27.640.300 đồng
- Thửa số 137 có diện tích 369,3m
2
thuộc tờ bản đồ số 21-5, địa chỉ Bó Pảu,
Đoỏng Đeng; Giá trị thửa đất: 21.710.000 đồng
* 03 thửa đất trồng cây lâu năm:
- Thửa số 115 có diện tích 152m
2
thuộc tờ bản đồ số 22-5; Địa chỉ: Đông
Chả, Đoỏng Đeng; Giá trị thửa đất: 6.992.000 đồng
- Thửa số 106 có diện tích 2.553,4m
2
thuộc tờ bản đồ số 22-5; Địa chỉ:
Đông Chả, Đoỏng Đeng; Giá trị thửa đất: 117.456.400 đồng
- Thửa số 75 có diện tích 635,4m
2
thuộc tờ bản đồ số 21-5; Địa chỉ: Bó Pảu,
Đoỏng Đeng; Giá trị thửa đất: 29.228.400 đồng
* 02 thửa đất trồng thuỷ sản:
- Thửa số 191 có diện tích 40,1m
2
thuộc tờ bản đồ số 16-5; Địa chỉ: Phố HL;
Giá trị thửa đất: 1.764.400 đồng
- Thửa số 192 có diện tích 42,6m
2
thuộc tờ bản đồ số 16-5; Địa chỉ: Phố HL;
Giá trị thửa đất: 1.874.400 đồng
[6] Về mối quan hệ gia đình, hàng thừa kế và diện thừa kế:
Ông Hoàng Văn S2 (chết năm 2010) và bà Triệu Thị M (chết năm 2018) có
07 người con chung gồm:
1. Hoàng Thị D (bị Tòa án tuyên bố chết năm 2020, chồng là Lục Văn Sòi
(chết năm 2007) có 3 người con là Lục Thị Lan H, Lục Văn D (chết năm 2021),
Lục Thị Huyền Tr;
2. Hoàng Thị V
3. Hoàng Thị Tr
4. Hoàng Thị T
5. Hoàng Thị T4 (chết năm 2004) có chồng là Nông Văn Chung, có 2 con là
Nông Thị Thúy K và Nông Thị Bích N.
6. Hoàng Văn B (chết năm 2017), có vợ là Hoàng Thị H và con là Hoàng
Việt V1.
7. Hoàng Lệ T1.
Ngoài ra Ông S2 và bà M không có bố mẹ nuôi, không có con nuôi. Khi Ông
S2 và bà M chết, bố mẹ của Ông S2 và bà M đều đã chết.
33
Do đó, xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của Ông S2 bà M
gồm 7 người con là: Hoàng Thị D (đã chết), Hoàng Thị V, Hoàng Thị Tr, Hoàng
Thị T, Hoàng Thị T4 (đã chết), Hoàng Văn B (đã chết), Hoàng Lệ T1.
[6.1] Những người thừa kế phần di sản của ông Hoàng Văn S2:
Ông Hoàng Văn S2 chết năm 2010. Tại thời điểm Ông S2 chết, bà M và 06
người con còn sống nên đều phát sinh quyền thừa kế đối với di sản của Ông S2 để
lại. Duy nhất có chị Hoàng Thị T4 chết trước (chết năm 2004), do đó 2 con của chị
T2 là Nông Thị Thúy K và Nông Thị Bích N được nhận thừa kế (thừa kế thế vị
phần của mẹ).
Như vậy, phần di sản của Ông S2 chết để lại được chia thành 08 phần, gồm
có bà M, 07 người con, trong đó:
- Năm 2020, bà Hoàng Thị D bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng
tuyên bố là đã chết (theo QĐ số 04/QĐST-DS ngày 25/5/2020) nên phần tài sản bà
D được hưởng thừa kế T Ông S2 sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc hàng
thứ nhất của bà D gồm: 3 người con là Lục Thị Lan H, Lục Văn D (đã chết) và Lục
Thị Huyền Tr. Tuy nhiên Lục Văn D đã chết năm 2021 không có vợ con, nên kỷ
phần của Lục Văn D sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ 2 là chị Lục Thị Lan H
và Lục Thị Huyền Tr.
- Kỷ phần của chị T2 đã chết sẽ chia cho 02 người cháu là Nông Thị Bích N,
Nông Thị Thúy K.
- Hiện nay anh Hoàng Văn B đã chết (chết năm 2017) nên kỷ phần của anh
B được hưởng T Ông S2 sẽ được chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của anh B là
3 người gồm mẹ của anh B là bà Triệu Thị M, vợ của anh B là chị Hoàng Thị H và
con của anh B là Hoàng Việt V1.
[6.2] Những người thừa kế phần di sản của bà Triệu Thị M:
Tại thời điểm bà Triệu Thị M chết (năm 2018) có 5 người con còn sống
(phát sinh quyền thừa kế đối với di sản của bà M để lại), có 2 người con chết trước
bà M là chị Hoàng Thị T4 và anh Hoàng Văn B, do đó kỷ phần của chị Hoàng Thị
T4 được hưởng thừa kế T bà M sẽ do 2 người con của chị T2 là Nông Thị Thúy K
và Nông Thị Bích N được nhận thừa kế (thừa kế thế vị phần của mẹ); kỷ phần của
anh Hoàng Văn B được hưởng thừa kế T bà M sẽ do người con của anh B là
Hoàng Việt V1 nhận thừa kế thế vị.
Năm 2020, bà Hoàng Thị D bị Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng
tuyên bố là đã chết (theo QĐ số 04/QĐST-DS ngày 25/5/2020) nên phần tài sản bà
D được hưởng thừa kế T Ông S2 sẽ được chia cho những người thừa kế thuộc hàng
thứ nhất của bà D gồm: 2 người con là Lục Thị Lan H và Lục Huyền Trang.
34
Phần di sản của bà Triệu Thị M sẽ chia 7 kỷ phần cho 4 người con và 5
người cháu.
[6.3] Chia thừa kế di sản là tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Tổng cộng tiền bồi thường khi thu hồi đất là: 405.240.752 đồng. Đất đã bị
thu hồi là tài sản chung của ông Hoàng Văn S2 và bà Triệu Thị M, do đó tiền bồi
thường khi thu hồi đất được coi là tài sản chung của Ông S2 và bà M và được xác
định là di sản để lại của Ông S2 và bà M. Vì là tài sản chung của vợ chồng nên
Ông S2 và bà M, phần của mỗi người sẽ được xác định là 1/2 giá trị số tiền bồi
thường.
Ông S2 = bà M = 405.240.752 đồng : 2 = 202.620.376 đồng.
* Phần của ông Hoàng Văn S2 chia cho 08 người gồm: D, V, Tr, T, T2,
Bình, T1, Mùi.
202.620.376 đồng : 8 = 25.327.547đồng/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 12.663.773 đồng
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 12.663.773 đồng
Ông Bình đã chết năm 2017 nên phần của ông Bình được chia đều cho bà
M, bà Huyên, anh Vương; Bà M, bà Huyên, anh Vương mỗi người được hưởng
8.442.516 đồng
* Phần của bà Triệu Thị M
202.620.376đồng + 8.442.516đồng (phần của Bình đã chết) +
25.327.547đồng (phần của Ông S2) = 236.390.439đồng : 7 người con =
33.770.063đồng
Do đó, 07 người con là bà D, bà V, bà Tr, bà T, bà T2, ông Bình, bà T1 mỗi
người được hưởng 33.770.063 đồng
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho chị Hương, anh Dũng,
chị Trang; anh Dũng đã chết năm 2021 nên phần của anh Dũng được chia đều cho
chị Hương và chị Trang. Do đó, chị Hương và chị Trang mỗi người được hưởng
16.885.031 đồng
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho chị Kiều và
chị Nga; Chị Kiều và chị Nga mỗi người được hưởng 16.885.031 đồng

35
Ông Bình đã chết nên người thừa kế thế vị là anh Vương được hưởng phần
ông Bình là 33.770.063 đồng.
* Số tiền bồi thường bà Huyên đã nhận: 243.380.150 đồng
Phần của Bà Huyên được nhận theo kỷ phần là 8.442.516 đồng.
Bà Huyên có trách nhiệm thanh toán cho: Bà T, bà V, bà T1 mỗi kỷ phần
được hưởng số tiền là 59.097.610 đồng và thanh toán cho bà Tr số tiền: 57.644.804
đồng.
Các kỷ phần còn lại (Trang, Hương, Kiều, Nga, Vương, Tr) có trách nhiệm
liên hệ với cơ quan nhà nước để nhận số tiền chi trả bồi thường thu hồi đất tương
ứng với kỷ phần mình được chia. Cụ thể: Trang, Hương, Kiều, Nga mỗi kỷ phần
nhận số tiền là 29.548.804 đồng; Vương nhận số tiền: 42.212.579 đồng, Tr nhận số
tiền là: 1.452.807 đồng.
Tuy nhiên, tại đơn phản tố và trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Việt V1 đều trình bày: Do anh Hoàng Việt
V1 và bà Hoàng Thị H là hai mẹ con, hiện sống chung hộ gia đình nên anh Vương
với bà Huyên nhất trí cùng hưởng chung phần di sản thừa kế của Ông S2, bà M để
lại và cùng liên đới thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác theo
quy định. Đồng thời tại phiên toà phúc thẩm: Nguyên đơn, người đại diẹn theo uỷ
quyền của nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn, những có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo và giữ nguyên lời trình bày
tại cấp sơ thẩm. Do đó số tiền bà Huyên có trách nhiệm thanh toán cho bà T là
59.097.610 đồng (theo kỷ phần được hưởng) sẽ được đối trừ cho bà T T số tiền anh
Hoàng Việt V1 được nhận là 42.212.579 đồng. Bà Hoàng Thị T có trách nhiệm
liên hệ với cơ quan nhà nước để nhận số tiền 42.212.579 đồng.
Bà Hoàng Thị H còn phải thanh toán cho bà T số tiền còn thiếu là
59.097.610 đồng - 42.212.579 đồng = 16.885.031 đồng.
[6.4] Chia di sản là các thửa đất ở
* Chia di sản đất bằng giá trị như sau
Tổng diện tích đất ở là 678,3m
2
, tổng giá trị là 1.980.364.680 đồng. Vì là tài
sản chung của vợ chồng nên Ông S2 và bà M, phần của mỗi người sẽ được xác
định là 1/2 tổng diện tích đất ở 678,3 m
2
: 2 = 339,150 m
2
- Phần của ông Hoàng Văn S2 chia đều cho 08 người là 339,150 m
2
: 8 =
42,393 m
2
/ 01 người
36
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 21,2m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kièu và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 21,2m
2
Ông Bình đã chết năm 2017 nên phần của ông Bình được chia đều cho Mùi,
Huyên, Vương; Mùi, Huyên, Vương mỗi người được hưởng 14,131m
2
- Phần của bà Triệu Thị M được chia như sau: 339,150m
2
+ 14,131m
2
+
42,393m
2
= 395,674m
2
: 7 người con = 56,524m
2
/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 28.3m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 28,3m
2
Ông Bình đã chết nên người thừa kế thế vị là ông Vương được hưởng phần
ông Bình là 56,524m
2
Như vậy tổng diện tích đất mỗi kỷ phần tương ứng với giái trị mỗi kỷ phần
là:
Trang được hưởng 49,5m
2
tương ứng với 49,5m
2
x 2.919.600đồng =
144.520.200 đồng
Hương được hưởng 49,5m
2
tương ứng với 49,5m
2
x 2.919.600đồng =
144.520.200 đồng
V được hưởng 98,917m
2
tương ứng với 98,917m
2
x 2.919.600đồng =
288.798.073 đồng
Tr được hưởng 98,917m
2
tương ứng với 98,917m
2
x 2.919.600đồng =
288.798.073 đồng
T được hưởng 98,917m
2
tương ứng với 98,917m
2
x 2.919.600đồng =
288.798.073 đồng
Kiều được hưởng 49,5m
2
tương ứng với 49,5m
2
x 2.919.600đồng =
144.520.200đồng
Nga được hưởng 49,5m
2
tương ứng với 49,5m
2
x 2.919.600đồng =
144.520.200 đồng
37
Huyên được hưởng 14,131m
2
tương ứng với 14,131m
2
x 2.919.600 đồng =
41.256.868 đồng
Vương được hưởng 70,7 m
2
tương ứng với 70,7m
2
x 2.919.600 đồng =
206.415.720 đồng
T1 được hưởng 98,917m
2
tương ứng với 98,917m
2
x 2.919.600đồng =
288.798.073 đồng
* Chia di sản đất bằng hiện vật như sau:
1. Thửa đất số 175 , tờ bản đồ 16-5 , diện tích 211,5 m
2
giá trị thửa đất là
617.495.400 đồng. Chia thành 02 phần giao quyền quản lý sử dụng cụ thể như sau:
- Bà Hoàng Thị T được quyền quản lý sử dụng diện tích là 98,917m
2
tương
đương với diện tích được chia theo kỷ phần được hưởng .
- Chị Lục Thị Lan H và Lục Thị Huyền Tr mỗi người được nhận diện tích
theo kỷ phần được hưởng là 49,5m
2
.
Do kỷ phần của 2 chị Lan Hương và Huyền Trang mỗi người được nhận là
49,5m
2
không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định do đó chị Lục Thị
Huyền Tr sẽ được quản lý sử dụng diện tích đất là 98,917m
2
và có trách nhiệm
thanh toán số tiền là 144.397.576 đồng cho chị Lục Thị Lan H tương đương với kỷ
phần chị Lan Hương được nhận.
- Còn dư 13,7m
2
tương đương với giá trị 13,7m
2
x 2.919.600 đồng =
39.998.520 đồng.
2. Thửa đất số 190, tờ bản đồ số 16-5, diện tích 222,7 m
2
giá trị thửa đất là
650.194.920 đồng, giao quyền quản lý sử dụng cụ thể như sau:
- Bà Hoàng Thị Tr được quyền quản lý sử dụng diện tích là 98,917m
2
tương
đương với diện tích được chia theo kỷ phần được hưởng.
- Anh Hoàng Việt V1 được quyền quản lý sử dụng 70,7m
2
, bà Hoàng Thị H
được quyền quản lý sử dụng 14,131m
2
tương đương với diện tích mỗi kỷ phần
được hưởng.
Tuy nhiên, hiện nay hai mẹ con bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1
đang sinh sống trên thửa đất này, do đó ưu tiên bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt
V1 được quyền quản lý sử dụng thửa đất số 190. Bà Hoàng Thị H và anh Hoàng
Việt V1 cùng có trách nhiệm thanh toán số tiền giá trị chênh lệch cho bà Hoàng
Thị Tr tổng số tiền là 288.798.073đồng.
- Còn dư 38,953m
2
tương đương với giá trị là 38,953m
2
x 2.919.600 đồng =
113.727.179 đồng.
38
3. Thửa đất số 193, tờ bản đồ số diện tích 244,1m
2
giá trị thửa đất là
712.674.360đồng, giao quyền quản lý sử dụng cho 2 người cụ thể như sau:
- Bà Hoàng Thị V được quyền quản lý sử dụng 98,917m
2
- Bà Hoàng Lệ T1 được quyền quản lý sử dụng 98,917m
2
- Còn dư 46,266m
2
tương đương với giá trị là 46,266m
2
x 2.919.600 đồng =
135.078.214đồng.
- Chị Nông Thị Thúy K, Nông Thị Bích N mỗi người được chia diện tích là
49,5m
2
tương ứng với kỷ phần được hưởng với giá trị là 144.397.576 đồng mỗi
người, với tổng diện tích 2 người được nhận là 98,91m
2
(13,7m
2
+ 38,953m
2
+
46,266m
2
), gồm 13,7m
2
trong thửa 175, tờ bản đồ số 16-5, diện tích 38,953m
2
trong thửa 190, tờ bản đồ số 16-5 và diện tích 46,266m
2
trong thửa số 193, tờ bản
đồ số 19-5.
Tuy nhiên số diện tích được nhận không đủ để tách thửa do đó:
+ Đối với diện tích 13,7m
2
còn dư trong thửa 175, tờ bản đồ số 16-5, giao bà
Hoàng Thị T được quyền quản lý sử dụng 6,85m
2
, chị Lục Thị Huyền Tr được
quyền quản lý sử dụng 6,85m
2
, bà T và chị Trang, mỗi người trách nhiệm thanh
toán giá trị chênh lệch cho chị Nông Thị Thúy K và Nông Thị Bích N.
+ Đối với diện tích 38,953m
2
còn dư trong thửa 190, tờ bản đồ số 16-5 giao
cho anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H được quyền quản lý sử dụng và có
trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho chị Nông Thị Thúy K và Nông Thị
Bích N.
+ Đối với diện tích 46,266m
2
còn dư trong thửa số 193, tờ bản đồ số 19-5
giao cho bà Hoàng Thị V và bà Hoàng Lệ T1, mỗi người được quyền quản lý sử
dụng diện tích 23,133m
2
có trách nhiệm thanh toán giá trị chênh lệch cho chị Nông
Thị Thúy K và Nông Thị Bích N.
Như vậy, chị Nông Thị Thúy K và Nông Thị Bích N, mỗi người được thanh
toán giá trị bằng tiền là 144.397.576 đồng.
+ Do đó bà Hoàng Thị T có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy
K là 9.999.630 đồng, bà Hoàng Thị T có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị
Bích N là 9.999.630 đồng.
+ Chị Lục Thị Huyền Tr có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy
K là 9.999.630 đồng, chị Lục Thị Huyền Tr có trách nhiệm thanh toán cho chị
Nông Thị Bích N là 9.999.630 đồng.
39
+ Anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H cùng có trách nhiệm liên đới
thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K số tiền là 56.863.589 đồng, thanh toán cho
chị Nông Thị Bích N số tiền là 56.863.589 đồng.
+ Bà Hoàng Thị V có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K số
tiền là 33.769.553 đồng, bà Hoàng Thị V có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông
Thị Bích N số tiền là 33.769.553 đồng.
+ Bà Hoàng Lệ T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K là
số tiền là 33.769.553 đồng, bà Hoàng Lệ T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị
Nông Thị Bích N số tiền là 33.769.553 đồng.
[6.5] Chia thừa kế di sản phần đất trồng lúa và đất nuôi trồng thuỷ sản (ao)
Tổng diện tích là 1.664,8m
2
, tương ứng với tổng giá trị là 118.200.800 đồng.
Vì là tài sản chung của vợ chồng nên Ông S2 và bà M, phần của mỗi người sẽ
được xác định là 1/2 tổng diện tích đất trồng lúa: 1.664,8 m
2
: 2 = 832,4 m
2
* Phần của ông Hoàng Văn S2 sẽ chia 832,4 m
2
: 8 = 104,05 m
2
/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 52,025m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 52,025m
2
Ông Bình đã chết năm 2017 nên phần của ông Bình được chia đều cho Mùi,
Huyên, Vương; Mùi, Huyên, Vương mỗi người được hưởng 34,683m
2
* Phần của bà Triệu Thị M sẽ chia 832,4 m
2
+ 104,05 m
2
+ 34,683m
2
=
971,133m
2
:7 người con = 138,733m
2
/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 69,366m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 69,366m
2
Ông Bình đã chết nên người thừa kế thế vị là anh Vương được hưởng phần
ông Bình là 138,766m
2
Như vậy tổng diện tích đất mỗi kỷ phần tương ứng với giái trị mỗi kỷ phần
là:
Trang được hưởng 121,391m
2
tương ứng với 121,391m
2
x 71.000đồng =
8.618.761 đồng
40
Hương được hưởng 121,391m
2
tương ứng với 121,391m
2
x 71.000đồng =
8.618.761 đồng
V được hưởng 104,05m
2
+ 138,733m
2
= 242,783m
2
tương ứng với
242,783m
2
x 71.000đồng = 17.237.593 đồng
Tr được hưởng 104,05m
2
+ 138,733m
2
= 242,783m
2
tương ứng với
242,783m
2
x 71.000đồng = 17.237.593 đồng
T được hưởng 104,05m
2
+ 138,733m
2
= 242,783m
2
tương ứng với
242,783m
2
x 71.000đồng = 17.237.593 đồng
Kiều được hưởng 121,391m
2
tương ứng với 121,391m
2
x 71.000đồng =
8.618.761 đồng
Nga được hưởng 121,391m
2
tương ứng với 121,391m
2
x 71.000đồng =
8.618.761 đồng
Huyên được hưởng 34,683m
2
tương ứng với 34,683m
2
x 71.000đồng =
2.462.493 đồng
Vương được hưởng 34,683m
2
+ 138,733m
2
= 173,416 m
2
tương ứng với
173,416m
2
x 71.000đồng = 12.312.536đồng
T1 được hưởng 104,05m
2
+ 138,733m
2
= 242,783m
2
tương ứng với
242,783m
2
x 71.000đồng = 17.237.593 đồng
* Chia đất trồng lúa và đất nuôi trồng thuỷ sản bằng hiện vật mỗi kỉ phần
như sau:
1. Thửa số 50, tờ bản đồ 19-5, diện tích 627,3m
2
; giá trị là 627,3m
2
x 71.000
đồng = 44.538.300 đồng
Ba người quản lý sử dụng: bà Tr, anh Vương, chị Kiều. Trong đó: bà Tr:
242,783m
2
= 17.237.593 đồng; anh Vương:
173,416 m
2
= 12.312.536 đồng; Kiều:
121,391m
2
= 8.618.761 đồng
Tổng 537,59m
2
= 38.168.890 đồng; còn dư: 89,71m
2
Tr, Vương, Kiều mỗi
người quản lý sử dụng 29,9m
2
; diện tích còn dư 89,71m
2
x 71.000đồng =
6.369.410 đồng nên bà Tr thanh toán cho chị Trang: 2.123.137đồng; Vương thanh
toán cho Trang: 2.123.137đồng; chị Kiều thanh toán cho chị Trang: 2.123.137đồng
2. Thửa số 49, tờ bản đồ 19-5, diện tích 574,7m
2
; giá trị 574,7m
2
x 71.000
đồng = 40.803.700 đồng
Ba người quản lý sử dụng: bà T1, bà V, chị Nga. Trong đó: bà T1:
200,183m
2
; V: 242,783m
2
; chị Nga:
121,391m
2
41
Tổng 564,357m
2
còn dư: 10,343m
2
x 71.000đồng = 734.353 đồng nên bà
T1, bà V, chị Nga mỗi người thanh toán cho chị Trang số tiền: 244.784 đồng
3. Thửa số 137, tờ bản đồ 21-5, diện tích 369,3m
2
; giá trị 369,3m
2
x 50.000
đồng = 26.220.300 đồng
Hai 2 người quản lý sử dụng: bà T, chị Hương. Trong đó: bà T quản lý sử
dụng 242,783m
2
; chị Hương quản lý, sử dụng: 121,391m
2
Tổng 364,174m
2
; còn dư 5,126m
2
x 50.000đồng = 256.300 đồng nên bà T,
chị Hương mỗi người thanh toán cho chị Trang số tiền:128.150 đồng
4. Thửa số 191, tờ bản đồ 16-5, diện tích 40,1m
2
; giá trị 40,1m
2
x 44.000
đồng = 2.847.100 đồng
Giao cho bà Huyên quản lý, sử dụng: 34,683m
2
Còn dư 5,417m
2
x 44.000 đồng = 238.348 đồng; bà Huyên thanh toán giá trị
bằng tiền cho chị Trang là 238.348 đồng.
5. Thửa số 192, tờ bản đồ 16-5, diện tích 42,6m
2
; giá trị 42,6m
2
x 44.000
đồng = 3.024.600 đồng: Giao cho bà T1 được quyền quản lý sử dụng, do diện tích
đất này hiện nay liền thửa với diện tích đất bà T1 đang ở.
6. Thửa số 36, tờ bản đồ 19-5, diện tích 10,8m
2
; giá trị 10,8m
2
x 71.000
đồng = 766.800 đồng: Giao cho chị Trang được quản lý sử dụng 10,8m
2
đất này.
[6.6] Di sản thừa kế là đất trồng cây lâu năm
Tổng diện tích 3.340,8m
2
tương ứng với tổng giá trị là 153.676.800 đồng. Vì
là tài sản chung của vợ chồng nên Ông S2 và bà M, phần của mỗi người sẽ được
xác định là 1/2 tổng diện tích đất trồng cây lâu năm là 3.340,8m
2
: 2 = 1.670,4m
2
* Phần của ông Hoàng Văn S2
Chia cho 08 người 1.670,4 m
2
: 8 = 208,8 m
2
/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 104,4m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 104,4m
2
Ông Bình đã chết năm 2017 nên phần của ông Bình được chia đều cho baf
Mùi, bà Huyên, anh Vương; bà M, bà Huyên, anh Vương mỗi người được hưởng
69,6m
2
42
* Phần của bà Triệu Thị M được chia như sau: 1.670,4 m
2
+ 208,8 m
2
+
69,6m
2
= 1.948,8m
2
:7 người con = 278,4m
2
/ 01 người
Bà D đã chết nên phần của bà D được chia đều cho Hương, Dũng, Trang;
Dũng đã chết năm 2021 nên phần của Dũng được chia đều cho Hương và Trang.
Do đó, Hương và Trang mỗi người được hưởng 139,2m
2
Bà T2 đã chết năm 2004, nên phần của bà T2 được chia đều cho Kiều và
Nga; Kiều và Nga mỗi người được hưởng 139,2m
2
Ông Bình đã chết nên người thừa kế thế vị là ông Vương được hưởng phần
ông Bình là 278,4m
2
Như vậy tổng diện tích đất trồng cây lâu năm mỗi kỷ phần tương ứng với giá
trị là:
Trang được hưởng 243,6m
2
tương ứng với 243,6m
2
x 46.000đồng =
11.205.600 đồng
Hương được hưởng 243,6m
2
tương ứng với 243,6m
2
x 46.000đồng =
11.205.600 đồng
V được hưởng 487,2m
2
tương ứng với 487,2m
2
x 46.000đồng = 22.411.200
đồng
Tr được hưởng 487,2m
2
tương ứng với 487,2m
2
x 46.000đồng = 22.411.200
đồng
T được hưởng 487,2m
2
tương ứng với 487,2m
2
x 46.000đồng = 22.411.200
đồng
Kiều được hưởng 243,6m
2
tương ứng với 243,6m
2
x 46.000đồng =
11.205.600 đồng
Nga được hưởng 243,6m
2
tương ứng với 243,6m
2
x 46.000đồng =
11.205.600 đồng
Huyên được hưởng 69,6m
2
tương ứng với 69,6m
2
x 46.000đồng = 3.201.600
đồng
Vương được hưởng 348m
2
tương ứng với 348m
2
x 46.000đồng =
16.008.000 đồng
T1 được hưởng 487,2m
2
tương ứng với 487,2m
2
x 46.000đồng = 22.411.200
đồng
* Chia đất trồng cây lâu năm bằng hiện vật:
43
1. Thửa đất số 115, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 152m
2
; giá trị 152m
2
x
46.000 đồng = 6.992.000 đồng
Giao cho Vương được quản lý sử dụng toàn bộ thửa 115 với diện tích 152m
2
2. Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 2.553,4m
2
; giá trị 2.553,4m
2
x 46.000 đồng = 117.456.400 đồng
Giao cho T, V, T1, Nga, Trang, Hương, Kiều được quyền quản lý sử dụng
thửa 106 tương đương với diện tích mỗi người được hưởng theo kỷ phần: T = V =
T1 = 487,2m
2
; Nga = Hương = Trang=Kiều= 243,6m
2
.
Tổng diện tích là 2.436m
2
, dư 117.4m
2
x 46.000đồng = 5.400.400đồng
Bà T, bà V, bà T1 mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho anh Vương
1.080.080 đồng.
Chị Nga, Hương, Trang, Kiều mỗi người thanh toán cho anh Vương
540.040đồng.
3. Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 635,4m
2
; giá trị 635,4m
2
x
46.000 đồng = 29.228.400 đồng
Giao cho 2 người quản lý sử dụng là Tr và Huyên; Trong đó Tr quản lý, sử
dụng 487,2m
2
; Huyên quản lý, sử dụng 69,6m
2
Tổng là 556.8m
2
; dư 78.6m
2
x 46.000đồng = 3.615.600đồng
Tr thanh toán cho Vương số tiền 1.807.800đồng; Huyên thanh toán cho
Vương số tiền 1.807.800đồng.
[7] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá
tài sản là 11.000.000 đồng. Bà Hoàng Thị T và bà Hoàng Lệ T1 đã tạm nộp trước
6.000.000 đồng, bà Hoàng Thị H đã tạm nộp trước số tiền 5.000.000 đồng. Hội
đồng xem xét thẩm định đã chi phí hết số tiền 11.000.000 đồng. Các đương sự phải
chịu chi phí tố tụng tương ứng với giá trị tài sản được chia. Bà Hoàng Thị T và
Hoàng Lệ T1 tự nguyện chịu phần chi phí tố tụng của: V, Tr, Trang, Hương, Kiều,
Nga.
Những người cùng hàng thừa kế được chia kỷ phần bằng nhau của 1 suất
thừa kế (tiền bồi thường, đất ở, đất trồng cây lâu năm) đều bằng nhau; tuy nhiên do
chia bằng hiện vật và mỗi thửa đất trồng lúa có giá trị khác nhau nên tổng cộng giá
trị kỷ phần của mỗi người là khác nhau.
Bà Huyên được chia giá trị kỷ phần là: 55.363.477 đồng; Anh Vương được
chia giá trị kỷ phần là 276.948.835 đồng. Các chị Trang, Hương, Nga, Kiều mỗi
44
người được chia giá trị kỷ phần là 193.839.365 đồng. Các bà Tr, bà V, bà T1 được
chia giá trị kỷ phần là 387.544.476 đồng.
Bà T được chia giá trị kỷ phần là: 382.446.033đồng.
Do đó, bà Huyên phải nộp số tiền chi phí tố tụng là 671.000 đồng, bà Huyên
đã nộp 5.000.000 đồng nên bà Huyên được trả lại 4.329.000 đồng
Anh Vương phải nộp số tiền chi phí tố tụng là 3.333.000 đồng để trả cho bà
Huyên.
Bà T và bà T1 phải nộp số tiền chi phí tố tụng là 6.996.000 đồng, đã nộp
6.000.000 đồng nên phải nộp thêm 996.000 đồng để trả cho bà Huyên.
[8] Về án phí:
Bà Hoàng Thị T, chị Lục Thị Huyền Tr, chị Nông Thị Bích N phải nộp án
phí theo quy định của pháp luật tương ứng với phần tài sản được nhận.
Bà T phải nộp 382.446.033 đồng x 5% = 19.122.302 đồng, bà T đã nộp
300.000 đồng tạm ứng án phí nên số tiền còn phải nộp là 18.822.302 đồng.
Chị Trang, chị Nga phải nộp: 193.893.365 x 5% = 9.694.668 đồng.
Bà Huyên, anh Vương, bà T1, bà V, bà Tr, chị Kiều, bà Hương có đơn xin
miễn án phí và thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã
hội có điều kiện đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
Áp dụng án lệ số 04/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
Căn cứ các điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng
Chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Lệ T1, chị Nông Thị
Bích N, chị Nông Thị Thuý K2

45
Không chấp nhận kháng cáo của bà Hoàng Thị H, anh Hoàng Việt V1
Sửa toàn bộ bản án sơ thẩm số 16/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án
nhân dân huyện H, tỉnh Cao Bằng
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hoàng Thị T về việc chia di
sản thừa kế của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M.
3. Xác định di chúc của ông Hoàng Văn S2 lập vào năm 2009 là di chúc
không hợp pháp.
4. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị T và những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về chia thừa kế đối với số tiền lợi tức mà bà
Hoàng Thị H có được trong thời gian quản lý di sản của ông Hoàng Văn S2 và yêu
cầu phản tố của bà Hoàng Thị H về việc xem xét được hưởng công sức bảo quản,
giữ gìn di sản và yêu cầu thanh toán mai táng phí.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Hoàng Thị H và không chấp
nhận yêu cầu độc lập của anh Hoàng Việt V1 về chia tài sản chung của hộ gia đình,
chia thừa kế theo di chúc đối với phần di sản của ông Hoàng Văn S2 và chia thừa
kế theo pháp luật đối với di sản của bà Triệu Thị M.
6. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của anh Hoàng Việt V1 về việc chia di sản
thừa kế đối với các thửa đất mà Ông S2, bà M đã chuyển nhượng cho bà T, ông
Cường, bà Tr, ông Phổ và bà T1, ông Quân gồm thửa đất số 186, tờ bản đồ 16-5; các
thửa đất số 120, 121, 134, 154 và thửa 155 cùng tờ bản đồ 16-5, cùng địa chỉ đất tại:
Đoỏng Hoan, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng.
7. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của bà Hoàng Thị T và những người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với 01 cái ao cá đằng sau nhà của bà Hoàng
Thị H đang ở, các thửa đất Khum Toi, thửa đất Ngườm Thong và các tài sản là trâu
bò, hoa màu liệt kê trong di chúc của ông Hoàng Văn S2.
8. Việc phân chia cụ thể như sau:
8.1 Tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất:
Bà Hoàng Thị H có trách nhiệm thanh toán cho: Bà T, bà V, bà T1 mỗi
người số tiền là 59.097.610 đồng và thanh toán cho bà Tr số tiền: 57.644.804 đồng.
Các kỷ phần còn lại (chị Trang, chị Hương, chị Kiều, chị Nga, anh Vương,
bà Tr) có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước để nhận số tiền chi trả bồi
thường thu hồi đất tương ứng với kỷ phần mình được chia. Cụ thể: chị Trang, chị
Hương, chị Kiều, chị Nga mỗi kỷ phần nhận số tiền là 29.548.804 đồng; anh
Vương nhận số tiền: 42.212.579 đồng, bà Tr nhận số tiền là: 1.452.807 đồng.

46
Tuy nhiên, do anh Vương với bà Huyên nhất trí cùng hưởng chung phần di
sản thừa kế của Ông S2, bà M để lại và cùng liên đới thanh toán giá trị chênh lệch
cho các đồng thừa kế khác theo quy định. Do đó số tiền bà Huyên có trách nhiệm
thanh toán cho bà T là 59.097.610 đồng (theo kỷ phần được hưởng) sẽ được đối trừ
cho bà T T số tiền anh Hoàng Việt V1 được nhận là 42.212.579 đồng. Bà Hoàng
Thị T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước để nhận số tiền 42.212.579
đồng.
Bà Hoàng Thị H còn phải thanh toán cho bà T số tiền còn thiếu là
59.097.610 đồng - 42.212.579 đồng = 16.885.031 đồng.
8.2 Đất ở:
* Giao cho bà Hoàng Thị T và chị Lục Thị Huyền Tr đồng quản lý, sử dụng:
Thửa đất số 175, tờ bản đồ số 16-5, diện tích 211,5m
2
, loại đất ở đô thị,
địa chỉ tại:
Phố HL, thị trấn TN, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp thửa 167; phía Nam giáp
chợ cũ Hạ Lang; phía Đông giáp thửa 176; phía Tây giáp đường giao thông đi xã
Vinh Quý.
* Giao cho bà Hoàng Thị H và anh Hoàng Việt V1 đồng quản lý, sử dụng:
Thửa đất số 190, tờ bản đồ 16-5 diện tích 222,7m2, là đất ở đô thị, địa chỉ đất tại:
Phố HL, thị trấn TN, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp
đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa 223 là khu bể xử lý nước thải
thị trấn Thanh Nhật; phía Đông giáp thửa đất 188 là đất của ông Lương Văn Đại;
phía Tây thửa đất số 186 của gia đình bà Hoàng Lệ T1. Bà Huyên, anh Vương có
quyền sở hữu tài sản trên đất gồm có 01 nhà cấp 4 có 02 tầng, liền kề đằng sau có
01 nhà bếp.
* Giao cho bà Hoàng Thị V và bà Hoàng Lệ T1 đồng quản lý sử dụng: Thửa
đất số 193, tờ bản đồ 16-5, diện tích 244,1m
2
, loại đất ở đô thị,
địa chỉ đất tại: Phố
HL, thị trấn TN, tên gọi theo tiếng địa phương là Nà Pác Keo (Tẩu Háng), có tứ
cận tiếp giáp: Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa
đất 186 của hộ gia đình bà Hoàng Lệ T1; phía Đông giáp thửa 260 của hộ gia đình
bà Hoàng Lệ T1; phía Tây giáp suối.
Các đồng quản lý, sử dụng có quyền thoả thuận về cách quản lý, sử dụng tài
sản đối với phần tài sản được chia và liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Thanh toán giá trị chênh lệch đối với phần đất ở được quản lý, sử dụng:
- Bà Hoàng Thị T có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K số
tiền 9.999.630 đồng;
47
- Bà Hoàng Thị T có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Bích N số
tiền 9.999.630 đồng.
- Chị Lục Thị Huyền Tr có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K
số tiền 9.999.630 đồng;
- Chị Lục Thị Huyền Tr có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Bích N
số tiền 9.999.630 đồng.
- Anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H cùng có trách nhiệm liên đới thanh
toán cho bà Hoàng Thị Tr số tiền là 288.798.073 đồng.
- Anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H cùng có trách nhiệm liên đới thanh
toán cho chị Nông Thị Thúy K số tiền là 56.863.589 đồng.
- Anh Hoàng Việt V1 và bà Hoàng Thị H cùng có trách nhiệm liên đới thanh
toán cho chị Nông Thị Bích N số tiền là 56.863.589 đồng.
- Bà Hoàng Thị V có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K số
tiền là 33.769.553 đồng
- Bà Hoàng Thị V có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Bích N số
tiền là 33.769.553 đồng.
- Bà Hoàng Lệ T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Thúy K là số
tiền là 33.769.553 đồng
- Bà Hoàng Lệ T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị Nông Thị Bích N số
tiền là 33.769.553 đồng.
8.3 Đất trồng lúa và đất nuôi trồng thuỷ sản (ao):
* Giao cho bà Hoàng Lệ T1, bà Hoàng Thị V, bà Nông Thị Bích N đồng
quản lý, sử dụng: Thửa đất số 49, tờ bản đồ số 18-5, diện tích 574,7m2 và giá trị
83,3m2 đất thuộc thửa số 49, tờ bản đồ 18-5, đã được Nhà nước thu hồi trị giá
27.030.851 đồng, thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa 149; phía Nam giáp thửa
đất số 60 và thửa đất số 59; phía Tây giáp thửa đất số 51; phía Đông giáp thửa đất
số 48.
* Giao cho bà Hoàng Thị Tr, anh Hoàng Việt V1, chị Nông Thị Thuý K2
đồng quản lý, sử dụng: Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 19-5, diện tích 627,3m2, là đất
trồng lúa, địa chỉ: Nà Boóng, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận:
Phía Bắc giáp đường giao thông đi xã Thị Hoa; phía Nam giáp thửa đất số 61; phía
Tây giáp thửa đất số 49; phía Đông giáp thửa đất số 51. Hiện trạng, thửa đất có bờ
thửa, ranh giới rõ ràng, trên đất không có tài sản gì.
48
* Giao cho chị Lục Thị Huyền Tr quản lý, sử dụng: Thửa đất số 36, tờ bản
đồ số 19-5, diện tích 389,3m2, loại đất trồng lúa, địa chỉ đất tại: PH, thị trấn TN,
huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp mương và thửa đất số 24; phía
Nam giáp thửa đất số 109 và thửa đất số 38; phía Tây giáp thửa đất số 147; phía
Đông giáp thửa đất số 34. Hiện trạng, thửa đất 36 này đã được Nhà nước thu hồi
diện tích là 378,5m
2
để làm đường tránh 208 (đường giao thông), diện tích đất còn
lại là 10,8m
2
, trên đất là con đường đang thi công, không có tài sản gì trên đất.
* Giao cho bà Hoàng Thị T và chị Lục Thị Lan H đồng quản lý, sử dụng:
Thửa đất số 137, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 369,3m2 địa chỉ thửa đất tại: Bó Pảu,
thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 107,
thửa đất số 133 là đất của ông Nông Văn Long, bà Hoàng Thị Thuý; phía Nam
giáp thửa đất số 11, thửa số 27 và thửa số 26 tờ bản đồ 26-5 là đất của bà Nông Thị
Ỏng, ông Nông Văn Tràng, bà Nông Thị Non; phía Đông giáp thửa đất số 109 và
thửa đất số 34 là đất của ông Hoàng Văn Xuân, Hoàng Văn Hải; phía Tây giáp
thửa đất số 138 là đất ông Nông Văn Hưng và thửa đất số 133 của ông Nông Văn
Long, bà Hoàng Thị Thuý.
* Giao cho bà Hoàng Thị H được quyền quản lý sử dụng diện tích 40,1m
2
thuộc thửa đất số 191, tờ bản đồ số 16-5, là loại đất nuôi trồng thủy san (ao) theo
bản đồ trích đo nằm trong thửa 191, tờ bản đồ số 16-5.
* Giao cho bà Hoàng Lệ T1 được quyền quản lý sử dụng diện tích 42,6m
2
thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ 16-5, là loại đất nuôi trồng thủy sản (ao) có tứ cận
như sau: phía Bắc giáp thửa 260, phía Nam giáp thửa 225, phía Tây giáp thửa 223
(bể xử lý nước thải thị trấn Thanh Nhật), phía Đông giáp thửa 190 của ông Hoàng
Văn S2, bà Triệu Thị M.
Các đồng quản lý, sử dụng có quyền thoả thuận về cách quản lý, sử dụng tài
sản đối với phần tài sản được chia và liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Thanh toán giá trị chênh lệch đối với phần đất trồng lúa và đất nuôi trồng
thuỷ sản (ao) được quản lý, sử dụng:
- Bà Hoàng Lệ T1, bà Hoàng Thị V, chị Nông Thị Bích N mỗi người thanh
toán cho chị Lục Thị Huyền Tr số tiền: 244.784 đồng
- Bà Hoàng Thị Tr thanh toán cho chị Lục Thị Huyền Tr số tiền 2.123.137
đồng;
- Anh Hoàng Việt V1 thanh toán cho Lục Thị Huyền Tr số tiền 2.123.137
đồng;
49
- Chị Nông Thị Thuý K2 thanh toán cho chị Lục Thị Huyền Tr số tiền
2.123.137 đồng
- Bà Hoàng Thị T và chị Lục Thị Lan H mỗi người thanh toán cho chị Lục
Thị Huyền Tr số tiền 128.150 đồng
- Bà Hoàng Thị H thanh toán cho chị Lục Thị Huyền Tr số tiền 238.348
đồng.
8.4 Đất trồng cây lâu năm:
* Giao cho anh Hoàng Việt V1 quản lý, sử dụng: Thửa đất số 115, tờ bản đồ
số 22-5, diện tích 152,0m2, là đất trồng cây hàng năm khác, địa chỉ đất: Đông Chả,
thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, đất có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 106
là đất của ông Hoàng Văn S2; phía Nam giáp mương thuỷ lợi và thửa đất số 114 là
đất của bà Thẩm Thị Lích, Lương Thị Hiền; phía Tây giáp các thửa đất số 107, 108
là đất của ông Hoàng Xuân Hình và thửa đất số 112 của bà Thẩm Thị Lích; phía
Đông giáp mương thuỷ lợi.
* Giao cho bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị V, bà Hoàng Thị T1, chị Nông
Thị Bích N, chị Lục Thị Lan H, chị Lục Thị Huyền Tr, chị Nông Thị Thuý K2
đồng quản lý, sử dụng: Thửa đất số 106, tờ bản đồ số 22-5, diện tích 2.553,4m
2
, là
đất trồng cây hàng năm, địa chỉ đất: Đông Chả, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao
Bằng, có tứ cận: Phía Bắc giáp thửa đất số 80, 160, 79; phía Nam giáp các thửa đất
số 115, 116 và 117 là đất của ông Hoàng Văn S2, ông Hoàng Xuân Hình, ông
Hoàng Văn Sắm; phía Tây giáp các thửa đất số 107, 82 của ông Hoàng Xuân Hình;
phía Đông giáp các thửa đất số 79, 93, 105 của bà Lý Thị Lộc. Hiện trạng, trên đất
có 03 ngôi mộ của ông Hoàng Văn S2, bà Triệu Thị M và anh Hoàng Văn B (đều
đã chết); trên đất trồng cây ngô đã thu hoạch; thửa đất có bờ thửa, ranh giới rõ
ràng.
* Giao cho bà Hoàng Thị Tr và bà Hoàng Thị H đồng quản lý, sử dụng:
Thửa đất số 75, tờ bản đồ số 21-5, diện tích 635,4m2, là đất trồng cây hàng năm
khác, địa chỉ đất: Bó Pảu, thị trấn TN, huyện HL, tỉnh Cao Bằng, có tứ cận: Phía
Bắc giáp thửa đất số 74, 76 là đất của ông Khoảng Văn Lục; phía Nam giáp mương
thuỷ lợi; phía Tây giáp thửa đất 57 là đất của ông Hoàng Xuân Hình; phía Đông
giáp thửa đất số 79 là đất của ông Hoàng Xuân Hình.
Các đồng quản lý, sử dụng có quyền thoả thuận về cách quản lý, sử dụng tài
sản đối với phần tài sản được chia và liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm
thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Thanh toán giá trị chênh lệch đối với phần đất trồng cây lâu năm được
quản lý sử dụng:
50
- Bà T, bà V, bà T1 mỗi người có trách nhiệm thanh toán cho anh Vương số
tiền 1.080.080 đồng.
- Chị Nga, chị Hương, chị Trang, chị Kiều mỗi người có trách nhiệm thanh
toán cho anh Vương số tiền 540.040 đồng.
- Bà Tr có trách nhiệm thanh toán cho anh Vương số tiền 1.807.800 đồng
- Bà Huyên có trách nhiệm thanh toán cho anh Vương số tiền 1.807.800
đồng
9. Về chi phí tố tụng:
Bà Hoàng Thị H được trả lại 4.329.000 đồng chi phí tố tụng.
Anh Hoàng Việt V1 phải nộp số tiền chi phí tố tụng là 3.333.000 đồng để trả
cho bà Huyên.
Bà Hoàng Thị T và bà Hoàng Lệ T1 liên đới nộp số tiền chi phí tố tụng là
996.000 đồng để trả cho bà Huyên.
10. Về án phí:
Bà Huyên, anh Vương, bà T1, bà V, bà Tr, chị Kiều, bà Hương được miễn
án phí.
Bà T phải nộp 382.446.033 đồng x 5% = 19.122.302 đồng, bà T đã nộp
300.000 đồng tạm ứng án phí nên số tiền còn phải nộp là 18.822.302 đồng.
Chị Nga phải nộp: 193.893.365 x 5% = 9.694.668 đồng.
Chị Trang phải nộp 193.639.813đồng x 5% = 9.681.991đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể T ngày tuyên án./.

51
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- TAND huyện H;
- Chi cục THADS huyện H;
- Các bên đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngôn Ngọc Viên
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm