Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 16/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 16/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 71/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Võ Hoàng V - Sầm Văn N phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH LÂM ĐỒNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 71/2026/HS-PT
Ngày: 16-4-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Phong Lan.
Các Thẩm phán: Ông Lương Thanh Chín
Ông Nguyễn Lê Phương
- Thư ký phiên tòa: Dụng Thị Mỹ Ái, Thư viên a án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng -
sở 1 xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số 78/2026/TLPT-
HS ngày 18 tháng 3 năm 2026, đối với các bị cáo Hoàng V Sằm Văn N, do
kháng cáo của các bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2026/HS-ST
ngày 15 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 14 - Lâm Đồng.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Võ Hoàng V, sinh năm 1993, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Thôn A, xã T,
tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông
Trung L và Trần Thị V1; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo hiện bị
áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
2. Sằm Văn N, sinh năm 1984, tại Tuyên Quang; Nơi trú: Thôn B,
T, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn):
12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con
ông Sằm Văn N1 và bà Trần Thị V2; có vợ Lục Thị Hồng T và 03 con; Tiền án,
tiền sự, nhân thân: không; Bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
trú. Bị cáo tại ngoại; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Vào khoảng 19 giờ ngày 04/4/2025, Hoàng V và Sằm Văn N đang ngồi
nhậu tại nhà của Trn Hữu T1, Thôn B, T, tỉnh Lâm Đồng cùng với Trần
Hữu T1 02 người tên thường gọi là M và T1. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày,
V nghe Nguyễn Thanh Q đang ở nhà Q (cách chỗ V ngồi nhậu khoảng 100 mét)
chửi bới lớn tiếng nhưng không rõ nội dung gì và chửi bới ai. Do có quen biết Q
nên V đi ra khỏi bàn nhậu và lấy điện thoại gọi cho Q nói: Giờ này khuya rồi sao
không ngủ đi chửi bới um sùm”, Q trả lời: Tao chửi tụi nó, không liên quan
đến mày, mày bênh vực tụi nó hả”, thì giữa V và Q có xảy ra cãi nhau qua lại, rồi
V tắt điện thoại và quay vào bàn tiếp tục nhậu. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng
ngày, V không nhậu nữa nên một mình điều khiển xe môtô chạy đi về trước, khi
chạy ngang qua nhà Q nhìn thấy Q đang đứng trước nhà bên trong cửa cổng chửi
bới lớn tiếng nên V điều khiển xe môtô dừng lại trước cổng nhà Q và nói với Q:
Giờ này không chịu ngủ mà còn chửi ai um sùm vậy anh, Q trả lời: “Mày muốn
sao tới nhà tao, mày bênh vực mấy thằng xe múc xích mích với tao hả”, V nói:
Từ từ nói chuyện anh”, thấy Q tiếp tục chửi tục thì V liền điều khiển xe môtô
tông ngã cổng rào nhà Q làm cho xe môtô và V cùng té ngã. V đứng dậy đi o
bên trong sân nhà Q cách cổng rào khoảng 10 mét mục đích đánh Q, thấy V đi
vào sân nn Q chạy vào nhà bếp phía sau nhà lấy ra 01 dao phay (dài khoảng
55cm có phần lưỡi bng kim loại dài khoảng 40cm, phần cán bằng gỗ dài khong
15cm) cầm trên tay phải và 01 cây rựa (dài khoảng 57cm có phần lưỡi bằng kim
loại dài khoảng 37cm, phần cán bằng gỗ bị gãy mất một đoạn dài khoảng 20cm)
cầm trên tay trái chạy ra đứng cách V 02 mét nhằm mục đích dọa để V
không dám đánh cả hai lời qua tiếng lại cãi nhau. Thấy Q cầm hung khí
nhưng không tấn công nên V bước đến chỗ Q, thì Q cầm hung khí lùi lại về phía
sau. Cùng lúc này, Sằm Văn N chạy xe môtô đến trước cổng nhà Q nhìn thấy Q
đang cầm rựa và dao phay cãi nhau với V nên N dừng xe môtô ở bên ngoài cổng
và đi bộ vào trong sân nhà Q với mục đích giúp V đánh Q. Nghiệp đi tới vị trí bụi
cây trong sân nhà hai tay nhặt 02 viên gạch ống loại gạch xây 04 lỗ màu đỏ, kích
thước (20 x 10)cm cầm trên tay. Lúc này khi V bước tới thì Q đi lùi lại đến đứng
trên vị trí hàng ba, V áp sát theo Q đứng tại vị trí nn đất dưới hàng ba đối diện
Q, N từ bụi cây đi tới dùng 01 viên gạch ống ném về phía Q nhưng không trúng
Q mà trúng vào cửa nhà Q. Q hoảng sợ nên bỏ chạy xuống đứng phía dưới trước
hàng ba; V đi đến cách Q khoảng 01 mét; Nghiệp đi tới vtrí Q đang đng tay
cầm 01 viên gạch còn lại đập mạnh vào vùng miệng của Q làm Q ngã xuống
nền đất. V lập tức lao tới ngồi trên người Q đè Q xuống đất, V dùng tay trái khống
chế tay phải đang cầm dao phay của Q liên tục dùng tay phải đánh vào vùng
đầu của Q từ một đến hai cái; N chạy đến giật lấy cây rựa trên tay Q ném ra xa.
Sau đó, V đứng dậy nhặt lấy 01 cái thau Inox nhỏ của nhà Q đang để dưới gốc cây
xoài (cách chỗ Q ngã khoảng 03 mét) quay lại đánh vào vùng đầu mặt Q một
đến hai cái, thì Dương Thị Hoài H là vợ của Q chứng kiến sự việc nên đã hoán,
can ngăn Q thoát ra được và bỏ chạy vào trong nhà; còn N và V lấy xe môtô chạy
về nhà; Q được người nhà đưa đi cấp cứu.
3
Ngày 08/5/2025, Nguyễn Thanh Q làm đơn tố cáo gửi Công an xã P, tỉnh
Bình Thuận nay là Công an T, tỉnh Lâm Đồng đối với Hoàng V Sằm
Văn N.
Ngày 17/5/2025, Nguyễn Thanh Q đã giao nộp cho Công an P, tỉnh Bình
Thuận (nay là Công an xã T, tỉnh Lâm Đồng) 01 đĩa DVD ghi nhận sự việc Q bị
đánh vào ngày 04/4/2025, 01 xoong bằng kim loại đã qua sử dụng, bị gãy mất một
tay cầm đường kính khoảng 27cm 01 lưỡi rựa bằng kim loại đã qua sử dụng,
hình dạng cong theo hình lưỡi liềm dài khoảng 37cm.
Tại bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số
345/2024/KLTTCT-TTGĐYKPYBT ngày 28/5/2025 của Trung tâm giám định
pháp y tỉnh B kết luận đối với tỷ lệ thương tích của Nguyễn Thanh Q như sau:
Vết thương - chấn thương vùng môi trên bên trái, gãy răng R1.1 - R2.1 -
R2.2 - R2.3 - R3.1 - R3.3 hiện chưa lắp răng giả, để lại sẹo kích thước nhỏ: (1,5
x 0,2) cm, do vật tày cạnh tác động theo chiều hướng từ trước ra sau với lực
tác động trung bình. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 2% + 2% + 2%+2% + 2% + 2%
+3%. Sẹo vết thương phần mềm vùng môi dưới kích thước nh(1 x 0,1) cm, do
vật tày cạnh tác động theo chiều hướng từ trước ra sau với lực tác động nhẹ.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%. Sây sát da vùng gối phi đã được điều trị hiện để
lại màng thay đổi sắc tố da kích thước (4 x 2,5) cm, do vật tày có cạnh tác động
trực tiếp gây ra với lực tác động nhẹ. Tỷ lệ tổn thương 0,5%. Gãy răng 3.2 không
được ghi nhận trong giấy chứng nhận thương tích nên không đủ cơ sở xác định tỷ
lệ tổn thương cơ thể. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17% (Một bảy phần trăm).
Tại Bản án hình sự thẩm số 04/2026/HS-ST ngày 15/01/2026, Tòa án
nhân dân Khu vực 14-Lâm Đồng Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số
02/2026/TB-TA ngày 10/3/2026, đã quyết định:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng V và bị cáo Sằm Văn N phạm tội "Cố ý
gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Võ Hoàng V 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị
cáo đi thi hành án.
Xử phạt: Bị cáo Sằm Văn N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính
từ ngày bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, bản ánthẩm còn tuyên xử lí vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo luật định.
Kháng cáo: Ngày 20/01/2026, các bị cáo Võ Hoàng V và bị cáo Sằm Văn
N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Võ Hoàng V xin rút toàn bộ đơn kháng cáo.
4
- Bị cáo Sằm Văn N kháng cáo xin được hưởng án treo. Tài liệu kèm theo
là Giấy biên nhận tiền khắc phục hậu quả cho bị hại ngày 26/01/2026 là
20.000.000 đồng (trong đó bị cáo V 10.000.000 đồng bị cáo N 10.000.000
đồng).
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về
giải quyết vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Hoàng V tự nguyện xin rút đơn kháng
cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo V.
Đối với bị cáo N phạm tội có tính chất côn đồ thuộc trường hợp không cho hưởng
án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn ván treo. Do đó, đnghị
Hội đồng xét xcăn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 Bộ luật Tố tụng
hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Sằm Văn N, giữ nguyên bản án
hình sự sơ thẩm đã tuyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Chủ thể kháng cáo, thời hạn kháng
cáo, hình thức đơn kháng cáo của c bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật
nên được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời khai của các bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án,
đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng hơn 21 giờ 20 phút ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại Thôn A, xã
T, tỉnh Lâm Đồng, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt mà bị cáo Sằm Văn N sử dụng cục
gạch ống loại 04 lỗ, bị cáo Hoàng V sử dụng 01 cái thau bằng kim loại
dùng tay cùng nhau đánh vào miệng và đầu của bị hại Nguyễn Thanh Q, làm Q bị
thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17%.
Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố các bị cáo Hoàng
V và bị cáo Sằm Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm
đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo Võ Hoàng V và bị cáo Sằm Văn N kháng
cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Đối với bị cáo Hoàng V: Tại phiên tòa, bị cáo V đồng ý về tội
danh hình phạt của Tòa án thẩm nên xin rút toàn bộ đơn kháng cáo. Xét
thấy, việc rút đơn kháng cáo của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, Hội đồng
xét xử căn cứ vào Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sđình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với kháng cáo của bị cáo V, bản án thẩm đối với bị cáo hiệu lực pháp
luật.
[3.2] Đối với bcáo Sằm Văn N, nhận thấy tại phiên tòa bị cáo thừa nhận
Tòa án cấp sơ thẩm xử bị cáo về tội cố ý gây thương tích là đúng, không oan. Bị
cáo kháng cáo về hình phạt xin được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy bị
5
cáo N là người có đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi
gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị,
nhưng với bản tính hung hăng, côn đồ, mặc không mâu thuẫn với bhại,
nhưng bị cáo đã có hành vi cầm viên gạch ống đập mạnh vào vùng miệng của bị
hại và các hành vi khác cùng với bị cáo V, hậu quả làm cho bị hại bị tổn thương
cơ thể là 17%, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi và hậu quả do
mình gây ra.
Xét thấy, tại Bản án hình sự thẩm số 04/2026/HS-ST ngày 15/01/2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 14 thể hiện bị cáo Sằm Văn N đã tự nguyện bồi
thường cho bị hại, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt không yêu cầu
bị cáo bồi thường thêm. Tuy nhiên, sau khi xét xử thẩm, bị cáo N đã tự
nguyện bồi thường thêm cho bị hại 10.000.000 đồng. Đây sự tự nguyện bồi
thường của bị cáo cho bị hại mặc dù bị hại không yêu cầu và việc bồi thường đã
được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bluật hình sự. Xét bị cáo có
nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự nên Tòa án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự và xử phạt
bị cáo Sằm Văn N 01 năm 03 tháng tù là phù hợp. Trong vụ án này, bị cáo phạm
tội có tính chất côn đồ thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định
tại Điều 3 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự ván treo.
Do đó, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo không căn cứ chấp nhận
như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo N không được
chấp nhận nên bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản
2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo
Võ Hoàng V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm g
khoản 2 Điều 23 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc Hội.
[5] Các quyết định khác của án hình sự thẩm không kháng cáo, không
bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 B luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bcáo Sằm Văn N, giữ nguyên Bản án
hình sthẩm số 04/2026/HS-ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu
vực 14 – Lâm Đồng.
[2] Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều
51; Điều 17; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự.
6
Tuyên bố: Bị cáo Sằm Văn N phạm tội: "Cố ý gây thương tích".
Xử phạt: Bị cáo Sằm Văn N 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[3] Căn cứ: Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm
đối với kháng cáo của bị cáo Hoàng V. Bản án hình sự thẩm số 04/2026/HS-
ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 14 – Lâm Đồng đối với bị cáo
Võ Hoàng V có hiệu lực pháp luật.
[4] Về án phí hình sphúc thm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng
hình sự điểm b, g khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Bị cáo Sằm Văn N
phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo
Võ Hoàng V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật ktừ ngày tuyên án (16/4/2026)
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
- TAND Khu vực 14-Lâm Đồng;
- VKSND Khu vực 14-Lâm Đồng;
- Phòng THADS Khu vực 14-Lâm Đồng;
- Công an Xã nơi các bị cáo cư trú; (đã ký)
- Các bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ và HCTP.
Phạm Phong Lan
Tải về
Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất