Bản án số 213/2026/HS-PT ngày 01/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/HS-PT ngày 01/04/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 213/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 213/2026/HS-PT
Ngày 01-4-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Vui
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Hiếu
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Vũ Vân Thủy Thư ký Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 749/2025/TLPT-HS ngày 19-11-
2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đình K Phan Hoàng Bích T, do kháng cáo
của các bị cáo đối với Bản án hình sự thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9
năm 2025 ca Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Đình K, sinh năm 1982 tại tỉnh Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: 4
L, Khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Rịa - Vũng Tàu (nay phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi hiện nay: Tổ E, ấp T, H, thành phố B, tỉnh
Rịa - Vũng u (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Kinh
doanh; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình C, sinh năm 1956 Trịnh Thị M
(đã chết); vợ là Lê Thị H, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có hai người con, con lớn sinh
năm 2012, con nhỏ sinh năm 2025.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 15/2002/HSST ngày 31-01-2002 của Tòa án nhân dân
thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (cũ) xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản”.
Bị tạm giữ từ ngày 20-11-2023 đến ngày 29-11-2023 chuyển tạm giam. Đến
ngày 26-01-2024 được tại ngoại (Có mặt).
2. Phan Hoàng Bích T, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú
và chỗ ở: Tổ A, khu B, xã A, huyện L, tỉnh Đồng Nai (nay là xã A, tỉnh Đồng Nai);
Nghề nghiệp: Giám sát xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nữ; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan n B, sinh năm 1954
và bà Trần Thị T1, sinh năm 1969, chồng là Nguyễn Thành P, sinh năm 1984 (đã ly
hôn); có hai người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2025.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 20-11-2023 đến ngày 29-11-2023 chuyển tạm giam. Đến
ngày 26-01-2024 được tại ngoại (Có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đình K và bị cáo Phan Hoàng Bích T:
Trịnh Thị H1, sinh năm 1973 Luật sư thuộc Công ty L1, Đoàn Luật sư Thành
phố H (Vắng mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
nhưng không kháng cáo không liên quan đến nội dung kháng cáo nên Toà án
không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng hơn 17 gingày 20-11-2023, Nguyễn Đình K Phan Hoàng Bích
T hẹn gặp nhau tại quán trà sữa Gong C1, địa chỉ số A B, phường P, thành phố B,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) để bàn chuyện
làm ăn. Quá trình nói chuyện, cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, T cầm chai nước
hoa bằng thủy tinh ném xuống đất làm bể vỡ rồi cả hai bỏ đi. Khi ra khỏi quán, K
điều khiển xe ô con nhãn hiệu Lexus, loại RX 300, biển số 72A-343.35 chạy trước;
T cũng điều khiển xe ô tô con nhãn hiệu VinFast, loại Lux A2.0, biển số 60A-860.48
theo sau. Cả hai xe di chuyển từ quán G vào đường N, qua vòng xoay T, tiếp tục di
chuyển thẳng trên đường N. Khi đến giao lộ giữa Nguyễn Văn L và Nguyễn Hữu T2
(trước quán B1) đèn n hiệu giao thông đang đnên K dừng xe chờ. c này, T đang
bực tức, không chú ý quan sát đèn tín hiệu nên khi K dừng xe thì xe của T thắng
không kịp đã va chạm vào đuôi xe của K. Do còn bực tức vì mâu thuẫn trước đó, T
nảy sinh ý định điều khiển xe tông vào đuôi xe của K. T tăng ga, tông vào đuôi xe
của K hai lần. K thấy T tông xe làm hỏng xe của nh nên bực tức, điều khiển xe
quay đầu trong giao lộ, khi xe của K đối đầu với xe ca T thì K đạp ga tông vào đầu
xe của T một lần, sau đó lùi xe lấy trớn, tiếp tục đạp ga tông thêm hai lần vào phần
đầu xe của T. T thấy K tông thì về số, để xe ở chế độ dừng nên khi bị xe Kỳ tông, xe
của T bị đẩy về phía sau tạo ma sát trên đường. Sau đó, K T điều khiển xe ô
của mình rời khỏi hiện trường. Hậu quả, xe ô tô của K bị hư hỏng phần đầu và phần
đuôi xe, xe ô của T bị hư hỏng phần đầu. Quá trình hai xe tông nhau làm nhiều
người đi đường hoảng sợ phải dừng lại, gây mất an ninh trật tự.
Tại Bản kết luận giám định số 346/KL-HTHS-DVCH ngày 06-12-2023 của
Phòng K1 Công an tỉnh B đối với dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 72A-343.35
và xe ô tô biển số 60A-860.48, kết luận:
“1. - Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 60A-860.48 hình thành do vật cứng,
tiết diện rộng tạo thành. Chiều dấu vết va chạm từ trước về sau, từ trái sang phải.
- Dấu vết va chạm trên xe ô tô biển số 72A-343.35 hình thành do vật cứng, tiết
diện rộng tạo thành. Chiều dấu vết va chạm từ sau ra trước, từ trên xuống dưới; từ
trước về sau, từ trái sang phải.
2. - Dấu vết biến dạng, nứt vỡ kính, cong vênh và bám dính chất màu xanh đen
(dạng sơn) tại gờ mép trên của biển số gắn phía trước, ở xe ô tô biển số 60A-860.48
phù hợp với dấu vết biến dạng, cắt, xước mất sơn màu xanh đen bám dính chất
màu trắng ti cản sau, ở xe ô tô biển số 72A-343.35.
- Dấu vết nứt kính trượt xước bám dính chất màu đen tại bên trái biển số
trước, trượt xước mất sơn màu tím tại nhựa đầu xe (bên trái biển số), ở xe ô tô biển
số 60A-860.48, phù hợp với dấu vết xước mất sơn màu xanh đen bám dính chất
màu trắng, dấu vết vỡ, biến dạng tại nhựa đầu cản sau, bên trái, xe ô biển số
72A-343.35.
3. - Dấu vết gãy vỡ, biến dạng biển số, trượt xước mất sơn màu xanh đen tại
cản và lưới thông gió đầu xe, bên trái, ở xe ô tô biển số 72A-343.35 phù hợp với dấu
vết biến dạng, xước mất sơn màu tím và nhựa tại cản và nhựa đầu xe, bên trái, ở xe
ô tô biển số 60A-860.48.
- Dấu vết gãy vỡ, biến dạng tại cản nhựa, lưới thông gió phía trước, K2 bảo vệ
động cơ, ở xe ô tô biển số 72A-343.35 phù hợp với dấu vết biến dạng, gãy vỡ, trượt
xước mất sơn màu tím tại lưới thông gió, nhựa đầu xe, phía trước nắp capo, khung
kim loại bảo vệ động cơ, ở xe ô tô biển số 60A-860.48.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 253/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 11 năm
2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân (sau
đây viết tắt là UBND) thành phố B đối với các thiệt hại phần đuôi xe Lexus RX 300,
biển số 72A-343.35, kết luận: Phần đầu xe tổng thiệt hại 65.679.883 đồng, phần đuôi
xe thiệt hại 9.779.577 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 256/KL-HĐĐGTS ngày 23 tháng 11 năm
2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố B
đối với các thiệt hại của xe ô tô VinFast Lux A2.0, biển số 60A-860.48, kết luận giá
trị thiệt hại là 63.873.296 đồng.
Ngày 25-01-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B yêu cầu Hội
đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND tỉnh B định giá lại giá trị tài
sản thiệt hại đối với hai chiếc xe trên. Tại Công văn số 25/STC-ĐGTTTHS ngày
23-02-2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND tỉnh B trả
hồ đnghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố
B định giá lại giá trị tài sản thiệt hại.
Tại Bản kết luận định gtài sản số 79/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 4 năm 2024
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố B đối với
các thiệt hại của xe ô tô VinFast Lux A2.0, biển số 60A-860.48 là 37.550.000 đồng,
gồm tiền phụ tùng 32.550.000 đồng tiền công thay thế sửa chữa 5.000.000
đồng.
Tại Bản kết luận định gtài sản số 76/KL-HĐĐGTS ngày 04 tháng 4 năm 2024
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND thành phố B đối với
các thiệt hại của phần đuôi của xe ô Lexus RX 300, biển số 72A-343.35, hiệu
11.500.000 đồng, gồm tiền vật 10.500.000 đồng tiền công thay thế
1.000.000 đồng.
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng, tài sản:
- 01 đĩa DVD lưu 01 đoạn video trích xuất từ camera giám sát an ninh của Công
an phường P; 01 đĩa DVD lưu 01 đoạn video do ông Trần Trung T3, sinh năm 1967,
hộ khẩu thường trú Tổ 8, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Rịa - Vũng Tàu
(nay L, Thành phố Hồ Chí Minh) quay lại diễn biến vụ án bằng điện thoại di
động cá nhân. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
- Xe ô tô Lexus RX 300, biển số 72A-343.35, màu xanh, số máy 40562168AR,
số khung JTJBAMCAX02075050. Qua tra cứu xe do Công ty L1 hữu hạn Cẩm
H2, người đại diện theo pháp luật của Công ty Thị H, sinh năm 1982, hộ
khẩu thường trú số D L, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
(nay phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Công ty vốn
góp của vợ chồng K H. H xác nhận xe hiện đang thế chấp tại Ngân hàng
Thương mại cổ phần Đ1 (S) Chi nhánh V đvay tiền. Qua làm việc, Ngân hàng
không có ý kiến gì, khi tranh chấp về thu hồi nợ sẽ yêu cầu bằng vụ án dân sự khác.
- Xe ô VinFast Lux A2.0, biển số 60A-860.48, màu nâu, số máy
70001VF20SED, số khung 2RSGLV003175 do Phan Hoàng Bích T đứng tên chủ s
hữu. Xe ô biển số 60A-860.48 hiện đang thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ
phần K3 (T4) Chi nhánh T5. Qua làm việc, Ngân hàng không ý kiến gì, khi
tranh chấp về thu hồi nợ sẽ yêu cầu bằng vụ án dân sự khác.
Đã chuyển svật chứng còn tạm giữ đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
B (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 12) bảo quản, chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đình K đã bồi thường cho Phan Hoàng Bích T
số tiền 32.550.000 đồng; Phan Hoàng Bích T đã bồi thường cho Nguyễn Đình K số
tiền 11.500.000 đồng không ai yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với hỏng phần
đầu của xe L2 do K tự gây ra nên tự sửa chữa, khắc phục.
Tại Bản án hình sự thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 m 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 15 (mười lăm) tháng về tội “Cố ý
làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây
rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Đình K phải chấp hành
hình phạt 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị bắt thi hành án
được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Hoàng Bích T 12 (mười hai) tháng
về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Hoàng Bích T 15 (mười lăm) tháng tù
về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Phan Hoàng Bích T phải chấp
hành hình phạt là 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt thi hành
án được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định.
Kháng cáo: Ngày 06-10-2025, bcáo Nguyễn Đình K bcáo Phan Hoàng
Bích T có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình K bị cáo Phan Hoàng Bích T
khai nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án thẩm đã tuyên bổ sung yêu cầu
kháng cáo, cụ thể, các bcáo xin giảm nhẹ hình phạt xin thay đổi hình phạt
giam sang cải tạo không giam giữ hoặc án treo hoặc hình thức phạt tiền.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Bị cáo Nguyễn Đình K và bị cáo Phan Hoàng Bích T có đơn kháng
cáo trong thời hạn luật định, hợp lệ, đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật
nên được xem xét giải quyết theo thủ tc phúc thẩm.
Về nội dung: Bản án thẩm đã xét xử đối với bị cáo đúng người đúng
tội, mức án đã tuyên là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân
của bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo kháng cáo đề nghị giảm mức án thay đổi hình
phạt. Đồng thời, tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ
mới thể hiện rằng hiện nay hai bị cáo đã kết hôn với nhau (có giấy đăng ký kết hôn),
hiện đang nuôi 03 con nhỏ, ngoài ra, bcáo T đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi
chưa có công việc ổn định, còn bị cáo K hiện đang đóng vai trò chính trong việc điều
hành hai công ty tư nhân là người tạo ra nguồn thu nhập chính của gia đình. Do
đó, Kiểm sát viên đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015 chấp nhận kháng cáo của các bị cáo:
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý làm
hư hỏng tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K từ 06 tháng đến 09 tù về tội “Gây
rối trật tự công cộng”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Đình K
phải chấp hành hình phạt là 15 tháng tù đến 21 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị
bắt thi hành án và được trừ đi thời gian tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-
01-2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bluật
hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hoàng Bích T mức phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến
50.000.000 đồng về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 318; điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hoàng
Bích T từ 06 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công
cộng” và được trừ thời gian tạm giam. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình
sự, buộc bị cáo Phan Hoàng Bích T phải chấp hành hình phạt đối với hai tội danh
trên, có trừ thời gian tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024 cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án và thay đổi hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình K bị cáo Phan Hoàng Bích T nộp
trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo,
hình thức nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo hợp lệ,
được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Đình K và bị cáo Phan Hoàng Bích T
đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đình
K và bị cáo Phan Hoàng Bích T phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình
điều tra, tại phiên tòa thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ
sơ. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Vào khoảng hơn 17 giờ ngày 20-11-2023, Nguyễn Đình K Phan Hoàng Bích
T hẹn gặp nhau tại quán trà sữa Gong C1, địa chỉ số A B, phường P, thành phố B,
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Quá trình nói
chuyện, cả hai xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Khi ra khỏi quán, K điều khiển xe ô
con nhãn hiệu Lexus, loại RX 300, biển số 72A-343.35 chạy trước; T cũng điều khiển
xe ô con nhãn hiệu Vinfast, loại Lux A2.0, biển số 60A-860.48 theo sau. Khi cả
hai xe di chuyển đến giao lộ giữa Nguyễn Văn L Nguyễn Hữu T2 (trước quán B1)
đèn tín hiệu giao thông đang đỏ nên K dừng xe chờ. Lúc này, T đang bực tức, không
chú ý quan sát đèn tín hiệu nên khi K dừng xe thì xe của T thắng không kịp đã va
chạm vào đuôi xe của K. Do còn bực tức mâu thuẫn trước đó, T nảy sinh ý định
điều khiển xe tông vào đuôi xe của K, T tăng ga, tông vào đuôi xe của K 02 phát. K
thấy T tông xe làm hỏng xe của mình nên bực tức, điều khiển xe quay đầu trong giao
lộ, khi xe của K đối đầu với xe của T thì K đạp ga tông vào đầu xe của T 01 lần, sau
đó lùi xe lấy trớn, tiếp tục đạp ga tông thêm 02 lần vào phần đầu xe của T. Sau đó,
K T điều khiển xe ô của mình rời khỏi hiện trường. Hậu quả, xe ô biển số
72A-343.35, hiệu Lexus do K điều khiển bị hỏng phần đầu và phần đuôi xe, giá
trị thiệt hại là 11.500.000 đồng; xe ô tô biển số 60A-860.48, hiệu Vinfast Lux A2.0
do T điều khiển bị hư hỏng phần đầu, giá trị thiệt hại là 37.550.000 đồng. Quá trình
02 xe tông nhau làm nhiều người đi đường hoảng sợ phải dừng lại, gây mất an ninh
trật tự.
Bcáo Nguyễn Đình K và bcáo Phan Hoàng Bích T là người đủ năng lực
trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội; xâm
phạm đến quyền tài sản của người khác; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự công
cộng tại địa phương xã hội. Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử các bị cáo về ti
“Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm
2015 (sau đâu viết tắt là BLHS) và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại
khoản 1 Điều 318 BLHS căn cứ, đúng người, đúng tội đúng quy định của
pháp luật.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của các bị cáo:
[3.1] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đình K:
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo K, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị
cáo K không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân xấu
có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi
thường khắc phục hậu quả đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại
điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ và xphạt bị cáo 15 (mười lăm) tháng
tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gây rối trật t
công cộng”, tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
Sau khi xét xử thẩm, bị cáo K đơn kháng cáo xin miễn, giảm nhẹ hình
phạt với do mức hình phạt của Bản án thẩm đã tuyên đối với bị cáo quá
nghiêm khắc so với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị
cáo khó khăn, bị cáo lao động chính trong gia đình 02 con nhỏ, con nhỏ nhất
sinh năm 2025.
Người bào chữa cho bị cáo K có văn bản trình bày, đề nghị Tòa án xem xét lại
mức thiệt hại mà hành vi của bị cáo K gây ra đề nghị áp dụng các điểm b, e, i, s
khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS để áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất trong
khung hình phạt, xem xét cho bị cáo K được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam
giữ hoặc phạt tiền.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”: T
hành vi điều khiển xe ô VinFast Lux A2.0, biển số 60A-860.48, từ phía sau,
tông vào đuôi xe ô Lexus RX 300, biển số 72A-343.35 do K điều khiển; sau đó,
K điều khiển xe quay đầu trong giao lộ, khi xe của K đối đầu với xe của T thì K đạp
ga tông vào đầu xe của T. Do đó, đối với hậu quả phần đầu xe ô VinFast Lux A2.0,
biển số 60A-860.48 do T điều khiển bị hỏng với giá trị thiệt hại 37.550.000
đồng thì cả T và K đều có lỗi. Đồng thời, việc T điều khiển xe tông vào đuôi xe của
K trước như nêu trên là đã thực hiện hành vi trái pháp luật trước, chính hành vi trái
pháp luật này của T đã chi phối, kích động tinh thần Kỳ, làm cho K không hoàn toàn
tự chủ, tỉnh táo, tự kiềm chế thực hiện hành vi phạm tội. Ngoài ra, vào năm 2002,
K đã bị Tòa án nhân dân thẩm quyền xử phạt 15 tháng về tội “Trộm cắp tài
sản” nhưng đã được xóa án tích, sau khi được xóa án tích cho đến nay thì chưa phạm
tội lần nào và lần này bị xét xử và kết án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy
định tại khoản 1 Điều 178 BLHS thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác,
người bị hại T chỉ bị thiệt hại về tài sản quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc
thẩm T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K, đây tình tiết mới phát sinh tại cấp
phúc thẩm.
Trên cơ sở đánh giá phù hợp với tính chất hành vi, mức độ hậu quả do hành vi
phạm tội gây ra, đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần
áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ chưa được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng. Cụ
thể: phạm tội trong trường hợp bkích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật
của nạn nhân gây ra, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người
bị hại xin giảm nhhình phạt cho người phạm tội trong trường hợp chỉ gây thiệt hại
về tài sản người bị hại cũng lỗi; theo quy định tại điểm e, i khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51 BLHS và khoản 6, khoản 9 Điều 2, khoản 7, khoản 8 Điều 3 Nghị
quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025; áp dụng đối với tội “Cố ý làm hỏng
tài sản”.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, đối với tội “Gây rối trật tự công cộng”,
Bản án sơ thẩm đã đánh giá, xem xét đầy đủ và quyết định hình phạt phù hợp.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần
kháng cáo của bcáo K, giảm một phần hình phạt, xử phạt bị cáo K 06 tháng về
tội “Cý làm hư hỏng tài sản” và 12 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”; căn
cứ Điều 55 BLHS, bị cáo Nguyễn Đình K phải chấp hành hình phạt là 18 tháng tù;
căn cứ Điều 38 BLHS, thời hạn chấp hành hình phạt được trừ đi thời gian tạm giữ,
tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024.
[3.2] Xét kháng cáo của bị cáo Phan Hoàng Bích T:
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo T, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét: Bị
cáo T nhân thân tốt, không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự các
tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường
khắc phục hậu quả đối với tội “Cố ý làm hỏng tài sản”, cha ruột người
công với cách mạng đang nuôi con nhỏ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản
2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ xử phạt bị cáo 1 (mười hai) tháng về tội “Cố ý
làm hư hỏng tài sản” và 15 (mười lăm) tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”,
tổng hợp hình phạt cho cả 02 tội là 27 (hai mươi bảy) tháng tù.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Hoàng Bích T có đơn kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt với lý do mức hình phạt của Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là
quá nghiêm khắc so với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo phạm tội lần
đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo
lao động chính trong gia đình 02 con nhỏ, con nhỏ nhất sinh năm 2025, Hội
đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Tiên cung C2 bổ sung các giấy khen của cơ quan, t
chức, đoàn thể Huy chương kháng chiến hạng Nhất trao tặng cho ông Phan
Văn Q Nguyễn Thị Đ ông bà nội của T, đây tình tiết mới phát sinh tại cấp
phúc thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo T có văn bản trình bày như sau: Mức án tại Bản án
thẩm là quá nặng so với hành vi phạm tội. Đề nghị Tòa án xem xét lại mức thiệt
hại hành vi của bị cáo T gây ra đầu xe T va chạm vào đuôi xe Kỳ ba lần nhưng
một lần hoàn toàn vô tình do không thắng kịp khi dừng đèn đỏ tại giao lộ. Hành
vi của bị cáo T chỉ mang nh bộc phát, do thiếu kiềm chế, không có sự chuẩn bị từ
trước, không có mục đích hủy hoại tài sản của nhau, thiệt hại về tài sản là không lớn
đã được khắc phục toàn bộ, cả K T đều không yêu cầu xử hành vi gây
hại tài sản. Thời điểm xảy ra sự việc, T và K đã phát sinh quan htình cảm, hiện nay
là vợ chồng hợp pháp và có con chung với nhau. Bị cáo T không có tiền án, tiền sự;
phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải; gia đình có công với cách mạng; bản thân T có đóng góp thiết thực cho cộng
đồng, xã hội nên có nhiều giấy khen thành tích xuất sắc trong công tác xã hội trong
nhiều năm liền; quá trình sinh sống, bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của pháp
luật; nơi trú rõ ràng; đủ căn cứ cho thấy bị cáo T khả năng cải tạo tốt, không
cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm
b, i, s, v, x khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 BLHS để áp dụng mức hình phạt nhẹ
nhất trong khung hình phạt, xem xét cho bị cáo T được hưởng án treo hoặc cải tạo
không giam giữ hoặc phạt tiền.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo T từ trước cho đến nay chưa phạm
tội lần nào và lần này bị xét xử và kết án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy
định tại khoản 1 Điều 178 BLHS thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đồng thời,
người bhại K chỉ bị thiệt hại về tài sản, quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm
K xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T. Ngoài ra, ông bà của bị cáo T được trao tặng
Huy chương kháng chiến hạng Nhất vì đã thành tích trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước. Đây các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51 BLHS và khoản 9 Điều 2, khoản 7, khoản 10 Điều 3 Nghị quyết số
04/2025/NQ-HĐTP ngày 30-9-2025 mà chưa được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng.
Trên cơ sở đánh giá phù hợp với tính chất hành vi, mức độ hậu quả do hành vi
phạm tội gây ra, đảm bảo sự khoan hồng của pháp luật bị cáo T phạm tội ít nghiêm
trọng, nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi trú ràng được Công an P, Thành
phố Hồ Chí Minh xác nhận nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết
phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo
T, xử phạt bị cáo T 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hỏng tài
sản” 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”; căn cứ
Điều 55 BLHS, bị cáo Phan Hoàng Bích T phải chấp hành hình phạt là 27 tháng cải
tạo không giam giữ; căn cứ Điều 36 BLHS, thời gian tạm giữ, tạm giam là 02 tháng
07 ngày (từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024) được trừ vào thời hạn chấp hành
hình phạt cải tạo không giam giữ 06 tháng 21 ngày. Ngoài ra, do bị cáo T và b
cáo K đang cùng trực tiếp nuôi hai con nhỏ bị o T hiện không thu nhập ổn
định nên miễn việc khấu trừ thu nhập.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do sửa Bản án thẩm nên các bị cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 355 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2025); Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bcáo Nguyễn Đình K bị cáo Phan
Hoàng Bích T; Sửa Bản án thẩm số 71/2025/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; điểm b, e, i, s khoản 1 khoản
2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 06 (sáu) tháng tù
về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 12 (mười hai) tháng tù vtội “Gây
rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bcáo Nguyễn Đình K 18
(mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày người bị kết án bị bắt thi hành án và
được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Hoàng Bích T 12 (mười hai) tháng
cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 36 B luật Hình sự xử phạt bịo Phan Hoàng Bích T 15 (mười lăm) tháng cải
tạo không giam giữ về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ Điều 55, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị o Phan Hoàng Bích T
27 (hai mươi bảy) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính
từ ngày quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được
Quyết định thi hành án và bản sao Bản án và được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam
từ ngày 20-11-2023 đến ngày 26-01-2024 bằng 06 tháng 21 ngày cải tạo không giam
giữ.
Miễn việc khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Phan Hoàng Bích T.
Giao bị cáo Phan Hoàng Bích T cho y ban nhân dân xã P, Thành phố Hồ Chí
Minh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án trách nhiệm phối hợp với
Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định
tại Luật Thi hành án hình sự.
2. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, không bị kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND TP. HCM;
- Công an TP. HCM;
- UBND xã P, TP. HCM;
- TAND Khu vực 12, TP. HCM ;
- VKSND Khu vực 12, TP. HCM ;
- THADS TP. HCM (Phòng THADS KV12);
- Các Bị cáo;
- Lưu: HS, VP, THS. (01)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trần Văn Vui
Tải về
Bản án số 213/2026/HS-PT Bản án số 213/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/HS-PT Bản án số 213/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất