Bản án số 77/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 77/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 77/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 77/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 77/2026/DS-PT ngày 23/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ngãi |
| Số hiệu: | 77/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 23/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn N; sửa bản án số 04/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi về cách tuyên |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 77/2026/DS-PT
Ngày: 23-4-2026
V/v tranh chấp đòi lại tài sản
là quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Hạnh
Ông Phạm Hải Nam
Ông Lương Văn Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thảo Vân Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: Bà Huỳnh Thị
Tuyết Nhung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 18/2026/TLPT-DS ngày 20 tháng 01
năm 2026, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 59/2026/QĐ-PT ngày
12 tháng 3 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 76/2026/QĐ-PT
ngày 01/4/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Văn N – sinh năm 1947; địa chỉ: Xóm A, thôn T,
xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Trần Đức Q - sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị H - sinh
năm 1950; cùng địa chỉ: Xóm A, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Trần Đức V - sinh năm 1983;
2
2/ Bà Phùng Thị T - sinh năm 1985;
3/ Bà Nguyễn Thị Hồng V1 - sinh năm 1947;
4/ Ông Đinh Văn S - sinh năm 1970 và bà Phạm Thị N1 - sinh năm 1981;
5/ Ông Đinh Văn H1 - sinh năm 1989;
Cùng địa chỉ: Xóm A, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
6/ Ông Đinh Văn T1 - sinh năm 1976 và bà Đoàn Thị Minh N2 - sinh năm
1982; cùng địa chỉ: Xóm C, thôn T, xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
7/ Ông Đinh Văn H2 - sinh năm 1979 và bà Hộ Thị Thu T2 - sinh năm
1983; cùng địa chỉ: Số A đường L, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
8/ Bà Đinh Thị M - sinh năm 1970 và ông Nguyễn Văn M1 - sinh năm
1971; cùng địa chỉ: Thôn B, xã E, tỉnh Đắk Lắk.
9/ Bà Đinh Thị Đ - sinh năm 1967 và ông Võ Tấn D - sinh năm 1966;
cùng địa chỉ: Số F đường L, phường B, tỉnh Đắk Lắk.
10/ Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Công H3 - Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân xã.
- Người kháng cáo: Ông Đinh Văn N là nguyên đơn.
(Ông Đinh Văn N, ông Trần Đức Q, ông Trần Đức V có mặt; bà Nguyễn
Thị H, bà Phùng Thị T, bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông Đinh Văn S, ông Đinh Văn
H1, ông Đinh Văn T1, bà Đoàn Thị Minh N2, ông Đinh Văn H2, bà Hộ Thị Thu
T2, bà Đinh Thị M, ông Nguyễn Văn M1, bà Đinh Thị Đ, ông Võ Tấn D, Ủy ban
nhân dân xã T có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị N1 vắng mặt không có
lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/5/2020; các đơn khởi kiện sửa đổi, bổ
sung; các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đinh
Văn N trình bày:
1. Nguồn gốc con đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông
Trần Đức Q là thuộc một phần của thửa 489, tờ bản đồ số 2, diện tích 1248m
2
,
xã T (nay là xã T) là loại đất phần trăm của Hợp tác xã N4 cấp cho gia đình ông.
Theo Bản đồ Chỉ thị 299/TTg thì con đường này chưa hình thành, sau đó gia
đình ông đã đắp đường, lấp ao mở đường trên phần đất của thửa 489, con đường
hình thành có chiều ngang là 2,5m, thời điểm này ông Nguyễn Thanh T3 chưa
3
kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg đối với thửa đất 489. Khi Nhà nước có
chủ trương kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg thì ông Nguyễn Thanh T3
mới kê khai, đăng ký thửa đất 489 thành đất của ông.
Theo Nghị định 64/CP thì hộ gia đình ông được nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 434, tờ bản đồ 12, diện tích 1468m
2
xã T
(nay là xã T, tỉnh Quảng Ngãi), sau khi trừ diện tích đường đi diện tích còn lại là
1389m
2
. Đến năm 2005 do có nhu cầu mở rộng đường để thuận tiện việc đi lại
nên ông có thỏa thuận đổi đất với ông Nguyễn Thanh T3 để mở rộng đường, do
đó chiều ngang của con đường tăng lên khoảng 3,5m như hiện nay.
Trong quá trình sử dụng đất, gia đình ông Trần Đức Q đã xây dựng 03 trụ
bê tông trên mặt đường, trụ thứ nhất từ phía Đông lên phía Tây cách móng
tường nhà của gia đình ông Trần Đức Q 20cm, trụ thứ hai cách 12cm, trụ thứ ba
cách 10cm và xây móng nhà giáp với đất Đinh Văn T1 con trai ông diện tích
1,1m
2
. Phần đất ông Q xây dựng 03 trụ bê tông và xây móng nhà diện tích
1,1m
2
là thuộc một phần của thửa đất 434, tờ bản đồ 12.
Nay ông yêu cầu ông Tòa án giải quyết, buộc ông Trần Đức Q, bà Nguyễn
Thị H và ông Trần Đức V: Trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình ông diện tích
1,1m
2
và phải tháo dỡ móng nhà gắn liền trên đất thuộc một phần của thửa đất
434, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Văn N. Yêu cầu tháo dỡ 03 trụ bê tông gắn
liền trên phần đất thuộc đất phần trăm của gia đình ông được cấp theo Nghị định
64/CP, hiện nay là đất đường đi để thông thoáng đường đi.
2. Nguồn gốc các thửa đất 1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527,
cùng tờ bản đồ số 12 (đo đạc năm 1998), xã T (nay là xã T) là thuộc thửa đất
434, tờ bản đồ 12, được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
hộ ông Đinh Văn N. Năm 2014 ông thực hiện thủ tục tách thửa 434 ra thành các
thửa đất như trên. Khi ông thực hiện việc tách thửa, ông không tự hiến đất mở
đường nên con đường đi ở phía đông của các thửa đất này chưa thể hiện trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi ông thực hiện việc tặng cho quyền
sử dụng đất đối với thửa đất 1521, 1522, 1523, 1526, 1527 các con của ông vào
tháng 11/2014 con đường ở phía đông của các thửa đất này vẫn không thể hiện
trên bản đồ. Con đường này chỉ hình thành trên bản đồ đo vẽ năm 2018 có diện
tích 96,1m
2
, thực trạng hiện nay ở phía đông cũng không có đường đi, ông sử
dụng toàn bộ diện tích đường đi 96,1m
2
để trồng hoa màu.
Đối với thửa 1524, tờ bản đồ số 12, diện tích 247m
2
đã được Ủy ban nhân
dân huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho hộ ông Đinh Văn N số vào
sổ cấp GCN: “CH” 03165 ngày 09/7/2014, phía đông của thửa đất này vẫn
4
không thể hiện đường đi. Việc Ủy ban nhân dân xã T nay là Ủy ban nhân dân xã
T kê khai, đăng ký diện tích đất 96,1m
2
thành đất giao thông trong đó có một
phần diện tích của thửa 1524, tờ bản đồ số 12, diện tích 247m
2
vào ngày
30/01/2021 thuộc một phần diện tích đất của thửa 863, tờ bản đồ 11, diện tích
7.320,2m
2
, thì ông hoàn toàn không biết. Cơ quan nhà nước không có bất cứ văn
bản nào thông báo cho gia đình ông biết về việc thu hồi diện tích đất 96,1m
2
để
kê khai, đăng ký thành đất đường giao thông. Do đó diện tích đất 96,1m
2
vẫn
không trừ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông.
Ông xác định không khởi kiện hành vi của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh
Quảng Ngãi về việc kê khai, đăng ký diện tích đất 96,1m
2
của gia đình ông
thành đất đường giao thông trong vụ án này. Sau này khi ông xác định quyền và
lợi ích hợp pháp của ông bị xâm phạm thì ông sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
Đối với thửa 1524, tờ bản đồ số 12, diện tích 247m
2
tiếp giáp với thửa đất
của gia đình ông Trần Đức Q, bị gia đình ông Q làm bờ đá lấn chiếm diện tích
3,8m
2
.
Nay ông yêu cầu ông Tòa án giải quyết buộc ông Trần Đức Q, bà Nguyễn
Thị H và ông Trần Đức V phải trả lại cho ông diện tích 3,8m
2
thuộc một phần
thửa 1524, tờ bản đồ số 12, diện tích 247m
2
, đã được cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ ông Đinh Văn N và yêu cầu dỡ dọn bờ đá gắn liền
trên đất.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Đức Q và bà Nguyễn Thị H
trình bày:
1. Phần đất phía Nam của gia đình ông bà giáp với đường giao thông đi
vào nhà của ông Đinh Văn N và nhiều hộ dân. Vào năm 2000 khi gia đình ông
bà xây nhà, để bảo vệ phần tường nhà không bị xe cộ qua lại đụng vào tường
nhà nên ông bà đã chủ động làm móng nhà để lại khoảng 20cm đất trống để
trồng hàng rào 03 trụ bê tông trên phần đất 20cm. Quá trình Toà án giải quyết vụ
án, ông bà thấy 3 trụ bê tông trên đường đi gây bất tiện cho người tham gia giao
thông nên ông bà đã đổ xi măng lên các trụ bê tông. Hiện nay 3 trụ bê tông
không còn mà chỉ có 3 ụ xi măng hơi nhô lên mặt đất. Hiện nay 03 ụ bê tông
nằm trên đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông, đây là đường
giao thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Ông bà khẳng định ông bà trồng
03 trụ bê tông trên phần đất thuộc thửa đất 435 của ông bà. Ông Đinh Văn N cho
rằng phần đất đường đi từ giáp Quốc lộ A mà hiện nay có 3 ụ xi măng là của
ông N là không đúng. Đây là đất giao thông do Ủy ban nhân dân xã quản lý nên
ông N không có quyền khởi kiện ông bà, việc ông N khởi kiện là không đúng.
5
2. Phần đất phía Nam của gia đình ông bà giáp với đường giao thông đi
vào nhà của ông Đinh Văn N, ông bà xây dựng nhà trên phần đất của ông bà.
Phần diện tích nhà mà ông Đinh Văn N cho rằng ông bà lấn chiếm diện tích
1,1m
2
của ông Đinh Văn T1 con của ông Đinh Văn N là không đúng. Vì phần
đất ông bà xây móng nhà diện tích 1,1m
2
có các giới cận đều không tiếp giáp với
đất của ông Đinh Văn N mà phía nam tiếp giáp với đường giao thông và phía tây
giáp với đất giao thông (giáp với đường đi vào các thửa 1521, 1522, 1523, 1524,
1525, 1526, 1527) do Ủy ban nhân dân xã T quản lý.
3. Thửa 435, tờ bản đồ số 12, diện tích 449m
2
đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trần Đức Q, gia đình ông bà xây nhà và làm
ranh giới ổn định từ năm 2000 đến nay. Phía Tây của thửa đất 435 giáp với đất
của ông Đinh Văn N không thẳng nên khi làm nhà ông bà làm móng nhà thẳng,
còn lại ông bà xây bờ đá này để giữ cho móng nhà kiên cố. Do đó ông bà xây
dựng bờ đá trên phần đất thuộc thửa đất 435 của gia đình ông bà. Khi ông bà
xây dựng nhà và làm bờ đá đến nay ông Đinh Văn N mới tranh chấp với ông bà.
Năm 2014 gia đình ông N làm thủ tục tách thửa đất thì gia đình ông bà và gia
đình ông N đã thống nhất ký giáp ranh, ông N đồng ý xác nhận ranh giới đất như
hiện trạng hiện nay, không có tranh chấp gì đối với bờ đá. Ông bà khẳng định
ông không lấn chiếm đất của ông Đinh Văn N để xây dựng bờ đá.
Qua quá trình Tòa án làm việc ông được biết, thửa đất 435 của gia đình
ông bà phần đất phía tây sau nhà nơi ông bà xây dựng bờ đá tiếp giáp đất giao
thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý chứ không tiếp giáp với đất của ông
Đinh Văn N. Việc ông N cho rằng ông bà lấn chiếm đất của ông N là không
đúng pháp luật. Ông N không có quyền sử dụng đất đối với đất giao thông do
Ủy ban nhân dân xã quản lý nên ông N không có quyền khởi kiện ông bà, việc
ông N khởi kiện là không đúng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Đức V trình bày:
Ông thống nhất với phần trình bày của cha mẹ ông là ông Trần Đức Q và bà
Nguyễn Thị H. Thửa đất 435 của gia đình ông đang quản lý, sử dụng không tiếp
giáp với đất của ông Đinh Văn N, mà tiếp giáp với đường giao thông do Ủy ban
nhân dân xã T quản lý. Do đó gia đình ông không có lấn đất của gia đình ông
Đinh Văn N, nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Văn N.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà
Phùng Thị T không có văn bản trình bày ý kiến, chỉ có văn bản xin xét xử vắng
mặt.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà
Nguyễn Thị Hồng V1 trình bày: Bà là vợ của ông Đinh Văn N, bà thống nhất với
6
yêu cầu khởi kiện của chồng bà; yêu cầu ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H,
ông Trần Đức V phải trả lại quyền sử dụng đất cho gia đình bà diện tích 1,1m
2
và phải tháo dỡ móng nhà gắn liền trên đất thuộc một phần của thửa đất 434, tờ
bản đồ 12 xã T (nay là xã T) đất được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho hộ ông Đinh Văn N; yêu cầu tháo dỡ 03 trụ bê tông gắn liền trên
phần đất thuộc đất phần trăm của gia đình bà được cấp theo Nghị định 64/CP,
hiện nay là đất đường đi để thông thoáng đường đi; phải trả lại phần đất lấn
chiếm 3,8m
2
thuộc một phần thửa đất 1524, tờ bản đồ số 12 và yêu cầu dỡ dọn
bờ đá gắn liền trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn S có văn bản trình
bày ý kiến: Ông là con của ông Đinh Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng V1, ông
được cha mẹ tặng cho thửa đất 1526, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Đinh Văn S và Phạm Thị N1.
Ngày 29/4/2020, ông đã ly hôn bà Phạm Thị N1 và đã thực hiện việc biến động
thửa đất 1526 chỉ một mình ông đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp số vào sổ cấp GCN: CS022906
ngày 09/4/2021 cho ông Đinh Văn S, do đó thửa đất 1526 không liên quan gì
đến bà Phạm Thị N1. Khi làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất của thửa đất
1526 cho ông thì phía Đông của thửa đất này trên bản đồ và trên thực trạng
không có đường đi. Đất hiện nay vẫn do cha, mẹ của ông quản lý, sử dụng để
trồng cỏ, giữa các thửa đất không có ranh giới. Nay ông yêu cầu ông Trần Đức
Q và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông phần đất lấn chiếm là 09m
2
(chiều
rộng 9m x chiều dài 0,9m) thuộc một phần thửa đất 1526, tờ bản đồ 12, xã T
(nay là xã T) và yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc trên đất.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà
Phạm Thị N1 không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đinh Thị M và ông Nguyễn
Văn M1 có văn bản trình bày ý kiến: Bà Đinh Thị M là con gái và ông Nguyễn
Văn M1 con rể của ông Đinh Văn N bà Nguyễn Thị Hồng V1. Ông bà được cha
mẹ tặng cho thửa đất 1523, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Đinh Thị M và Nguyễn Văn M1 số vào
sổ cấp GCN: “CH” 04033 ngày 19/01/2015. Khi làm thủ tục tặng cho quyền sử
dụng đất thửa đất 1523 cho ông bà thì phía Đông của thửa đất này trên bản đồ và
trên thực trạng không có đường đi. Đất hiện nay vẫn do cha, mẹ của ông bà quản
lý, sử dụng để trồng cỏ, giữa các thửa đất không có ranh giới. Nay ông, bà yêu
cầu ông Trần Đức Q và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông, bà phần đất lấn
chiếm là 2m
2
(chiều rộng 2m x chiều dài 0,7m) thuộc một phần thửa đất 1523, tờ
bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc trên đất.
7
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên ông Đinh Văn T1 và bà Đoàn Thị
Minh N2 có văn bản trình bày ý kiến: Ông Đinh Văn T1 là con trai và bà Đoàn
Thị Minh N2 là con dâu của ông Đinh Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng V1. Ông
bà được cha mẹ tặng cho thửa đất 1527, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Đinh Văn T1 và Đoàn
Thị Minh N2 số vào sổ cấp GCN: “CH” 04031 ngày 19/01/2015. Khi làm thủ
tục tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất 1527 đối với ông bà thì phía Đông của
thửa đất này trên bản đồ và trên thực trạng không có đường đi. Đất hiện nay vẫn
do cha, mẹ ông, bà quản lý, sử dụng để trồng cỏ, giữa các thửa đất không có
ranh giới. Nay ông, bà yêu cầu ông Trần Đức Q và bà Nguyễn Thị H phải trả lại
cho ông, bà phần đất lấn chiếm là 4,32m
2
(chiều rộng 4,8m x chiều dài 0,90m)
thuộc một phần thửa đất 1527, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và yêu cầu tháo
dỡ vật kiến trúc trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn H1 có văn bản
trình bày ý kiến: Ông là con trai của ông Đinh Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng
V1. Ông được cha mẹ tặng cho thửa đất 1522, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T)
và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Đinh Văn S1 vào
sổ cấp GCN: “CH” 04032 ngày 19/01/2015. Khi làm thủ tục tặng cho quyền sử
dụng đất thửa đất 1527 cho ông thì phía Đông của thửa đất này trên bản đồ và
trên thực trạng không có đường đi. Đất hiện nay vẫn do cha, mẹ ông quản lý, sử
dụng để trồng cỏ, ranh giới giữa các thửa đất không có. Nay ông yêu cầu ông
Trần Đức Q và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông phần đất lấn chiếm là
2,35m
2
(đáy 1,3m x cao 3m:2 + chiều rộng 2m x chiều dài 2m) thuộc một phần
thửa đất 1522, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc
trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Đ có bản trình bày
nội dung: Bà Đinh Thị Đ là con gái và ông Võ Tấn D là con rể của ông Đinh
Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng V1. Vợ chồng bà được cha mẹ tặng cho thửa đất
1525, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên Đinh Thị Đ và ông Võ Tấn D số vào sổ cấp GCN: “CH”
04035 ngày 19/01/2015. Khi làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất thửa đất
1525 cho vợ chồng bà thì phía đông của thửa đất này trên bản đồ và trên thực
trạng không có đường đi. Đất hiện nay vẫn do cha, mẹ bà quản lý, sử dụng để
trồng cỏ, giữa các thửa đất không có ranh giới. Nay bà yêu cầu ông Trần Đức Q
và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông phần đất lấn chiếm là 3,6m
2
(chiều rộng
3,68m x chiều dài 0,90m) thuộc một phần thửa đất 1525, tờ bản đồ 12, xã T (nay
là xã T) và yêu cầu tháo dỡ vật kiến trúc trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Tấn D không có văn
8
bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn H2 và bà Hồ Thị
Thu T4 có văn bản trình bày ý kiến: Ông Đinh Văn H2 là con trai và bà Hồ Thị
Thu T4 là con dâu của ông Đinh Văn N và bà Nguyễn Thị Hồng V1. Ông, bà
được cha mẹ tặng cho thửa đất 1521, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đinh Văn H2 và bà Hồ
Thị Thu T4 số vào sổ cấp GCN: “CH” 04036 ngày 19/01/2015. Khi làm thủ tục
tặng cho quyền sử dụng đất thửa 1521 cho ông, bà thì phía Đông của thửa đất
này trên bản đồ và trên thực trạng không có đường đi. Đất hiện nay vẫn do cha,
mẹ ông, bà quản lý, sử dụng để trồng cỏ, giữa các thửa đất không có ranh giới.
Nay ông, bà yêu cầu ông Trần Đức Q và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông
phần đất lấn chiếm là 4,32m
2
(chiều rộng 4,8m x chiều dài 0,90m) thuộc một
phần thửa đất 1527, tờ bản đồ 12, xã T (nay là xã T) và yêu cầu tháo dỡ vật kiến
trúc trên đất.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh
Quảng Ngãi trình bày:
1. Con đường đi từ quốc lộ A vào nhà ông Đinh Văn N, theo hồ sơ Chỉ thị
299/TTg lập năm 1986 trên nền bản đồ 299/TTg không thể hiện con đường đi
vào nhà ông Đinh Văn N. Đến khi đo vẽ thành lập bản đồ để thực hiện Nghị
định 64/CP và cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho nhân dân thì hình thành thể hiện
con đường trên nền bản đồ đo vẽ năm 1998.
Đối chiếu với bản đồ thực hiện Chỉ thị 299/TTg và bản đồ thực hiện Nghị
định 64/CP thì con đường đi đoạn từ sát quốc lộ A đến cuối phần đất nhà ông
Trần Đức Q (đoạn ông Đinh Văn N tranh chấp với ông Trần Đức Q) được hình
thành từ một phần đất của ông Trần Đức Q và phần đất ao.
Con đường này là đường đi chung với các hộ dân sử dụng đất lân cận,
đường đi thuộc Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi quản lý.
Theo bản đồ Nghị định 64/CP chiều rộng của con đường đoạn đầu đường
Q là 2,3m, đoạn cuối phần đất nhà ông Trần Đức Q là 2,1m. Theo đo thực tế
đoạn đầu đường QL1A diện tích 3,6 m, đoạn cuối nhà ông Trần Đức Q diện tích
3,3m. UBND xã T không xác định được việc chênh lệch tăng diện tích của con
đường này. Tuy nhiên diện tích thực tế của con đường tăng lên vẫn thuộc đất
đường đi do Ủy ban nhân dân xã T quản lý.
Việc ông Trần Đức Q xây dựng 03 trụ bê tông cao khoảng 09cm trên đất
giao thông là không đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên Ủy ban nhân
dân xã T không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ông Trần Đức Q xây dựng 03
9
trụ bê tông trên đất giao thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý trong vụ án
này. Ủy ban nhân dân xã T sẽ tiến hành kiểm tra, xem xét và sẽ xử lý vụ việc
này theo quy định của pháp luật.
2. Đối với thửa đất 434 tờ bản đồ số 12, diện tích 1.468m
2
, xã T của ông
Định Văn N3: Thửa đất 434 đã được tách ra làm 7 thửa gồm: Thửa đất số 1521
diện tích 219m
2
; thửa đất 1522, diện tích 212m
2
; thửa đất 1523, diện tích 112m
2
;
thửa đất 1524, diện tích 247m
2
; thửa đất 1525, diện tích 112m
2
; thửa đất 1526,
diện tích 301m
2
; thửa đất 1527, diện tích 195m2 cùng tờ bản đồ số 12, xã T và
được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình
ông Đinh Văn N vào ngày 09/7/2014. Theo hồ sơ tách thửa thì cạnh phía Đông
của các thửa đất 1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527 không thể hiện nền
đường đi trên giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đã cấp.
Phía đông của các thửa đất 1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527,
cùng tờ bản đồ số 12, xã T (nay là xã T) trên bản đồ đo vẽ năm 2018 có thể hiện
đường đi, diện tích 96,1m
2
.
Diện tích đất đường đi 96,1m
2
được đăng ký thành đất giao thông theo
đơn Đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (mẫu số 04a/ĐK) thuộc
thửa đất số 863, tờ bản đồ 11, diện tích 7320,2m
2
do Ủy ban nhân dân xã T (nay
là xã T) kê khai ngày 30/01/2021 là loại đất giao thông (DGT), được Ủy ban
nhân dân xã T (nay là xã T) xác nhận ngày 19/3/2021, ý kiến của Văn phòng
Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện S ngày 24/3/2021 là hồ sơ đủ điều kiện đăng
ký đất đai theo Điều 95 Luật Đất đai năm 2013.
Theo Bản đồ đo vẽ năm 2018 đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q
kiểm tra ký vào tháng 9 năm 2021; Ủy ban nhân dân xã T ký xác nhận đo vẽ phù
hợp hiện trạng ngày 6 tháng 9 năm 2021 và Sở T phê duyệt vào ngày 8 tháng 9
năm 2021, thì thửa đất số 863, tờ bản đồ 11, diện tích 7320,2m
2
là đất giao
thông (DGT) do Ủy ban nhân dân xã T kê khai, đăng ký tại sổ mục kê trang số
162 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q lập ngày 07/9/2021, được Sở Tài
nguyên Môi trường phê duyệt ngày 08/9/2021.
Như vậy, việc ông Đinh Văn N khởi kiện yêu cầu ông Trần Đức Q phải
tháo dỡ 03 trụ bê tông và dỡ dọn bờ đá gắn liền trên diện tích 3,8m
2
đều thuộc
đất giao thông do Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Do đó thẩm quyền xử lý khi có
hành vi lấn chiếm đất giao thông là thuộc thẩm quyền của do Ủy ban nhân dân
xã T. Ông Đinh Văn N yêu cầu ông Trần Đức Q phải tháo dỡ vật kiến trúc trên
đất công cộng là không đúng theo quy định của pháp luật.
* Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Quảng Ngãi đã tuyên xử:
10
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải tháo dỡ 03 trụ bê tông gắn liền trên đất
giao thông, đoạn đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông Trần
Đức Q do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi quản lý.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải trả lại cho ông diện tích 1,1m
2
và phải
tháo dỡ móng nhà gắn liền trên đất, phần phía Nam giáp với đất giao thông,
đoạn đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông Trần Đức Q, phía
tây giáp với đất giao thông (giáp với đường đi vào các thửa 1521, 1522, 1523,
1524, 1525, 1526, 1527) do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi quản lý.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải trả lại diện tích 3,8m
2
và yêu cầu tháo
dỡ bờ đá gắn liền trên đất, thuộc một phần thửa đất số 863, tờ bản đồ số 11, diện
tích 7.320,2m
2
là đất giao thông do do Ủy ban nhân dân xã T quản lý.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và
quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 26/9 và 03/10/2025, ông Đinh Văn N có đơn kháng cáo; đơn
kháng cáo sửa đổi, bổ sung; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm: Sửa bản án dân sự
sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Quảng Ngãi theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh
Văn N.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng kể
từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét
xử nghị án đều chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện
đúng quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 Bộ luật tố tụng dân sự (riêng bà Phạm Thị
N1 vắng mặt hai lần không có lý do).
Đơn kháng cáo của ông Đinh Văn N đảm bảo về thời hạn, hình thức và
nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015.
11
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông
Đinh Văn N, giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày
22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ngãi, sửa cách tuyên tại mục
3 phần Quyết định của bản án sơ thẩm. Về án phí, ông N là người cao tuổi nên
được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 22/9/2025, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ngãi xét xử vụ
án nêu trên, nguyên đơn ông Đinh Văn N có mặt tại phiên tòa. Ngày 26/9 và
03/10/2025, ông Đinh Văn N có đơn kháng cáo; đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung
là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng
dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, giải quyết.
[2] Tại phiên tòa, các ông bà Nguyễn Thị H, Phùng Thị T, Nguyễn Thị
Hồng V1, Đinh Văn S, Phạm Thị N1, Đinh Văn H1, Đinh Văn T1, Đoàn Thị
Minh N2, Đinh Văn H2, Hồ Thị Thu T4, Đinh Thị M, Nguyễn Văn M1, Đinh
Thị Đ, Võ Tấn D và Ủy ban nhân dân xã T vắng mặt. Tuy nhiên, các ông bà H,
T, V1, S, H1, T1, N2, H2, T4, Thị M, Văn M1, Đ, D và Ủy ban nhân dân xã T
đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Phạm Thị N1 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần
thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nêu
trên.
[3] Nguyên đơn ông Đinh Văn N kháng cáo cho rằng: Tòa án cấp sơ thẩm
chưa xem xét đầy đủ về nguồn gốc, quá trình sử dụng của phần đất tranh chấp
thuộc một phần thửa đất số 1524, tờ bản đồ số 12, xã T, tỉnh Quảng Ngãi (viết
tắt là thửa 1524) vì không có con đường giao thông nào ngoài thực địa nằm ở
phía Đông thửa 1524, cũng không có con đường giao thông nào được thể hiện
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) đã cấp cho gia
đình ông trước đây. Việc Nhà nước lấy đất của ông làm thành đất đường giao
thông là không đúng quy định của pháp luật, không hề có thông báo hay quyết
định thu hồi đất, bồi thường đất gì cho gia đình ông; mãi đến ngày 12/9/2025 khi
Tòa án nhân dân khu vực 3 – Quảng Ngãi làm việc về con đường này thì ông
mới biết một phần đất của mình đã bị Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã T
đăng ký thành đất đường đi.
12
Đối với con đường đi từ Quốc lộ A dẫn vào nhà ông có nguồn gốc thuộc
một phần đất của gia đình ông, có diện tích là 64m
2
, nằm trong tổng diện tích
1.532m
2
đất của gia đình và một phần là do ông đổi đất với ông Nguyễn Thanh
T3 để mở rộng bề ngang con đường từ 2.5m thành 3.5m. Như vậy, đất này là đất
của gia đình ông nên việc ông Trần Đức Q đào đường, chôn trụ bê tông, đào
móng xây nhà trên phần diện tích đất 64m
2
nêu trên là không đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của ông Đinh Văn N, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
nhận thấy:
[4.1] Căn cứ Biên bản làm việc ngày 29/3/2021 tại UBND xã T (bút lục
số 142); Công văn số 576/UBND-NC ngày 22/4/2021 (bút lục số 196) của
UBND huyện S; Công văn số 452/CNST ngày 05/7/2023 của Văn phòng đăng
ký đất đai tỉnh Q – Chi nhánh huyện S (bút lục số 237) về việc cung cấp thông
tin; cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo, xác định: Thửa đất số 435, tờ bản đồ
số 12, xã T, huyện S (nay là xã T), tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 435) theo hồ
sơ, bản đồ thực hiện Chỉ thị 299/TTg thuộc thửa đất số 491, tờ bản đồ số 02,
diện tích 624m
2
, loại đất T do ông Trần Đức Q kê khai theo Sổ đăng ký ruộng
đất do xã T lập ngày 15/12/1986 được UBND huyện phê duyệt ngày 30/4/1987
tại quyển số 1, trang số 60. Thực hiện Nghị định 64/CP, biến động thành thửa
435, diện tích 449m
2
do ông Trần Đức Q kê khai, đăng ký theo Sổ địa chính lập
năm 1999. Ngày 18/12/1998, UBND huyện S ban hành Quyết định số 1077/QĐ-
UB về việc cấp GCNQSDĐ, theo đó hộ ông Q được cấp GCNQSDĐ tại thửa
435 với diện tích là 449m
2
(trong đó có 200m
2
đất T và 249m
2
đất V). Đối chiếu
bản đồ Nghị định 64/CP và bản đồ đo đạc hiện trạng năm 2018 thì phần diện
tích đất của ông Trần Đức Q bị giảm do ảnh hưởng bởi việc mở rộng Quốc lộ A.
Theo kết quả trích đo thửa đất do Trung tâm trắc địa và quan trắc môi trường
tỉnh Q thực hiện thì diện tích đo đạc thực tế của thửa 435 là 343,9m
2
, việc chênh
lệch về diện tích này là do ông Q sử dụng phần đất Quốc lộ A đã thu hồi. Mặc
dù vậy nhưng diện tích thực tế gia đình ông Q sử dụng vẫn nhỏ hơn diện tích mà
hộ gia đình ông đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ vào năm 1998.
Tại Biên bản làm việc ngày 18/7/2023 (bút lục số 238-241), đại diện Văn
phòng Đ chi nhánh S và đại diện Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S cung
cấp thông tin: Về con đường đi đoạn từ sát Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông
Q, theo bản đồ thực hiện Chỉ thị 299/TTg thì không thể hiện con đường này trên
bản đồ; đến khi đo đạc thực hiện Nghị định 64/CP thì mới thể hiện con đường
này. Theo đó, con đường thuộc một phần thửa đất số 489, tờ bản đồ số 2, xã T,
huyện S (nay là xã T), tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 489) của ông Nguyễn
Thanh T3 kê khai đăng ký và thuộc một phần thửa đất số 488, tờ bản đồ số 2, xã
T, huyện S (nay là xã T), tỉnh Quảng Ngãi là đất ao, chưa phân phối sử dụng, do
13
UBND xã T quản lý. Sau khi trừ phần diện tích con đường thuộc thửa 489 thì
mới cấp GCNQSDĐ thuộc thửa 489 (theo hồ sơ địa chính thực hiện Nghị định
64/NĐ-CP biến động thành thửa đất số 480, tờ bản đồ số 2, diện tích 500m
2
, xã
T) cho hộ ông Nguyễn Thanh T3.
Theo Công văn số 359/UBND ngày 20/9/2024 (bút lục số 397) và Công
văn số số 455/UBND ngày 17/12/2024 (bút lục số 399) của UBND xã T về việc
cung cấp ý kiến thì tuyến đường này là đường đi chung với các hộ dân sử dụng
lân cận. Theo bản đồ Nghị định 64/CP, chiều rộng của con đường đoạn đầu
đường Q là 2,3m; đoạn cuối phần đất của ông Q là 2,lm. Đây là con đường giao
thông công cộng do UBND xã T (nay là xã T) quản lý. Kích thước diện tích thực
tế của con đường này hiện nay theo bản đồ đo vẽ năm 2018 rộng hơn so với bản
đồ năm 1998, nhưng diện tích tăng lên vẫn thuộc đất đường đi do UBND xã T
(nay là xã T) quản lý.
Mặt khác, xem xét bản đồ địa chính do Trung tâm T thực hiện đo vẽ thì
thể hiện phần đất ông Q xây móng nhà diện tích 1,1m
2
thuộc thửa 435, phía
Nam tiếp giáp với con đường đất do UBND xã T quản lý; không thuộc thửa đất
số 434, tờ bản đồ 12, xã T, huyện S (nay là xã T), tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là
thửa 434) như nguyên đơn trình bày.
Do đó, ông N xác định nguồn gốc con đường đi đoạn từ sát Quốc lộ A đến
nhà của ông là thuộc đất của gia đình ông; buộc ông Trần Đức Q, bà Nguyễn
Thị H, ông Trần Đức V phải tháo dỡ móng nhà, trả lại quyền sử dụng 1,1m
2
đất
thuộc một phần thửa 434 đã được Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho hộ hộ gia đình
ông và tháo dỡ 03 trụ bê tông gắn liền trên đất đường đi là không có cơ sở.
[4.2] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì thửa đất số 487,
tờ bản đồ số 02, diện tích 1.008m
2
, loại đất T, xã T, huyện S (nay là xã T), tỉnh
Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 487) do ông Đinh Văn N kê khai tại Sổ đăng ký
ruộng đất năm 1987. Thực hiện Nghị định 64/CP, thửa 487 biến động thành thửa
đất số 434, tờ bản đồ số 12, diện tích 1.468m
2
, được UBND huyện S cấp
GCNQSDĐ cho ông N vào năm 1998; đăng ký biến động năm 2012, thửa 434
có diện tích 1.398m
2
(trong đó đất ở 1.008m
2
, đất vườn 390m
2
); đăng ký biến
động 2014, thửa 434 có diện tích 1.398m
2
(đất ở nông thôn). Cùng năm 2014, hộ
ông N lập thủ tục tách thửa 434 thành 07 thửa đất gồm các thửa: 1521, 1522,
1523, 1524, 1525, 1526, 1527, cùng tờ bản đồ số 12, xã T, huyện S (nay là xã
T), tỉnh Quảng Ngãi (viết tắt là thửa 1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527).
Tại Đơn đề nghị đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đề ngày 10/6/2014 của ông Đinh Văn N
(bút lục số 175); các GCNQSDĐ đối với các thửa 1521, 1522, 1523, 1524,
14
1525, 1526, 1527; Biên bản kiểm tra thực địa về việc xin tách thửa đất ngày
19/6/2014 (bút lục số 152-155) đều không thể hiện cạnh phía Đông của các thửa
1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527 tiếp giáp đường đi.
Bên cạnh đó, UBND xã T đã xác định: Tại thời điểm ông Đinh Văn N làm
thủ tục tách thửa 434, ông N đã tự chừa đường đi vào các thửa 1521 đến 1527,
nhưng trên thực tế con đường này vẫn chưa được sử dụng, giữa các thửa đất trên
vẫn chưa có ranh giới phân chia (bút lục số 139).
Tại Biên bản làm việc ngày 04/8/2025 (bút lục số 465-467), đại diện
UBND xã T có cung cấp thông tin: Theo bản đồ đo vẽ năm 2018 phía Đông của
các thửa đất 1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527 có thể hiện đường đi
diện tích 96,1m
2
. Diện tích đất đường đi 96,1m
2
được đăng ký thành đất giao
thông theo đơn Đăng ký, cấp GCNQSDĐ (mẫu số 04a/ĐK) thuộc thửa đất số
863, tờ bản đồ 11, diện tích 7.320,2m
2
(viết tắt là thửa 863) do UBND xã T (nay
là xã T) kê khai ngày 30/01/2021 là loại đất giao thông (DGT); được UBND xã
T (nay là xã T) xác nhận ngày 19/3/2021 và đã được Văn phòng đăng ký đất đai
huyện S xác nhận là hồ sơ đủ điều kiện đăng ký đất đai theo Điều 95 Luật Đất
đai năm 2013 vào ngày 24/3/2021 (bút lục số 475-476).
Theo Bản đồ đo vẽ năm 2018 do Công ty TNHH Đ1 thực hiện đo vẽ
tháng 9/2021, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q kiểm tra ký cùng tháng;
UBND xã T ký xác nhận đo vẽ phù hợp hiện trạng ngày 6/9/2021 và Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Q phê duyệt vào ngày 8/9/2021 thì thửa 863 là đất
giao thông (DGT) do UBND xã T kê khai, đăng ký tại Sổ mục kê, trang số 162
do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q lập ngày 07/9/2021 nên thửa 863 là đất
UBND xã T quản lý (UBQ).
Diện tích thửa 434 theo GCNQSDĐ là 1.398m
2
. Tại kết quả trích đo thửa
đất do Trung tâm T thực hiện đo vẽ ngày 23/02/2021 (bút lục số 101), tổng diện
tích thửa 434 trước khi tách thành 07 thửa là 1.576m
2
; tại trích đo hiện trạng khu
đất và chồng ghép thửa 1524 ngày 18/11/2024 (bút lục số 411) và kết quả trích
đo, chồng ghép thửa 1524, 435 (bút lục số 460) thể hiện ranh giới (nét đứt) cấp
GCNQSDĐ thửa 1524 nằm ngoài diện tích đất đường đi chung vào các thửa
1521, 1522, 1523, 1524, 1525, 1526, 1527.
Mặt khác, tại các đơn khởi kiện, khởi kiện bổ sung của nguyên đơn,
nguyên đơn cũng xác định đến khi Nhà nước cấp GCNQSDĐ tại thửa 434 cho
nguyên đơn là diện tích 1.398m
2
thì đã trừ lối đi vào nhà nguyên đơn. Tại phiên
toà phúc thẩm, nguyên đơn trình bày thời điểm đo đạc cấp GCNQSDĐ, cấp đổi,
tách thửa, nguyên đơn đều có mặt và chỉ dẫn đo đạc; ông thống nhất với các
GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình ông.
15
Như vậy thửa 1524 đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ cho hộ ông
N với cạnh phía Đông tiếp giáp với đất giao thông do UBND xã T quản lý; cạnh
phía Tây của thửa 435 có bờ đá diện tích 3,8m
2
của ông Q tiếp giáp với đất giao
thông, không tiếp giáp với thửa 1524 của ông N; tức ông Đinh Văn N cho rằng
ông Trần Đức Q xây dựng bờ đá lấn chiếm thửa 1524 của ông nên phải di dời trả
lại cho ông 3,8m
2
thuộc một phần thửa 1524 là không có căn cứ.
[5] Từ những lập luận nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có
cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Đinh Văn N.
Tuy nhiên, cách tuyên tại phần quyết định của bản án sơ thẩm chưa đầy đủ, phù
hợp nên Hội đồng xét xử sửa lại cách tuyên cho chính xác.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đinh Văn N
không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng ông
N là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều
12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, ông Đinh Văn N được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc
thẩm.
[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đinh Văn N; sửa bản án số
04/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Quảng Ngãi về cách tuyên.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải tháo dỡ 03 trụ bê tông gắn liền trên đất
giao thông, đoạn đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông Trần
Đức Q do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi quản lý.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải trả lại cho ông diện tích 1,1m
2
và phải
16
tháo dỡ móng nhà gắn liền trên đất, phần phía Nam giáp với đất giao thông,
đoạn đường đi từ giáp Quốc lộ A đến cuối phần đất của ông Trần Đức Q; phía
Tây giáp với đất giao thông (giáp với đường đi vào các thửa đất số 1521, 1522,
1523, 1524, 1525, 1526, 1527; cùng tờ bản đồ số 12, xã T, huyện S (nay là xã
T), tỉnh Quảng Ngãi) do Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Quảng Ngãi quản lý.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đinh Văn N
về việc yêu cầu bị đơn ông Trần Đức Q, bà Nguyễn Thị H và người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Trần Đức V phải trả lại diện tích 3,8m
2
và yêu cầu tháo
dỡ bờ đá gắn liền trên đất, thuộc một phần thửa đất số 1524, tờ bản đồ số 12, xã
T, huyện S (nay là xã T), tỉnh Quảng Ngãi.
4. Về chi phí tố tụng khác: Ông Đinh Văn N phải chịu chi phí định giá tài
sản; chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; chi phí đo đạc tổng cộng là
9.300.000đồng. Ông Đinh Văn N đã nộp và chi phí xong.
5. Về án phí dân sự: Ông Đinh Văn N được miễn nộp tiền án phí dân sự
sơ thẩm và phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- TAND khu vực 3 - Quảng Ngãi;
- THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Thị Mai Hạnh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 20/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm