Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18A/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TAND huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bình Giang (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 18A/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/07/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T được ly hôn chị Vũ Thị H.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 18A/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 7 - 2024
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi
con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Quang ông Nguyễn Đức
Đông.
- Thư phiên tòa: Ông n Hiếu Thư viên Tòa án nhân dân
huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên
toà: Bà Nguyễn Thu Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 05/6/2024; 10/6/2024 11/7/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân
huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử thẩm công khai vụ án thụ lý số
182/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-
HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số
05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên
tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024; Quyết định tạm
ngừng phiên tòa số 02/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024; Thông
báo thời gian, địa điểm mlại phiên a số 15/2024/TB-TA ngày 02 tháng 7
năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T Sinh năm 1981 (Có mặt).
HKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Vũ Thị H Sinh năm 1987 (Vắng mặt).
HKTT và nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị H được tự do tìm hiểu và đăng
kết hôn với nhau trên sở tự nguyện vào ngày 01/02/2006 tại UBND xã T,
huyện B, tỉnh Hải Dương. Sau khi cưới, anh và chị H chung sống với nhau tại
gia đình anh, quá trình chung sống hai vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm
2018, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng
bất đồng nhau về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau, thậm chí
lần vợ chồng xảy ra đánh chửi nhau khiến địa phương phải can thiệp. Do mâu
thuẫn, hai bên ly thân về mặt tình cảm, không còn quan tâm nhau từ năm 2018
đến năm 2021 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đsinh sống, vchồng không còn
chung sống với nhau. Sau khi vợ chồng ly thân, hai bên không liên lạc và không
bất kỳ biện pháp nào hàn gắn tình cảm để vợ chồng đoàn tụ. Đến nay, anh
xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng anh đã trầm trọng
không thể hàn gắn, níu kéo, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị
Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Vũ Thị H.
- Về con chung: Anh chị H 02 con chung Phạm Đăng T1, sinh
ngày 30/5/2007 Phạm Lưu P, sinh năm 15/12/2013. Hiện nay hai con đang
cùng với anh. Do các con đã lớn, ý kiến riêng nên anh đề nghị Tòa án giải
quyết việc nuôi con của vợ chồng theo nguyện vọng của các con. Con chung
Phạm Lưu P có nguyện vọng ở cùng với anh nên anh đề nghị giải quyết cho nuôi
cháu P. Con chung Phạm Đăng T1 không ý kiến cùng ai nên nếu chị H
nguyện vọng nuôi con anh cũng nhất trí để chị H nuôi cháu T1.
Về điều kiện nuôi con: Anh xác định nhà riêng tại thôn H, T, huyện
B, tỉnh Hải Dương công việc ổn định hiện cán bộ đo đạc tại Trung tâm
tài nguyên môi trường tỉnh H, thu nhập hàng tháng từ 6.500.000đ/tháng. Anh
cam đoan mình có đủ khả năng để nuôi con cho đến khi con chung trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong trường hợp anh nuôi con, anh tự nguyện
không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Hai bên tthỏa thuận giải quyết,
anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H có đơn trình bày ý kiến như sau:
3
- Về quan hệ hôn nhân: Chị không đồng ý với đơn ly hôn của anh T, việc
anh T gửi đơn ly hôn xuất phát từ một phía của anh T, chị H không đồng ý ly
hôn luôn muốn các con đủ bố mẹ và vợ chồng cùng chăm lo cho các con,
phụng dưỡng cha mẹ.
- Về con chung: Chị xác định vợ chồng 02 con chung Phạm Đăng
T1, sinh năm 2007 và Phạm Lưu P, sinh năm 2013. Nếu vợ chồng ly hôn, chị đề
nghị được nuôi cả 02 con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Chị đề nghị phân chia tài sản
chung nhà, đất mang tên hai vợ chồng tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Hải
Dương hai chiếc xe tuy nhiên mục đích chị yêu cầu như vậy đphản
đối yêu cầu xin ly hôn của anh T xác định chị quyền sử dụng đối với nhà,
đất, sau này ai đến trên nhà, đất thì phải được sự đồng ý của chị nhưng chỉ
được ở, không được quyền giao dịch như mua bán, chuyển nhượng, cho tặng
các giao dịch khác liên quan đến nhà đất. Chị H sau khi được hướng dẫn thủ tục
khởi kiện tại tòa án đã không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về việc chia tài sản
theo mẫu và không nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền tạm ứng án phí theo thông
báo số 21/TB-TA ny 13/6/2024 của TAND huyện Bình Giang.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh Phạm Văn T giữ yêu cầu khởi kiện xin ly
hôn và tranh chấp quyền nuôi con với chị Thị H. Chị H vắng mặt tại phiên
tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham dự phiên tòa
phát biểu ý kiến, quan điểm giải quyết vụ án:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ
án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán,
Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố
tụng, đảm bảo các nguyên tắc xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định
của pháp luật tại các Điều 70, Điều 71 BLTTDS; Bị đơn chưa thực hiện đúng
quy định của pháp luật tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều
56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 1
Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều
227; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a
4
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án. Đề nghị HĐXX:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn
T, xử cho anh Phạm Văn T được ly hôn với chị Vũ Thị H.
+ Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn T trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Lưu P, sinh năm 15/12/2013 cho đến
khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành.
Giao cho chị Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung Phạm Đăng T1, sinh ngày 30/5/2007 từ tháng 07/2024 cho đến
khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành.
Anh Phạm Văn T chị Thị H quyền, nghĩa vthăm nom đối với
con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Phạm Văn T chị Thị H, không bên
nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Anh Phạm Văn T phải chịu án phí dân sự thẩm ly hôn
án phí cấp dưỡng theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn T khởi kiện xin ly hôn và tranh chấp về
nuôi con với chị Thị H, chị H hộ khẩu thường trú đang trú tại thôn
H, T, huyện B, tỉnh Hải Dương nên quan hệ tranh chấp cần giải quyết “ly
hôn tranh chấp về nuôi convụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 1 Điều
28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Bị đơn chị Vũ Thị H đã được Tòa án triệu tập đến phiên tòa nhiều lần, chị
H vắng mặt không lý do vậy Tòa án nhân dân huyện Bình Giang tiến hành
xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS.
[2] Về các quan hệ pháp luật cần giải quyết:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn T và chị Vũ Thị H được tự do
tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện vào ngày 01/02/2006
tại UBND T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Sau đó, vợ chồng về chung sống với
nhau tại nhà của anh T H, T, huyện B, tỉnh Hải Dương. Khi đăng kết
5
hôn, anh T chị H đều đủ điều kiện kết hôn, không vi phạm điều cấm theo quy
định của luật Hôn nhân và gia đình nên hôn nhân này là hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, anh T xác định vợ chồng mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng nhau về quan điểm sống dẫn
đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, lần còn xảy ra đánh nhau. Đến
năm 2018, mâu thuẫn trầm trọng nên mặc hai vợ chồng vẫn chung sống
những ly thân vmặt tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Đến năm 2021
thì vợ chồng ly thân, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Đến nay, hai bên
không còn quan tâm đến nhau và không bất kỳ biện pháp nào hàn gắn tình
cảm để vợ chồng đoàn tụ. Anh T xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ
chồng đã ly thân, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đnhau
không biện pháp nào để hàn gắn tình cảm nên anh cương quyết giữ nguyên
lập trường và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn chị H. ChH không trình
bày cụ thể mâu thuẫn và chỉ tnh bày không đồng ý ly hôn anh T. Qua cung cấp
của gia đình anh T đại diện thôn H xác định vợ chồng anh T và chị H có mâu
thuẫn, xảy ra cãi nhau hiện hai vợ chồng ly thân, chị H đã chuyển về sinh
sống tại gia đình bố mẹ đẻ cùng thôn H. Trong quá trình giải quyết, xét xử vụ
án, Tòa án đã nhiều lần báo chị H đến làm việc nhưng chị H không đến
không biện pháp nào để đoàn tụ với anh T. Từ những căn cứ nêu trên thể
khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T chị H đã căng thẳng, trầm trọng,
vợ chồng chung sống không hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
anh T, xử cho anh T ly hôn chị H phù hợp khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56
Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh T và chị H đều xác định vợ chồng 02 con
chung là Phạm Đăng T1, sinh ngày 30/5/2007 và Phạm Lưu P, sinh năm
15/12/2013 hiện đang cùng anh T. Quá trình giải quyết vụ án, cả anh T chị
H đều thể hiện nguyện vọng muốn nuôi con. Xem xét điều kiện nuôi con của
anh T, chị H thì thấy anh T, chị H đều nơi trú ổn định tại thôn H, T,
huyện B, tỉnh Hải Dương, hai vợ chồng đều nghề nghiệp, thu nhập ổn định,
anh T hiện nay là cán bộ đo đạc Trung tâm tài nguyên môi trường tỉnh H còn ch
H nghề nghiệp là giáo viên mầm non tại địa phương nên đều đủ điều kiện để
nuôi con. Xem xét nguyện vọng của các con, con chung Phạm Lưu P nguyện
vọng tiếp tục cùng với anh T, còn con chung Phạm Đăng T1 không thể hiện
6
nguyện vọng. Tại phiên tòa anh T đề nghị giải quyết cho anh nuôi con Phạm
Lưu P nhất trí để con chung Phạm Đăng T1 cho chị H nuôi dưỡng do vậy
giao anh T tiếp tục nuôi con chung Phạm Lưu P giao cho chị H nuôi con
chung Phạm Đăng T1 đến khi các con chung tròn 18 tuổi trưởng thành phù
hợp.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Do anh T chị H đều nuôi con anh T
nuôi con thứ hai Phạm Lưu P tự nguyện không yêu cầu chH cấp dưỡng
nuôi con nên anh T và chị H không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Trong quá trình giải quyết vụ
án, anh T không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung, nợ chung, công sức.
Chị H ý kiến đnghị phân chia tài sản chung nhà, đất mang tên hai vợ
chồng tại thôn H, T, huyện B, tỉnh Hải Dương hai chiếc xe mô tô. Để làm
nội dung yêu cầu chia tài sản của chị H, ngày 20/5/2024 23/5/2024, tòa án
đã làm việc giải thích cho chị H về thủ tục khởi kiện đối với yêu cầu chia tài
sản chung của vợ chồng và yêu cầu chị H sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện về việc
chia tài sản theo mẫu tạm tính giá trị tài sản để làm căn cứ xử yêu cầu của
chị H tuy nhiên chị H không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tạm tính
giá trị tài sản. Chị H xác định bản chất của việc chị đơn trình bày như vậy là để
phản đối yêu cầu của anh T xin ly hôn và xác định chị có quyền sử dụng đối với
nhà, đất, sau này ai đến trên nhà, đất thì phải được sự đồng ý của chị nhưng
chỉ được ở, không được quyền giao dịch như mua bán, chuyển nhượng, cho tặng
các giao dịch khác liên quan đến nhà đất. Đến ngày 10/6/2024, anh T đồng ý
cung cấp tạm tính giá trị khối tài sản chị H đề nghị phân chia để làm căn cứ
giải quyết đối với yêu cầu của chị H. Ngày 13/6/2024, Tòa án đã thông báo
số 21/TB-TA để báo cho chị H nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu chia tài
sản để xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật nộp lại Biên lai thu
tiền tạm ứng án phí cho tòa án tuy nhiên đến hết thời hạn thông báo chị H không
nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền tạm ứng án phí. Tại phiên tòa, anh T giữ
nguyên quan điểm không yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung đề nghị để
hai bên tự thỏa thuận giải quyết. Do vậy, Tòa án không tiến hành xem xét, giải
quyết đối với yêu cầu của chị H về việc phân chia tài sản chung của vợ chồng
khi ly hôn trong vụ án này. Nếu chị H khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung theo
quy định của pháp luật, hai bên sẽ giải quyết trong một vụ án khác.
7
[3] Về án phí: Anh Phạm Văn T nguyên đơn nên phải chịu án phí
thẩm ly hôn theo quy định của pháp luật.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều
82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều
35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147,
khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên x: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn
T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn T được ly hôn chị
Thị H.
2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn T trực tiếp trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Lưu P, sinh năm 15/12/2013 (hiện
đang ở cùng với anh T) cho đến khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành.
Giao cho chị Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo
dục con chung Phạm Đăng T1, sinh ngày 30/5/2007 (hiện đang cùng với anh
T) từ tháng 07/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi trưởng thành.
Anh Phạm Văn T chị Thị H quyền, nghĩa vụ thăm nom đối với
con chung mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Phạm Văn T chị Thị H, không bên
nào phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm
ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí anh T đã nộp theo Biên
lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2021/0004368 ngày 09/10/2023
tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Anh T đã nộp
đủ tiền án phí.
8
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án thẩm. Bị đơn vắng mặt được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản
án được niêm yết.
6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi
hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình
Giang;
- Các đương sự;
- UBND Thái Dương, huyện Bình
Giang, tỉnh Hải Dương (để vào sổ hộ tịch);
- Lưu VP và hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Duy Hải
Tải về
Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST Bản án số 18A/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất