Bản án số 335/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 335/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 335/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 335/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 335/2026/DS-PT ngày 24/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp đất đai đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 335/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bản án phúc thẩm 335 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 335/2026/DS-PT
Ngày 24 – 4– 2026
V/v tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
Các Thẩm phán:
1. Bà Tiêu Hồng Phượng.
2. Ông Đặng Minh Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Từ
Thanh Thuỳ – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 24 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 730/2025/TLPT-DS
ngày 19 tháng 12 năm 2025 về việc “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 240/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 196/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Kiều T, sinh ngày 21/9/1998 (có mặt).
Căn cước công dân số 096198002610 cấp ngày 20/9/2022.
Địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Huỳnh Minh
N - Luật sư Chi nhánh Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Địa chỉ liên hệ: Số
A, T, khóm H, phường T, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Đỗ Hòa Ú, sinh năm 1975 (có mặt).
Chứng minh nhân dân số 380789720 do Công an tỉnh M cấp ngày 06/5/1991.
Địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau.
2
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Ông Ngô Đình C - Luật
sư Văn phòng Luật sư Ngô Đình C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C. Địa chỉ liên hệ: Số
C, N, khóm D, phường A, tỉnh Cà Mau (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Đỗ Thị Thu V, sinh năm 1953 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau.
3.2. Bà Đỗ Thị Đ, sinh năm 1954 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm X, phường H, tỉnh Cà Mau.
3.3. Bà Đỗ Thị N1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
3.4. Ông Đỗ Hòa T1, sinh năm 1959 (vắng mặt).
3.5. Bà Đỗ Thị Thu D, sinh năm 1963 (có mặt).
3.6. Bà Đỗ Thị Thu H, sinh năm 1967 (có mặt).
3.7. Bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1972 (có mặt).
3.8. Bà Đỗ Thị H2, sinh năm 1979 (vắng mặt).
3.9. Ông Đỗ Hoàng V1, sinh năm 1981 (có mặt).
3.10. Ông Đỗ Văn K, sinh năm 1986 (có mặt).
3.11. Chị Đỗ Thị O, sinh năm 1990 (vắng mặt).
3.12. Chị Đỗ Ngọc H3, sinh năm 1992 (vắng mặt).
3.13. Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1988 (vắng mặt).
3.14. Anh Đỗ Hoàng K1 (vắng mặt).
3.15. Anh Đỗ Hoàng L, sinh năm 1997.
3.16. Bà Nguyễn Thị Bé N2, sinh năm 1986.
Cùng địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau.
Người đại điện theo ủy quyền của bà N2 và anh L: Ông Đỗ Hòa Ú, sinh năm
1975. Địa chỉ: Khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền ngày 24/3/2025)
(có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Đỗ Hòa Ú là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Đỗ Kiều T trình bày: Vào ngày 05/11/2015, bà được ông
nội bà là cụ Đỗ Tấn T3 lập di chúc phân chia tài sản là quyền sử dụng đất cho bà với
diện tích 11.000m
2
loại đất trồng lúa và toàn bộ diện tích đất ở và đất vườn còn lại
trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ T3 đứng tên. Phần đất tọa lạc tại
ấp C, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau theo tờ bản đồ số 9, thuộc thửa đất số 268,
267, 318 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A342368 do Ủy ban nhân dân
3
thị xã C cấp ngày 06/4/1991 và được ghi nhận lại chủ sử dụng mới ngày 21/01/2013.
Nay, ông nội bà là cụ Đỗ Tấn T3 đã chết và di chúc đã có hiệu lực pháp luật, hiện
tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần đất thực tế do cha bà ông Đỗ Hòa Ú
đang quản lý và sử dụng. Bà có đến gặp cha bà để yêu cầu giao Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để bà lập thủ tục tách quyền sử dụng đất nhưng ông Đỗ Hòa Ú
không đồng ý giao. Nay, bà làm đơn khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế của
ông nội bà để lại theo di chúc. Hiện phần di sản thừa kế này ông Đỗ Hòa Ú đang
quản lý và sử dụng.
Bà yêu cầu ông Đỗ Hòa Ú phải giao lại cho bà 02 phần đất:
+ Phần đất vuông diện tích đo đạc thực tế 10.721,3m
2
có các hướng tiếp giáp:
Hướng Đông giáp Đỗ Hòa T1; hướng Tây giáp Đỗ Hòa Ú; hướng Nam giáp Kênh
T, hướng Bắc giáp Trần Hồng N3. Trên phần đất có 01 chòi vuông và 01 cống xổ
được cụ T3 xây dựng.
+ Phần đất ở và cây lâu năm có diện tích theo đo đạc thực tế 3255,01m
2
có
các hướng tiếp giáp: Hướng Đông giáp Sông C; hướng Tây giáp Đỗ Hòa Ú; hướng
Nam giáp Trịnh Văn L1, hướng Bắc giáp Đỗ Hòa T1. Trên phần đất có 01 khu nhà
mồ được bà Đỗ Thị Thu H và ông Đỗ Hòa T1 xây dựng; 01 căn nhà cụ T3 xây dựng,
sau này ông Ú sửa lại; 01 cống xổ được cụ T3 xây dựng và cây trồng trên đất cụ T3
và ông Ú trồng.
Bà đồng ý giao lại phần đất theo diện tích căn nhà trên đất đã được đo đạc
theo bản vẽ hiện trạng của Công ty TNHH MTV T4 cho ông Đỗ Hòa Ú (hiện ông Ú
đang quản lý, sử dụng căn nhà). Tại phiên toà phúc thẩm, bà T đồng ý để diện tích
đất khu mộ và lối đi vào khu mộ thuộc quyền sở hữu chung của các đồng thừa kế
của những người chết chôn trên khu mộ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Yêu cầu
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Theo bị đơn ông Đỗ Hòa Ú trình bày: Theo bà T yêu cầu chia thừa kế quyền
sử dụng đất do cha ông cụ Đỗ Tấn T3 để lại, ông không đồng ý phân chia. Vì từ
trước đến khi cha mẹ ông qua đời, ông sống với cha mẹ ông từ nhỏ đến lớn.
Trên phần đất bà T yêu cầu ông giao lại theo di chúc có 01 khu nhà mồ khi cụ
T3 còn sống thuê ông T1 và còn ông T1 xây dựng; 01 căn nhà, 01 cống xổ vuông,
01 căn chòi và các cây trồng trên đất ông với vợ xây dựng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Di chúc của cụ T3
không hợp pháp, nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn;
đồng thời, diện tích đất giao cho bà T sử dụng có khu mộ của cụ T3, cụ B là ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các con của cụ T3 và cụ B.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thu H trình bày: Đối
với di chúc cha bà cụ Đỗ Tấn T3 lập vào năm 2015 tại Phòng Công chứng. Bà xác
định di chúc hợp pháp vì khi cha bà lập di chúc vẫn còn minh mẫn, sáng suốt. Khi
cha bà thực hiện di chúc tại Phòng Công chứng, bà với anh ruột Đỗ Hòa T1 biết rõ
vụ việc. Việc bà T khởi kiện yêu cầu ông Ú giao lại đất theo di chúc là có cơ sở. Đối
4
với tranh chấp giữa bà T với ông Ú bà không có yêu cầu hoặc ý kiến gì khác đối với
nội dung vụ án. Phần nhà mồ do bà với ông T1 xây dựng vào năm nào bà không nhớ.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H1 trình bày: Bà biết
việc cha ruột bà cụ Đỗ Tấn T3 có để lại 02 phần đất cho cháu bà là Đỗ Kiều T gồm
có phần đất vườn và phần đất vuông. Việc cho các phần đất trên, cha bà có nói bằng
lời nói với bà và khi lập di chúc cha bà còn minh mẫn. Hiện 02 phần đất ông Ú đang
quản lý và bà yêu cầu thực hiện theo di chúc cha bà lập. Ngoài ra, bà không có ý
kiến hoặc yêu cầu đối với nội dung vụ án.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Đ trình bày: Bà biết
việc cha ruột bà cụ Đỗ Tấn T3 có để lại 02 phần đất cho cháu bà là Đỗ Kiều T, gồm:
Phần đất vườn và phần đất vuông. Việc cho các phần đất trên, cha bà có nói bằng lời
nói với bà và khi lập di chúc cha bà còn minh mẫn. Hiện 02 phần đất ông Ú đang
quản lý. Bà không có ý kiến hoặc yêu cầu đối với yêu cầu của bà T.
Trên phần đất bà T yêu cầu có 01 khu nhà mồ được bà Đỗ Thị Thu H và ông
Đỗ Hòa T1 xây dựng vào năm nào bà không nhớ; 01 căn nhà cụ T3 xây dựng, sau
này ông Ú ở, ông Ú có sửa lại; 01 cống xổ được cụ T3 xây dựng và cây trồng trên
đất cụ T3 và ông Ú trồng.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Thu V trình bày: Việc
cụ Đỗ Tấn T3 lập di chúc cho đất bà Đỗ Kiều T bà không biết. Theo bà phần đất của
cha bà cụ Đỗ Tấn T3 và cụ Trần Thị B (chết năm 2012), khi còn sống quản lý canh
tác cùng với ông Đỗ Hòa Ú, nay cha mẹ bà mất, do ông Ú sống với cha mẹ từ nhỏ
đến khi cha mẹ mất ông Ú quản lý canh tác phần đất đến nay, nên bà đồng ý giao
cho ông Ú quản lý canh tác phần đất cha mẹ để lại. Bà không yêu cầu chia thừa kế
phần đất cha mẹ bà để lại.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị H2, bà Đỗ Thị T2, bà
Đỗ Thị N1, bà Đỗ Thị O, bà Đỗ Ngọc H3, ông Đỗ Hòa T1, ông Đỗ Văn K và ông
Đỗ Hoàng V1 trình bày: Các phần đất bà T được hưởng theo di chúc các ông bà xác
định không yêu cầu chia thừa kế di sản là quyền sử dụng đất của cụ Đỗ Tấn T3 để
lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 240/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau:
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Kiều T.
1. Buộc ông Đỗ Hòa Ú, bà Nguyễn Thị Bé N2, ông Đỗ Hoàng L, anh Đỗ Văn
K2 giao cho bà Đỗ Kiều T phần đất cấy lúa (nuôi thủy sản) có diện tích 10721,3m
2
và 01 cống xổ, 01 căn nhà gỗ tọa lạc tại khóm C, phường H, tỉnh Cà Mau, phần đất
được giới hạn bởi các mốc M2M3M4M5.
Phần đất ở và đất lập vườn diện tích 2.929,3m
2
toạ lạc tại khóm C, phường H,
tỉnh Cà Mau, phần đất được giới hạn bởi các mốc
M1M7M6M5M4M3N13N11N10N9N8N7N6N5N4N3N2N1.
5
2. Giao cho ông Đỗ Hòa Ú căn nhà và phần đất ở có diện tích 325,8m
2
toạ lạc
tại ấp C, phường H, tỉnh Cà Mau, giới hạn bởi các điểm
N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10N11N13M3N1.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 27/6/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu
hạn một thành viên T4).
Các đương sự liên hệ cơ quan chuyên môn về quản lý đất đai để lập thủ tục
đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án
phí, và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 12/11/2025, bị đơn ông Đỗ Hòa Ú kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm:
Ông T3 chết còn nợ ông 8 lượng vàng 24K, yêu cầu bán di sản để trả cho ông số
vàng này; chia cho ông phần di sản còn lại, vì ông sống chung, nuôi dưỡng cha mẹ
khi già yếu và là người làm ra của cải, các anh chị em khác đã được chia đất hết chỉ
có ông là chưa được chia.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Đỗ Hòa Ú rút một phần kháng cáo về
việc yêu cầu trả 8 lượng vàng 24K của cụ T3 nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình
giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị
đơn ông Đỗ Hòa Ú; ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chừa diện tích
khu mộ và lối đi vào khu mộ thuộc quyền sử dụng chung của các đồng thừa kế; áp
dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa một phần Bản án
dân sự sơ thẩm số 240/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân
dân Khu vực 1 – Cà Mau theo hướng trên. Các đương sự phải chịu án phí theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến phát biểu
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, sau khi thảo luận, nghị án, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Hòa Ú hợp lệ. Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau thụ lý và giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, quy định tại Điều
272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 và Điều 285 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015.
[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Đỗ Hòa Ú rút một phần kháng cáo
về việc yêu cầu bán một phần di sản của cụ T3 để trả 8 lượng vàng 24K của cụ T3
còn nợ cho bị đơn. Xét việc rút một phần kháng cáo của bị đơn là tự nguyện, nên
Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo đã rút, theo quy định tại khoản 3
Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
6
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Đỗ Kiều T yêu cầu ông Đỗ Hòa Ú trả lại hai phần đất, cụ thể:
Phần đất vuông diện tích đo đạc thực tế 10.721,3m
2
có các hướng tiếp giáp:
Hướng Đông giáp Đỗ Hòa T1; hướng Tây giáp Đỗ Hòa Ú; hướng Nam giáp Kênh
T, hướng Bắc giáp Trần Hồng N3. Trên phần đất có 01 chòi vuông (căn nhà gỗ) và
01 cống xổ được cụ T3 xây dựng.
Phần đất ở và cây lâu năm có diện tích theo đo đạc thực tế 3255,01m
2
có các
hướng tiếp giáp: Hướng Đông giáp Sông C; hướng Tây giáp Đỗ Hòa Ú; hướng Nam
giáp Trịnh Văn L1, hướng Bắc giáp Đỗ Hòa T1. Trên phần đất có 01 khu nhà mồ
được bà Đỗ Thị Thu H và ông Đỗ Hòa T1 xây dựng; 01 cống xổ được cụ T3 xây
dựng và cây trồng trên đất cụ T3 và ông Ú trồng.
[3] Xét kháng cáo của ông Đỗ Hòa Ú không đồng ý chia thừa kế, vì các anh
em khác đã được cho rồi, phần đất bà T yêu cầu chia thừa kế là của ông Ú:
[3.1] Bà T xác định hai phần đất tại mục [2] được ông nội là cụ Đỗ Tấn T3
lập di chúc để lại cho bà vào ngày 05/11/2015 (bút lục 05).
Xét các bên đều thống nhất với nhau về di sản và hàng thừa kế của cụ T3, cụ
B. Cụ thể: Trong quá trình chung sống, cụ T3 và cụ B có 08 người con là Bà Đỗ Thị
Thu V, bà Đỗ Thị Đ, ông Đỗ Hòa T1, bà Đỗ Thị Thu D, bà Đỗ Thị Thu H, bà Đỗ
Thị H1, ông Đỗ Văn Ú1 (Đỗ Hòa Ú), ông Đỗ Hòa H4 (ông H4 chết vào năm 1996).
Đến ngày 30/7/2012, ngoài người thừa kế thế vị của ông H4 (ông H4 đã chết năm
1996) và bà Đỗ Thị Đ thì những người con còn lại đều thống nhất ký tên giao toàn
bộ di sản của cụ B cho cụ T3 toàn quyền quyết định (bút lục 349-350). Trong quá
trình Tòa án giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Đ cùng các đồng thừa kế của ông
H4 đều thừa nhận có biết sự việc các con cụ T3 cùng giao di sản của cụ B lại cho cụ
T3 và đồng ý với di chúc của cụ T3 (bút lục 137-138; 139A-139; 140-141; 142-143;
144-145146-147; 148-149). Ông Võ Văn K3 và ông Võ Hoàng V2 (con của ông
H4), bà V, bà Đ, bà D, bà H, bà H1 tại phiên toà phúc thẩm cũng không có ý kiến
hay yêu cầu gì.
Như vậy, Văn bản thỏa thuận trên có ý chí của chính ông Ú và mặc dù bà Đ
với các con ông H4 không ký tên nhưng họ không phản đối, nay cũng đồng ý giao
toàn quyền phần đất tranh chấp cho bà T. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định
Văn bản thỏa thuận trên được lập đúng với ý chí của các bên và thể hiện được sự tự
nguyện của các con cụ T3. Do đó, có căn cứ xác định di sản trong di chúc là của cụ
T3.
[3.2] Xét kháng cáo của ông Ú cho rằng thời điểm lập di chúc vào ngày
05/11/2015 cụ T3 đã 88 tuổi, bệnh, phải nằm một chỗ, nên tinh thần không còn minh
mẫn và cụ T3 bị ép ký tên vào di chúc. Thấy rằng: Ngoài ông Ú thì tất cả những
người con của cụ T3 đều xác định thời điểm lập di chúc vào năm 2015, tinh thần cụ
T3 vẫn còn minh mẫn và việc lập di chúc ngoài sự chứng kiến của những người con
cụ T3, di chúc được lập tại Văn phòng C1 với đầy đủ giấy tờ thể hiện tình trạng sức
khỏe và sự tự nguyện của cụ T3 (bút lục 317). Ông Ú cho rằng thời điểm lập di chúc
cụ T3 không minh mẫn, nhưng ngoài lời trình bày thì ông không cung cấp được
7
chứng cứ để chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định nội dung di chúc
trên là hợp pháp và không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông Ú.
[3.3] Ngoài ra, ông Ú cho rằng ông là người sống cùng cha mẹ từ nhỏ và là
người trực tiếp nuôi dưỡng cụ T3, cụ B, nên ông yêu cầu được nhận toàn bộ diện
tích đất tranh chấp. Xét thấy: Di chúc là việc thể hiện ý chí của cá nhân nhằm định
đoạt tài sản sau khi chết, giúp chuyển giao quyền tài sản đúng theo nguyện vọng của
người để lại di sản. Như phân tích tại tiểu mục [3.1], [3.2], có căn cứ xác định di
chúc của cụ T3 để lại là hợp pháp, nên cần thực hiện theo ý nguyện của người để lại
di chúc. Cho nên yêu cầu ông Ú đưa ra là không phù hợp. Mặc khác việc nuôi dưỡng,
chăm sóc cha mẹ là nghĩa vụ, trách nhiệm của người con và trong thời gian sống
cùng cụ T3, cụ B thì ông Ú cũng đã được sử dụng toàn bộ di sản của các cụ để tạo
thu nhập. Đồng thời, bà T đã tự nguyện giao lại một phần đất và nhà trên đất để ông
Ú tiếp tục sử dụng, nên quyền lợi ông Ú vẫn được đảm bảo. Vì vậy, nội dung kháng
cáo này của ông Ú cũng không có cơ sở.
[3.4] Từ phân tích trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo
của bị đơn ông Đỗ Hòa Ú.
[4] Trên diện tích đất bà T được nhận theo di chúc có khu mộ, gồm 05 ngôi
mộ (cụ B, cụ T3, cụ Đỗ Thị N4 (chị của cụ T3), ông Đỗ Hòa H4 (con của cụ T3), cụ
Trần Văn H5 (cha vợ của cụ T3)). Tại phiên toà phúc thẩm, bà T tự nguyện giao lại
phần đất khu mộ và lối đi vào khu mộ cho hàng thừa kế của những người chết được
chôn trên đất được quyền sử dụng chung. Xét sự tự nguyện của nguyên đơn phù hợp
tập quán, pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
[5] Bên cạnh, tại mục [6] phần nhận định của Bản án sơ thẩm số:
240/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà
Mau thể hiện diện tích đất 175,1m
2
bà H tự nguyện giao cho bà T được quyền sử
dụng. Nhưng Toà án cấp sơ thẩm đã nhầm lẫn về số liệu cộng thiếu diện tích đất này
để giao cho bà T sử dụng. Cho nên, cấp phúc thẩm sẽ khắc phục sự nhầm lẫn này.
[6] Từ sự phân tích trên, cần sửa một phần Bản án sơ thẩm số 240/2025/DS-
ST ngày 31/10/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau như nhận định tại
mục [4], [5] của phần nhận định này, theo quy định tại khoản 2 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[7] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật.
[8] Án phí dân sự:
[8.1] Án phí sơ thẩm: Theo chứng thư thẩm định số 413/2024/119 ngày
31/12/2024 của Công ty Cổ phần Đ1 xác định thửa 169 (loại đất ONT + CLN) giá
đất 227.596 đồng/m
2
, thửa 213, 227 (loại đất NTS) giá đất 120.412 đồng/m
2
; giá trị
căn nhà trên đất 582.805.900 đồng.
Bà Đỗ Kiều T được nhận tài sản căn nhà có giá trị 582.805.900 đồng;
10721,3m
2
đất NTS x 120.412 đồng/m
2
= 1.290.973.175 đồng; 2.945,3m2 x 227.596
đồng/m
2
= 670.338.498 đồng. Tổng giá trị tài sản của bà T là 2.544.117.573 đồng.
Nên bà T phải chịu án phí sơ thẩm 82.882.351 đồng, theo quy định tại điểm b khoản
8
1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Đỗ Hòa Ú được nhận tài sản nhà + đất giá trị 656.956.600 đồng, nên phải
chịu án phí số tiền 30.278.264 đồng, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24,
khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8.2] Án phí phúc thẩm: Bị đơn ông Đỗ Hòa Ú không được chấp nhận kháng
cáo, nên phải chịu 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, điểm c khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ, nên được
chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản
1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều
271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 646, 649, 650, 652,
653 và Điều 657 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 167 của Luật Đất đai năm
2013; điểm b, c khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 7 Điều 27, khoản
1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Hòa Ú.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Đỗ Kiều T về việc giành diện tích
đất khu mộ và lối đi vào khu mộ thuộc quyền sử dụng chung của hàng thừa kế thứ
nhất của những người chết chôn trên đất.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Kiều T.
1.1. Buộc ông Đỗ Hòa Ú, bà Nguyễn Thị Bé N2, ông Đỗ Hoàng L, anh Đỗ
Văn K2 giao cho bà Đỗ Kiều T phần đất cấy lúa (nuôi thủy sản) có diện tích
10721,3m
2
và 01 cống xổ, 01 căn nhà gỗ (chòi vuông) tọa lạc tại khóm C, phường
H, tỉnh Cà Mau, phần đất được giới hạn bởi các mốc M2M3M4M5.
9
Phần đất ở và đất lập vườn (ONT + CLN) diện tích 2.945,3m
2
toạ lạc tại khóm
C, phường H, tỉnh Cà Mau, phần đất được giới hạn bởi các mốc
M3M2M8N16N17N18M7M6M5M4N13N11N10N9N8N7N6N5N4N3N2N1.
1.2. Giao cho ông Đỗ Hòa Ú căn nhà và phần đất ở và đất lập vườn (ONT +
CLN) có diện tích 325,8m
2
toạ lạc tại ấp C, phường H, tỉnh Cà Mau, giới hạn bởi
các điểm N1N2N3N4N5N6N7N8N9N10N11N13M3M4.
1.3. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Đỗ Kiều T, giao diện tích đất
159,1m
2
làm khu mộ và lối đi vào khu mộ cho hàng thừa kế của những người chết
chôn trên đất được quyền sử dụng chung, đất toạ lạc tại ấp C, phường H, tỉnh Cà
Mau, giới hạn bởi các điểm M1M2M8N16N17N18N15M1.
(Kèm theo bản vẽ hiện trạng ngày 27/6/2024 và bản vẽ mặt bằng hiện trạng
(điều chỉnh lần 2) ngày 22/4/2026 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
T4)
2. Các đương sự được giao đất được quyền liên hệ cơ quan chuyên môn về
quản lý đất đai để lập thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
3. Về chi phí tố tụng:
Bà Đỗ Kiều T phải chịu số tiền 42.652.800 đồng (Bốn mươi hai triệu sáu trăm
năm mươi hai nghìn tám trăm đồng). Ông Đỗ Hòa Ú phải chịu số tiền 14.536.200
đồng (Mười bốn triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm đồng). Bà T đã nộp và
được đối chiếu thanh toán xong 57.189.000 đồng (Năm mươi bảy triệu một trăm tám
mươi chín nghìn đồng). Ông Ú có trách nhiệm nộp lại số tiền 14.536.200 đồng (Mười
bốn triệu năm trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm đồng) để hoàn lại cho bà T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải
thi hành án không thi hành xong khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm khoản lãi
phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
4. Về án phí dân sự:
4.1. Án phí sơ thẩm:
Bà Đỗ Kiều T phải chịu số tiền 82.882.351 đồng (Tám mươi hai triệu tám
trăm tám mươi hai nghìn ba trăm năm mươi một đồng), nhưng được trừ vào số tiền
tạm ứng bà T đã nộp 20.724.000 đồng (Hai mươi triệu bảy trăm hai mươi bốn nghìn
đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0008525 ngày 23/10/2023 của
Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (cũ). Bà T còn phải
nộp tiếp số tiền 62.158.351 đồng (Sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi tám nghìn
ba trăm năm mươi một đồng).
Ông Đỗ Hòa Ú phải chịu 30.278.264 đồng (Ba mươi triệu hai trăm bảy mươi
tám nghìn hai trăm sáu mươi bốn đồng) (chưa nộp).
4.2. Án phí phúc thẩm: Ông Đỗ Hòa Ú phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng), ông Ú đã dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số
10
0004732 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án
phí.
5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phan Công Trí
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng