Bản án số 181/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 181/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 181/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 181/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huyền - thành tranh chấp đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- TH phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Quang.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhung, ông Lê Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Khổng Thị Hoa Thư ký Tòa án nn dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Lương Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên
Ny 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân n tỉnh Đắk Lắk t xử pc
thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 598/2025/TLPT- DS ngày 17 tháng
12 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
Do bản án n sự thẩm số: 193/2025/DS - ST ngày 30/9/2025 của Toà án
nhân dân dân khu vc 1 - Đắk Lắk bị kháng cáo, kháng ngh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 135/2026/QĐ - PT ngày
ngày 12 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Doãn Thị H; Địa chỉ: Số 77 Y Moan Ênuôl, phường Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk.
2. Doãn Th Hạnh; Địa chỉ: Số 40C Hẻm 40, t 2, khu phố 4, phường
Quang Vinh, tỉnh Đồng Nai.
3. Ông Doãn Văn Hải; Địa chỉ: Đội 3, thôn 8, Pom Po, huyện Đăng,
tỉnh Bình Phước (nay là xã Pom Po, tỉnh Đồng Nai).
4. Ông Doãn Văn Hoàng; Địa chỉ: Số 39, đường Nguyễn Du, tổ 2, khu phố 4,
phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
5. Ông Doãn Văn Hưởng; Địa chỉ: Số 39, đường Nguyễn Du, tổ 2, khu ph4,
phường Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 181/2026/DS - PT
Ngày 24 3 2026
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
6. Ông Doãn Văn Hòa; Địa chỉ: Số 49 Thường Kiệt, tổ 3, khu phố 5,
Châu Đức, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; (nay là xã Châu Đức, TH phố Hồ Chí Minh).
Đại diện theo ủy quyền: Doãn ThH (văn bản ủy quyền ngày 22/11/2022)
(có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Hữu Huấn; Địa chỉ: Số 01 Đoàn Thị Điểm, phường Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Văn TH (có yêu cầu khởi kiện phản tố); Địa chỉ: Số 278A
Thường Kiệt, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông TH: Ông Nguyễn Quốc Chung.
Địa chỉ: 18/6 Đoàn Thị Điểm, phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Thị Phương Lan. Địa chỉ: Số 66 Nguyễn Đức Cảnh, phường
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
2. Nguyễn Thị Phương Hướng. Địa chỉ: Số 66 Nguyễn Đức Cảnh, phường
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
3. Ông Nguyễn Hữu Huân. Địa chỉ: Số 66 Nguyễn Đức Cảnh, phường Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4. Ông Nguyễn Hữu Huyên. Địa chỉ: Số 66 Thường Kiệt, phường Buôn
Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
5. Ông Nguyễn Hữu Hoài. Địa chỉ: Số 56 Đặng Trần Côn, phường Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
6. Bà Nguyễn Thị Phương H. Địa chỉ: Số 20 Tăng Bạch Hổ, phường Tân Lập,
tỉnh Đắk Lắk.
7. Bà Nguyễn Thị Phương Hiếu. Địa chỉ: Số 18 Trần Quốc Toản, phường
Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
8. Thị Liên. Địa chỉ: Số 278A Thường Kiệt, phường Buôn Ma
Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
(Tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, quá trình làm việc tại Tòa án và
tại phiên tòa nguyên đơn, đồng thời người đại diện theo ủy quyền của các
nguyên đơnDoãn Thị H trình bày:
Về yêu cầu khởi kin của các nguyên đơn: Vào năm 1973 ông Doãn Văn Ngần
bố của các nguyên đơn nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn
Nguyễn Thị Tâm 01 đất diện tích 476m
2
, trên đất 01 căn nhà diện tích
140m
2
và vườn cây ăn trái. Sau khi nhận chuyển nhượng thì cả gia đình sinh sống sử
dụng, tuy nhiên, do đi làm ăn xa thi thoảng mới về nên vào năm 1982, ông Ngần về
thăm nhà thì phát hiện diện tích đất vườn 336m
2
đã bị ông Nguyễn Văn Quỳ ông
Nguyễn Văn Bốn phá vườn cây ăn trái để xây dựng tổ hợp sơn Tiến Lợi và được biết
UBND phường Thắng Lợi đã đồng ý giao đất cho tổ hợp sơn Tiến Lợi. Không đồng
ý với việc nhà nước giao đất của gia đình cho thợp sơn Tiến Lợi nên ông Ngần đã
khiếu nại nhiều lần đến UBND phường Thắng Lợi, UBND TH phố Buôn Ma Thuột
3
UBND tỉnh Đắk Lắk, yêu cầu UBND các cấp trả lại đất. Sau khi tổ hợp sơn Tiến
Lợi giải thể, ông Nguyễn Văn Bốn con trai Nguyễn Hữu Huấn vẫn trên đất.
Cho đến khi ông Ngần chết thì ông Ngần gia đình vẫn không nhận được bt cứ
văn bản giải quyết khiếu ni từ quan thẩm quyền về vụ việc tranh chấp nêu
trên của ông Ngần. Cho đến tháng 07/2020, H lên UBND phường Thắng Lợi để
hỏi việc giải quyết tranh chấp ông Ngần đã khiếu nại trước đó thì được cán b
UBND phường Thắng Lợi thông báo vụ việc đã được quan thẩm quyền giải
quyết và giao cho bà H.
Quyết định số 227/QĐ-UBND ngày 22/01/2007 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân
TH phố Buôn Ma Thuột về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông Doãn Văn
Ngần với ông Nguyễn Văn Bốn Quyết định số 914/QĐ-UBND ngày 12/4/2010
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc giải quyết tranh chp đất đai
giữa ông Doãn Văn Ngần với ông Nguyễn Văn Bốn.
Mặc các quyết định nêu trên đã quyết định thu hồi diện tích 260m
2
, thuộc
thửa đất s50, tờ bản đồ số 09, phường Thắng lợi, TH phố Buôn Ma Thuột giao
cho UBND TH phố Buôn Ma Thuột quản lý, bố trí sdụng; ông Nguyễn Văn Bốn
không quyền sdụng đất nhưng ông Bốn ông Nguyễn Hữu Huấn vẫn tiếp tục
sử dụng đất, đồng thời chuyển nhượng, cho ông Nguyễn Văn TH y nhà trên một
phần đất mà không có giấy phép của cơ quan chức năng.
Do đó, các nguyên đơn đã thực hiện việc khởi kiện, Tại bản án hành chính
phúc thẩm số 77/2022/HC-PT ngày 01/7/2022 số 80/2025/HC-ST ngày
21/01/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao Đà Nẵng đã tuyên chấp nhn các nội dung
khởi kiện của các nguyên đơn, nay bản án trên đã có hiệu lực pháp luật.
Hiện ông Nguyễn Văn TH ông Nguyễn Hữu Huấn là những người đang
quản quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất của các nguyên đơn không
căn cứ pháp luật, vì vậy các nguyên đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết.
Buộc ông Nguyễn Hữu Huấn phải di dời, tháo dở tài sản trên đất và trả lại cho
các nguyên đơn diện tích hiện ông Huấn đang trực tiếp quản lý, sử dụng (khoảng
200m
2
) như kết quả đo vẽ thực tế thửa đất, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk
Lắk.
vị trí tứ cận: ớng Đông giáp đất của Thị Tuyết; Hướng y gp
đường Thường Kiệt; Hướng Nam giáp đường Đoàn Thị Điểm; Hướng Bắc giáp
phần đất ông TH đang quản lý.
Tuyên hiệu hợp đồng cam kết thỏa thuận chuyển nhượng một phần quyền
sử dụng đất ở ngày 05/11/2002 và ngày 23/12/2008, giữa bên chuyển nhượng ông
Nguyễn Văn Bốn, ông Nguyễn Hữu Huấn với bên nhận chuyển nhượng ông
Nguyễn Văn TH.
Buộc ông Nguyễn Văn TH phải di dời, tháo dở tài sản tn đất trả lại cho
nguyên đơn diện tích 60,7m
2
đất, tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
vị trí tcận: Hướng Đông giáp đất của bà Thị Tuyết; Hướng Tây giáp
đất ông Huấn quản ; Hướng Nam phần đường Đoàn Thị Điểm; Hướng Bắc giáp
thửa đất số 51.
Về yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn ông TH: Ông TH yêu cầu ng nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/11/2002 ngày 23/12/2008,
giữa ông Nguyễn Văn TH với ông Nguyễn Văn Bốn, diện tích đất khoảng 66m
2
4
diện tích 101.1m
2
ông Nguyễn Văn TH nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn
Văn Bốn, thì các nguyên đơn không đồng ý, đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của bị đơn ông Nguyễn Văn TH.
Tại phiên tòa phía nguyên đơn đồng ý, tự nguyện hỗ trợ tiền công sức, quản lý
cho ông Nguyễn Hữu Huấn số tiền 250.000.000 đồng đồng ý, tự nguyện htrợ
tiền công sức, quản lý, trả lại giá tr tài sn tn đất cho ông Nguyễn Văn TH số tiền
500.000.000 đồng nếu ông TH đồng ý, tự nguyện trả lại đất cho các nguyên đơn,
nếu ông TH không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo pháp luật. Ngoài
ra không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Hữu Huấn trình bày:
Ông Nguyễn Hữu Huấn con ông Nguyễn n Bốn, đối với tổng diện tích
đất 336m
2
hiện các bên đang tranh chấp có nguồn gốc được UBND tỉnh Đắk Lắk cấp
cho hợp tác xã An Lợi. Năm 1993 hợp tác giải thể đã tiến hành thanh tài sản
cho ông Bốn, ông Bốn sử dụng, năm 2002 ông Bốn chuyển nhượng cho ông TH diện
ch 66m
2
và đến năm 2008 ông Bốn chuyển nhượng tiếp cho ông TH din tích
101,1m
2
, phần còn lại ông Bốn cho ông Huấn bằng miệng.
Nay các nguyên đơn khởi kiện tranh chấp bị đơn ông Nguyễn Hữu Huấn đồng
ý với nội dung khởi kin của phía nguyên đơn, đồng ý trả lại cho các nguyên đơn
diện tích đất ông Huấn đang trực tiếp quản lý, sdụng (khoảng 270m
2
), đồng ý
hủy các hợp đồng chuyển nhượng đất. Đề nghị phía nguyên đơn hỗ trợ cho ông Hun
tiền quản lý đất cho phù hợp. Ngoài ra không có ý kiến, yêu cầu nào khác.
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa bị đơn ông
Nguyễn Văn TH, người đại diện theo ủy quyền của ông TH thống nhất trình bày:
Về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Ngun gốc đất tranh chấp, năm
1982 UBND tỉnh Đắk Lắk ra quyết định cấp cho Hợp tác xã An Lợi theo quyết định
số 336/QĐ-UB, năm 1993, Hợp tác xã giải thể đã thanh tài sản nhà đất cho
ông Nguyễn Văn Bốn. Năm 2002, ông Bốn đã chuyển nhượng cho ông TH 66m²;
năm 2008 ông Bốn chuyển nhượng tiếp cho TH 101.1m
2
. Căn cứ theo quy định pháp
luật thì ông Bốn đủ điều kiện đ cấp giấy chứng nhận QSD đất ông TH cũng
đương nhiên được cấp giấy chứng nhận QSD đất. vậy, các nguyên đơn khởi kiện
về tranh chấp quyền sdụng đất không quyền khởi kiện, đối tượng khởi kiện,
người khởi kiện không đúng, không đủ điều kiện để khởi kiện. Bị đơn ông Nguyễn
Văn TH không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, đề nghị Tòa án
bác toàn bộ nội dung khởi kiện của các nguyên đơn.
Về yêu cầu khởi kiện của bị đơn ông Nguyễn Văn TH: Căn cứ nguồn gốc, quá
trình quản lý, sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Văn Bốn, quá trình nhận chuyển
nhượng của ông Nguyễn Văn TH, nay bị đơn ông TH khởi kiện đề nghị Tòa án xem
xét, giải quyết, cụ thể:
Yêu cầu Toà án không thụ vụ án theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
đình chỉ giải quyết v án theo quy định của pháp luật. Không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 05/11/2002
ngày 23/12/ 2008 giữa ông Nguyễn Văn TH ông Nguyễn Văn Bốn, đối vi diện
tích đất 66m
2
101.1m
2
. Kiến nghị quan thẩm quyền sớm cấp giấy chng
5
nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn TH. Ngoài ra, không có ý kiến yêu cầu
nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn ThPhương Lan, ông Nguyễn Hữu Hoài, bà Nguyễn Thị Phương Hướng
Trình bày:
Bà Nguyễn Thị Phương Lan là vợ ông Nguyễn Văn Bốn, ông Bốn có 07 người
con là Nguyễn Hữu Hoài, Nguyễn Hữu Huyên, Nguyễn Thị Phương H, Nguyễn Hữu
Huân, Nguyễn Hữu Huấn, Nguyễn Thị Phương Hiếu, Nguyễn Thị Phương Hướng.
Ông Bốn chết năm 2014, đối với diện tích đất tranh chấp do ông Huấn quản lý thì bà
Lan, Hướng không tranh chấp gì, ông Hoài cần bàn bạc với anh em sẽ ý
kiến.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa v liên quan Nguyễn Hữu Huyên,
Nguyễn Thị Phương H, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Thị Phương Hiếu, Thị
Liên:
Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia tố tụng nên Tòa án
không tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại Bản án dân sự thẩm số 193/2025/DS - ST ngày 30/9/2025 của Toà
án nhân dân khu vực 1- Đk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 4, Điều 5, Điều 6, khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 70, Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157,
Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 266
của Bộ luật t tng dân sự.
- Căn cứ Điều 14, Điều 163, Điu 164 và Điều 166 của Bộ luật dân sự.
- Căn cứ Điều 166, Điều 168, Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai.
- Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc mức thu, miễn, giảm, thu np, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông, bà
Doãn Thị H, Doãn Thị Hạnh, Doãn Văn Hải, Doãn Văn Hoàng, Doãn Văn Hưởng,
Doãn Văn Hòa.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu Huấn phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn
liền với đất trả lại các nguyên đơn ông, Doãn Thị H, Doãn Thị Hạnh, Doãn
Văn Hải, Doãn Văn Hoàng, Doãn Văn Hưởng, Doãn Văn Hòa quyền sử dụng đất
thuộc một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ số 09, tọa lạc ti phường Buôn Ma Thuột,
tỉnh Đắk Lắk, c th:
Diện ch đất 99,7m
2
, có tứ cận: Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn TH
đang quản lý cạnh dài 0.93m + 4.22m; Hướng Tây giáp đường Lý Thường Kiệt cạnh
dài 0.43m + 17.33m + 1.50m; Hướng Nam giáp đường Đoàn Thị Điểm cạnh dài
5.18m; Hướng Bắc giáp phần đất còn lại ông Huấn đang quản lý cạnh dài 0.42m +
16.08m + 2.12m.
Diện ch đất 99,6m
2
, t cận: Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn TH
đang quản cạnh dài 5.10m; Hướng Tây giáp (lô 1) đất ông Huấn đang quản
cạnh dài 0.42m + 16.80m + 2.12m; Hướng Nam giáp đường Đoàn Thị Điểm cạnh
dài 5.19m; ớng Bắc giáp thửa số 51 cạnh dài 17.27m + 2.15m.
6
- Chấp nhận sự t nguyện của nguyên đơn Doãn Thị H tự nguyện hỗ trợ,
công sức, di dời tài sản cho ông Nguyễn Hữu Hun s tiền 250.000.000 đồng.
- Tuyên bố Hợp đồng cam kết thỏa thuận chuyển nhượng một phần quyền sử
dụng đất ngày 05/11/2002 được kết giữa bên chuyển nhượng một phần quyền
sử dụng đất Nguyễn Văn Bốn, Nguyễn Hữu Huấn bên nhận chuyển nhượng
Nguyễn Văn TH đối với phần diện tích đất chuyển nhượng 6m x 11m = 66m
2
Hợp đồng cam kết thỏa thuận chuyển nhượng một phần quyền sdụng đất ngày
23/12/2008 được kết giữa bên chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất
Nguyễn Văn Bốn bên nhận chuyển nhượng Nguyễn Văn TH đối với phần diện
tích đất chuyển nhượng 5,25m x 19,26m = 101,1m
2
, hiệu do vi phạm điều cấm
của pháp luật.
Buộc bđơn ông Nguyễn Văn TH phải trả lại cho các nguyên đơn ông, bà
Doãn Thị H, Doãn Thị Hạnh, Doãn Văn Hải, Doãn Văn Hoàng, Doãn Văn Hưởng,
Doãn Văn Hòa quyền sử dụng đt thuộc một phn thửa đất số 50, tờ bản đồ s09,
diện tích đất 60,7m
2
, tọa lạc tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Tứ cận: Hướng Đông giáp thửa đất số 41 cạnh dài 0.92m + 9.08m; Hướng Tây
giáp đường Thường Kiệt cạnh dài 5.94m; Hướng Nam giáp phần đất ông Huấn
đang quản cạnh dài 0.93m + 4.22m + 5.10m; Hướng Bắc giáp thửa số 51 cạnh dài
6.04m.
Buộc các nguyên đơn ông, Doãn Thị H, Doãn Thị Hạnh, Doãn Văn Hải,
Doãn Văn Hoàng, Doãn Văn Hưởng, Doãn Văn Hòa thanh toán cho ông Nguyễn
Văn TH giá trị tài sản là 333.622.978 đồng.
Các nguyên đơn được quyền quản lý, sở hữu tài sản gắn liền với đất là nhà xây
móng khung cột dầm sàn tông cốt thép, tường xây gạch ma t sơn nước, nền
lát gạch ceramic, mái lợp tôn thiếc, nhà 02 tầng có tầng lng, diện tích sàn xây dựng
141,4m
2
. Tọa lạc tại phường Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông, Doãn Thị H,
Doãn Thị Hạnh, Doãn Văn Hải, Doãn n Hoàng, Doãn Văn Hưởng, Doãn Văn
Hòa.
- Về việc: Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn TH phải tháo dỡ, di dời tài sản gắn
liền với diện tích đất 60,7m
2
ông Nguyễn Văn TH đang trực tiếp quản lý, sử
dụng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện phản t của bị đơn ông Nguyễn Văn TH.
- Về việc: ng nhn Hợp đồng chuyn nhượng quyền sử dụng đất
05/11/2002, với diện tích 66m
2
23/12/2008, với diện tích 101,1m
2
giữa ông
Nguyễn Văn TH với ông Nguyễn Văn Bốn, ông Nguyễn Hữu Huấn.
- Về hậu quả của hợp đồng hiệu: Buộc ông Nguyễn Hữu Huấn trách
nhiệm trả lại số tiền thanh toán đặt cọc trước cho ông Nguyễn Văn TH là 70.000.000
đồng.
- Về bồi thường: Hợp đồng hiệu do lỗi của hai bên nên các bên không
phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các
khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi sut quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Các
7
nguyên đơn có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện nghĩa vụ tài chính nếu có khi làm thủ tục
theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên vchi ptố tụng, án phí quyền kháng
cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 10/10/2025, bđơn đơn kháng cáo với nội dung: Đnghị Toà án cấp
phúc thẩm huỷ toàn bộ bn án sơ thẩm số 193/2025/DS ST ngày 30/9/2025 của Toà
án nhân khu vực 1 Đắk Lắk để giải quyết lại theo thủ tục chung. Nếu không Hu
án thì đề nghị Bác toàn byêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhn yêu cầu
phản tố của bđơn.
Ngày 31/10/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk kháng nghị đề nghị
Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án thẩm số 193/2025/DS ST ngày
30/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 Đắk Lắk để giải quyết lại theo thủ tục
chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện,
bđơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, Viện kiểm sát giữ nguyên ni dung kháng
ngh.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Các đương sự trong vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực
hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chng cứ trong hồ vụ
án tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát cho rằng cấp thẩm xác định
thiếu quan hệ tranh chấp, gaiỉ quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, tính sai án phí, chưa
thu thập, đánh giá chứng cứ đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên
đề ngh Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 193/2025/DS ST ngày 30/9/2025
Toà án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk giao hồ cho cấp thẩm giải quyết lại
theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập có trong hồ sơ vụ án, kết quả
tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của b đơn nộp trong hạn luật định, người
kháng o đã nộp tm ứng án phí phúc thm nên vụ án được xem xét giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
[2]. Vnội dung: Năm 1973, ông Doãn Văn Ngần nhận chuyển nhượng một
thửa đất diện tích 476m² tại số 64 (nay số 01) đường Đoàn Thị Điểm, phường
8
Thắng Lợi, TH phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Trên đt nhà 140m² vườn
cây ăn trái. Năm 1982, UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định số 336/QĐ-UB
cấp 336m² (thuộc một phần đất vườn của ông Ngần) cho Tổ hợp sản xuất sơn Tiến
Lợi sử dụng. Sau này tổ hợp chuyển TH Hợp tác An Lợi. Năm 1993, Hợp tác
An Lợi giải thể, nhưng ông Nguyễn Văn Bn (nguyên Chủ nhiệm HTX) vẫn tiếp tục
quản lý, sử dụng diện tích đất này. Trong quá trình sử dụng: m 2002, ông Bốn
chuyển nhượng cho ông TH 66m². Năm 2008, tiếp tục chuyển nhượng cho ông TH
101,1m². Phần diện tích còn lại do ông Nguyễn Hữu Huấn (con ông Bốn) quản lý, sử
dụng. Ông Bốn đã chết năm 2014. Ông Doãn Văn Ngần khiếu nại đòi lại phần đất
336m². Tuy nhiên: Quyết định 227/QĐ-UBND năm 2007 của Chủ tịch UBND TP
Buôn Ma Thuột và Quyết định 914/QĐ-UBND năm 2010 của Chủ tịch UBND tỉnh
Đắk Lắk đều không chấp nhận yêu cầu đòi đất, đồng thời thu hồi 260m² giao cho
UBND TH phố quản. Sau khi ông Ngần chết, bà Doãn Thị H (con ông Ngần) khởi
kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính này. Tại Bản án hành chính sơ thẩm năm
2021 phúc thẩm m 2022: Hủy Quyết định 227/2007 914/2010. Bản án hành
chính thẩm năm 2024 phúc thẩm năm 2025: Tuyên hành vi UBND TP Buôn
Ma Thuột không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các con ông Ngần
trái pháp luật. Buộc UBND TP Buôn Ma Thuột phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho các đồng thừa kế của ông Ngần. Hủy Quyết định 336/QĐ-UB năm
1982 (về việc cấp 336m² đất cho Tổ hợp sơn Tiến Lợi) một số quyết định, công
văn liên quan.
[3] Xét đơn kháng cáo của người đại diện theo ủy quyền của bđơn kháng
nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đnghị hủy bản án n sự thẩm,
Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3. 1] Về tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp
quyền sử dụng đất” chưa đầy đủ. Do nguyên đơn yêu cầu tuyên bố hiệu hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, còn bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị công
nhận hiệu lực hợp đồng nên quan hệ tranh chấp phải được xác định “Tranh chấp
quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Về tố tụng: Tòa án tuyên buộc ông Huấn trả cho ông TH 70.000.000 đồng khi
các đương sự không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu vượt quá phạm
vi yêu cầu khởi kiện và phản tố, vi phạm khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 (Tòa án ch giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương sự) không phù hợp
với hướng dn tại Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC về việc không được tự ý giải
quyết hậu quả pháp lý khi đương sự không yêu cầu.
Do đó, cấp thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi giải quyết
vượt quá phạm vi yêu cầu của các đương sự.
[3.2] Về việc xác minh, thu thập chứng cứ:
Tòa án cấp thẩm nhận định trên diện tích đất tranh chấp hoạt động kinh
doanh của Công ty ông Nguyễn Văn TH nhưng không tiến hành xác minh, không thu
thập tài liệu chứng minh sự tồn tại của pháp nhân hoặc cơ sở kinh doanh. Đồng thời,
khi tuyên buộc ông TH trả lại đất cho các đồng nguyên đơn, Tòa án cũng không làm
chủ thể đang trực tiếp quản lý, s dụng đất và tài sản trên đất, không đưa người có
9
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ
và xác định thiếu người tham gia tố tụngvi phạm khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố
tụng dân sự 2015.
[3.3] Về nội dung v án
Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ thể hiện: Theo hợp đồng cam kết thỏa
thuận chuyển nhượng mt phần đt ngày 05/11/2002, giữa bên chuyển nhượng
ông Nguyễn Văn Bốn và bên nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn TH, đối với
diện tích 66m² (6m × 11m) với giá chuyển nhượng 150.000.000 đồng. Tại thi
điểm ký hợp đồng, ông TH đã giao cho ông Bốn 30.000.000 đồng.
Theo hợp đồng cam kết thỏa thuận chuyển nhượng một phần đất ngày
23/12/2008, giữa ông Bốn ông TH đối với diện tích 101,1m² (5,25m × 19,26m)
với giá chuyển nhượng 150.000.000 đồng. Ngày 25/12/2008, ông Bốn xác nhận đã
nhận của ông TH 60.000.000 đồng tiền đặt cọc.
Ngoài ra, ngày 21/01/2009, ông Bốn tiếp tục xác nhận đã nhận của ông TH
10.000.000 đồng số tiền nhận thêm sau khi đặt cọc liên quan đến việc chuyển
nhượng đất tại số 01 Đoàn Thị Điểm, TH phố Buôn Ma Thuột.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án thì tổng số tiền ông TH
đã giao cho ông Bốn 100.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng hai phần đất nêu
trên. Tuy nhiên, bản án thẩm chỉ tuyên buộc ông Huấn phải trả cho ông TH
70.000.000 đồng, trong khi kng làm tổng số tiền thực tế ông TH đã thanh toán
cho ông Bốn, không xác minh đầy đủ các khoản tiền đã giao nhận giữa các bên để
làm cơ sở giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Việc thu thập và đánh giá chứng
cứ như vậy chưa đầy đủ, chưa toàn diện, dẫn đến vic giải quyết vụ án chưa bảo
đảm đúng quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu
Theo biên bản định g tài sản, giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm giải
quyết vụ án được xác định như sau:
Thửa đất diện tích 101,1m² giá trị theo giá thị trường là 5.000.000.000
đồng.
Thửa đất diện tích 66m² có giá trị theo giá thị trường là 3.500.000.000 đồng.
Mặc trong các văn bản giao nhận tiền ghi nhận tin đặt cọc, nhưng
theo lời khai của các đương sự nội dung các giao dịch thể hiện trong hồ vụ án
thì thực cht đây tiền thanh toán cho vic chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
không phải tiền đặt cọc theo nghĩa pháp của giao dịch đặt cọc. Sau khi các bên
kết hợp đồng, ông Bốn đã giao đất cho ông TH quản lý, sử dụng, ông TH đã
xây dựng nhà ở, sinh sống ổn định trong thời gian dài cho đến khi phát sinh tranh
chấp.
Do đó, trong trường hợp các đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả
pháp lý của hợp đồng vô hiệu, thì Tòa án cần: Xác định tổng số tiền ông TH đã thanh
toán cho ông Bốn; Xác định giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm chuyển nhượng
tại thời điểm giải quyết vụ án; m rõ lỗi của mi bên trong việc làm cho hợp
đồng hiệu; Căn cứ vào sự chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất mức độ lỗi của
các bên. Từ đó mới sở giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu theo đúng
hướng dn tại điểm c mục 2.3 Điều 2 Ngh quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày
10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
10
[4] Về án phí
Bản án sơ thẩm tuyên buộc ông Nguyễn Hữu Huấn phải chịu 116.740.000
đồng án phí dân sự sơ thẩm là không đúng quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Huấn tháo dỡ,
di dời tài sản gắn liền với đất và trả lại quyền sử dụng đt đối với một phần thửa đất
số 50, tờ bản đồ số 09. Đây là tranh chấp quyền sử dụng đất, Tòa án chỉ xem xét xác
định quyền sử dụng đất thuộc về ai, không xem xét giá trị tài sản để làm căn cứ tính
án phí. Do đó, ông Huấn chỉ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có
giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 27 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14.
Ngoài ra, bản án thẩm n tuyên buộc ông Huấn phải tr cho ông TH
70.000.000 đồng, nhưng lại không buộc ông Huấn phải chịu án phí đối với nghĩa vụ
tài sản này, không đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết 326.
Theo quy định, đối với nghĩa vụ tài sản 70.000.000 đồng, ông Huấn phải chịu
3.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Như vậy, tổng số tiền án phí ông Huấn phải chịu chỉ 3.800.000 đồng, chênh
lệch 112.940.000 đồng so với bản án sơ thẩm.
Đối với ông Nguyễn Văn TH, bản án thẩm buộc ông phải chu 91.062.000
đồng án phí dân sự thẩm là không đúng. Bởi lẽ, các đồng nguyên đơn yêu cầu
tuyên bố hợp đồng hiệu, còn ông TH yêu cầu phản tố đề nghị công nhn hiệu
lực hợp đồng. Đây là tranh chấp không giá ngạch, nên ông TH chỉ phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự thẩm theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 27 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14.
[5]. Tnhững phân tích, nhận định trên xét thấy, án thẩm xác định thiếu
quan hệ tranh chấp, gii quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện, tính sai án phí, thu thập
tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, ảnh hưởng đến quyền li ích hợp pháp của đương
sự, nên cần hủy án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại
vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[6]. Về án phí và chi phí tố tụng: Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm nên chi phí tố
tụng án phí DSST sẽ được quyết định khi ván được giải quyết lại theo quy định
của pháp luật.
[6.1]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do được chấp nhận đơn kháng cáo nên b
đơn ông Nguyễn Văn TH không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn TH kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tnh Đắk Lắk.
- Huỷ toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 193/2025/DS ST ngày 30/9/2025
của Toà án nhân dân khu vực 1 Đắk Lk. Giao hồ sơ cho Toà án nhân dân khu vực
1 Đắk Lắk giải quyết lại vụ án theo th tc chung.
11
[2]. Về chi phí t tng và án phí
[2.1]. Về chi phí tố tụng án phí dân sự thẩm: Do hủy toàn bộ bản án sơ
thẩm nên chi phí tố tụng án phí DSST sẽ được quyết định khi vụ án được giải
quyết lại theo quy định của pháp luật.
[2.2]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn TH s
300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do ông Nguyễn Quốc Chung đã nộp
thay theo biên lai số 0003227 ngày 23/10/2025 tại Thi hành án n sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1- Đắk Lắk;
- Cục THA dân sự tỉnh Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Cổng thông tin điện tử TA;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Trần Minh Quang
12
Tải về
Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất