Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 31/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST ngày 31/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 18/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/08/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thao Thang
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG
--------------------------
Bản án số: 18/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 31/8/2025
Về việc:"Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
------------------------
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VC 11 - HI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Đinh Thị Thuý Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Thị Hằng và ông Phạm Duy Hiển.
- Thư ký phiên toà: Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân khu
vực 11 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng tham gia
phiên toà:Phạm Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 m 2025, tại Trs Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hi
Png t xử thm ng khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:
95/2025/TLST- HNGĐ ny 23 tháng 5 năm 2022 v việc:"Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra t xử số: 06/2025/XX-ST ngày 01
tháng 8 năm 2025 và Quyết đnh hn phn tòa s: 05/2025/ST-HNGĐ ngày
16 tháng 8 m 2025 gia c đương s:
Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Th, sinh ngày: 10/03/1997; Căn cước công
dân số: 037197000982 cấp ngày 20/03/2022.
ĐKHKTT: đội 6, thôn CD, xã TrT, thành phố Hải Phòng.
Nơi ở: thôn 10, KhTr, tỉnh Ninh Bình. đơn xin vắng mặt tại phiên
tòa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Việt Th, sinh ngày: 02/09/1988; Căn cước công dân
số: 030088005381 cấp ngày 19/08/2024.
Địa chỉ: đội 6, thôn CD, xã TrT, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt tại phiên
tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn chị
Đoàn Thị Th trình bày: Chị anh Nguyễn Việt Th sau thời gian tìm hiểu một
năm ttự nguyện kết hôn được đăng kết hôn tại UBND NhT, huyện
2
GiL, tỉnh Hải Dương (nay UBND TrT, thành phố Hải Phòng) vào ngày
11/4/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm, đến
tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình
không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm, không tiếng nói chung, không tập
trung kinh tế, vợ chồng không sthông cảm, chia sẻ với nhau. Anh chị đã
sống ly thân từ tháng 9 năm 2022 cho đến nay, chị Th đã về nhờ nhà mẹ đẻ tại
thôn 10, KhTr, tỉnh Ninh Bình. Thỉnh thoảng, anh Th về nhà mẹ đẻ chị, gây
sự, xúc phạm chị thậm tệ. Anh chị không còn quan tâm đến nhau. Đến nay, cuộc
sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng đã hết nên chị
vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với
anh Nguyễn Việt Th để hai bên ổn định cuộc sống.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của
Tòa án cho anh Nguyễn Việt Th thông qua bố đẻ anh Thông Nguyễn Văn Th.
Ông Th xác định: anh Th không nhà nên ông nhận thay đã thông báo lại
các văn bản của Tòa án cho anh Th đầy đủ nhưng do anh Th đi làm xa, công
việc bận nên anh không thể có mặt để làm việc tại Tòa án được, anh đề nghị Tòa
án giải quyết vắng mặt anh, anh nhất trí ly hôn với chị Th đồng ý việc chị Th
nuôi dưỡng cả hai con chung đồng thời anh cũng đồng ý với việc chị Th không
yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con. Theo ông Th trình bày, chị Th anh Th kết
hôn với nhau vào ngày 11/4/2018, được đăng kết hôn tại UBND NhT,
huyện GiL, tỉnh Hải Dương (nay UBND TrT, thành phố HPh). Sau khi kết
hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được 03 năm, đến tháng 4/2021 thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị chưa hiểu nhau, vợ chồng tính tình không
hợp, bất đồng quan điểm sống, không tiếng nói chung. Vchồng không tập
trung kinh tế, không sự chia sẻ, thông cảm cho nhau. Ttháng 9/2022 cho
đến nay, chị Th hai con đã về nhờ nhà mẹ đẻ chị. Anh Th cũng không quan
tâm đến mẹ con chị Th. Anh chị sống ly thân ttháng 9/2022 đến nay, cuộc
sống vợ chồng không hạnh phúc. Hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ,
động viên nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Từ ngày chị Th về
nhà bố mẹ đẻ sinh sống, anh Th cũng đi làm ăn xa. Vchồng ông không địa
chỉ của anh Th đâu. Vợ chồng ông có hỏi nhưng anh Th không nói địa chỉ
đâu không cho vợ chồng ông biết anh đâu. Anh Th vẫn đăng hộ khẩu
thường trú tại nhà ông vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng ông hàng
ngày. Nay, chị Th đề nghị ly hôn anh Th, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp
luật để anh chị sớm ổn định cuộc sống. Đề nghị Tòa án giao cả hai con chung
cho chị Th nuôi dưỡng theo nguyện vọng của chị Th, việc chị Th tự nguyện
không yêu cầu anh Th cấp dưỡng tiền nuôi con chung thì gia đình ông cũng nhất
trí. Ông mong muốn thỉnh thoảng chị Th cho các con về với bố và ông bà. Về tài
sản chung, tài sản riêng, về các khoản nợ chung, cho vay chung, nợ riêng, cho
vay riêng, công sức đóng góp với vợ chồng ông thì anh Th, chị Th không có.
3
Tại đơn của Nguyễn Thị Ng mđẻ của chị Đoàn Thị Th trình bày:
Trong suốt thời gian chị Th sống chung với anh Th, chị Th thường xuyên gặp
phải những khó khăn, áp lực, tổn thương cả vtinh thần lẫn thể chất. Anh Th
thường xuyên đánh đập, xúc phạm, bỏ bê, không quan tâm con cái, không đưa
tiền sinh hoạt khiến chị Th sống trong lo sợ, trầm cảm, mất phương hướng. Cuộc
sống hôn nhân không hạnh phúc, chị Th nhiều lần muốn ly hôn đnuôi dạy các
con trong môi trường bình an, lành mạnh. Gia đình nhiều lần khuyên giải, hòa
giải cho anh chị nhưng không thành.
Về quan hệ con chung: Chị Th gia đình hai bên trình bày, vợ chồng
anh chị hai con chung Nguyễn Ch, sinh ngày: 27/9/2018 Nguyễn
Gia H, sinh ngày: 19/01/2021. Hiện, chị Th đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
hai con chung. Chị đề nghị Tòa án giao cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng hai
con chung. Chị tự nguyện không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay,
chị chỗ ổn định tại nhà của bố mẹ đẻ chị chị đi làm công nhân may tại
công ty giày da Chungjye, thu nhập trung bình của chị được khoảng 6 -7 triệu
đồng/tháng nên đủ điều kiện nuôi dưỡng các con tốt.
Về tài sản chung, tài sản riêng, về các khoản nợ chung, cho vay chung, nợ
riêng, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên, anh chị không có,
chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân TrT thể hiện: Chị Th
anh Th được tự do tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng kết hôn tại UBND xã
NhT, huyện GiL, tỉnh Hải Dương (nay UBND TrT, thành phố Hải Phòng)
vào ngày 11/4/2018. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 3
năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp, bất
đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế, không tiếng nói chung, không s
thông cảm, chia sẻ với nhau và mỗi người một nơi. Chị Th về nhà mẹ đẻ tại
Ninh Bình. Vợ chồng không n quan tâm đến nhau. Nay, cuộc sống chung của
anh chị không hạnh phúc, chị Th xin ly hôn với anh Th, đnghị Tòa án giải
quyết theo pháp luật.
Chị Đoàn Thị Th đơn xin vắng mặt tại phiên tòa anh Nguyễn Việt
Th vắng mặt tại phiên tòa. Chị Th vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh
Nguyễn Việt Thgiải quyết về con chung của anh chị. Ngoài ra, chị Th không
có yêu cầu gì khác.
Kiểm t viên tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của những
người tham gia tố tng trong quá trình giải quyết ván, ktừ khi thụ cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phát biểu ý kiến về việc giải quyết
vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82;
Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1; khoản 2 Điều 227;
khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật T
4
tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản và sử dụng án phí lệ phí
Tòa án: Về quan hệ vợ chồng: xcho chị Đoàn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn
Việt Th; về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Hà Ch, sinh ngày:
27/9/2018 Nguyễn Gia H, sinh ngày: 19/01/2021 cho chị Đoàn Thị Th tiếp
tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thời gian kể từ tháng 8/2025 đến
khi các con chung đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đoàn Thị Th về
việc chị Th không yêu cầu anh Nguyễn Việt Th cấp dưỡng nuôi con. Anh
Nguyễn Việt Th quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
Về án phí: chị Đoàn Thị Th phải chịu án phí thẩm Hôn nhân gia đình theo
quy định của pháp luật 300.000 đồng được đối trừ vào số tiền tạm ng án phí
chị đã nộp là 300.000 đồng. Chị Th đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên toà, trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến
của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử n
định thời gian mở phiên tòa vào ngày 16/8/2025; tại phiên tòa, anh Th vắng mặt,
Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào
ngày hôm nay 31/8/2025. Tại phiên tòa hôm nay, chị Th đơn xin xét xử vắng
mặt, anh Th vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị Th anh Th
theo quy định tại Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Đoàn Thị Th anh Nguyễn Việt Th được tự
do tìm hiểu đăng kết hôn tại UBND NhT, huyện GiL, tỉnh Hải Dương
(nay UBND TrT, thành phố Hải Phòng) vào ngày 11/4/2018 hôn nhân
hợp pháp. Cuộc sống chung của anh, chị hạnh phúc khoảng 03 năm thì phát sinh
mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, vợ chồng
không tiếng nói chung, không tập trung kinh tế, không cùng quan điểm
sống và không thống nhất với nhau trong mọi việc. Vợ chồng thiếu sự quan tâm,
chia sẻ đối với nhau nên cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc. Hai
người đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2022 đến nay. Gia đình hai bên đã hòa giải
cho anh chị nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Hiện nay, mỗi
người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Tòa án đã triệu tập anh Th
nhiều lần qua bố đẻ anh, anh Th đã biết việc Tòa án triệu tập nhưng không đến
Tòa án làm việc, điều đó thể hiện anh không thiện chí mong muốn vợ chồng
đoàn tụ. Hội đồng xét xxét thấy: mâu thuẫn của chị Th anh Th đã đến mức
5
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt
được, việc chị Th xin ly hôn anh Th phù hợp với quy định tại Điều 51; Điều
56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về quan hệ con chung: chị Th và anh Th hai con chung Nguyễn
Ch, sinh ngày: 27/9/2018 Nguyễn Gia H, sinh ngày: 19/01/2021, hiện đang
với chị Th. Sau ly hôn, chị nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng hai con
chung. Hiện tại, chị đi làm công nhân may tại công ty giày da Chungjye, thu
nhập trung bình của chị được 6 - 7 triệu đồng/tháng; bố mẹ đẻ chị sẽ tạo điều
kiện cho mẹ con chị về chỗ nên chị đủ điều kiện nuôi dưỡng con tốt. Mặt
khác, gia đình anh Th đề nghị Tòa án giao con chung cho chị Th nuôi dưỡng.
Anh Th lại đi làm xa, thỉnh thoảng mới về nhà, chị Th công việc tốt, thu nhập
ổn định, chỗ thuận lợi, lại được sự giúp đỡ của bố mẹ đẻ trong việc nuôi
dưỡng con nên chị Th nguyện vọng được nuôi dưỡng con tự nguyện
không yêu cầu anh Th cấp dưỡng cho con là chính đáng, đảm bảo quyền lợi của
con, phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận. Anh Th quyền, nghĩa vụ
thăm nom con không ai được cản trở phù hợp với quy định tại Điều 81;
Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung, tài sản riêng, về các khoản nợ chung, cho vay chung, nợ
riêng, cho vay riêng, công sức đóng góp với gia đình hai bên: anh chị không có,
chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Đoàn Thị Th xin ly hôn anh Nguyễn Việt Th nên phải chu
án p sơ thẩm ly n theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014; khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228;
điểm a, b khoản 1 Điều 238; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật
phí lệ phí số: 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản sử dng án phí lệ phí Tòa
án.
- Về quan hvợ chồng: xử cho chị Đoàn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn
Việt Th.
- Về quan hệ con chung: Giao hai con chung Nguyễn Ch, sinh ngày:
27/9/2018 Nguyễn Gia H, sinh ngày: 19/01/2021 cho chị Đoàn Thị Th tiếp
tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, thời gian kể từ tháng 8/2025 đến
khi các con chung đủ 18 tuổi.
Chấp nhận sự tnguyện của chĐoàn Thị Th về việc chị Th không yêu
cầu anh Nguyễn Việt Th cấp dưỡng nuôi con.
6
Anh Nguyễn Việt Th quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được
cản trở.
- Về án phí: Chị Đoàn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án
phí sơ thẩm Hôn nhân và gia đình nhưng được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí
chị Th đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24 số: 0000726 ngày 23/5/2025 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện GiL (nay Phòng Thi hành án khu vực 11 - Hải
Phòng). Chị Đoàn Thị Th đã thực hiện xong nghĩa vụ án phí sơ thẩm ly hôn.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đoàn Thị Th và anh Nguyễn Việt .
Chị Th, anh Th quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày
nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
- VKSND khu vực 11 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 11 - Hải
Phòng;
- Cục THADS thành phố Hải Phòng;
- Các đương sự;
- UBND xã TrT, thành phố Hải Phòng
để lưu hộ tịch (Kết hôn ngày
11/4/2018 tại UBND xã NhT);
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Thúy Hạnh
Tải về
Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST Bản án số 18/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất