Bản án số 168/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 168/2023/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 168/2023/DS-PT ngày 12/05/2023 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Dương
Số hiệu: 168/2023/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2023
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm về tuyên lãi suất chậm thi hành án
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 168/2023/DS-PT
Ngày 12-5-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- 

Bà Trần Thị Thanh Trúc
Ông Nguyễn Trung Dũng;
Ông Nguyễn Văn Tài.
- Thư phiên tòa: Trần Hoài Thu Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên
tòa: Ông Lê Ngọc Ấn Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 107/2023/TLPT-DS ngày 03
tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 163/2023/QĐPT-DS
ngày 14 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:
- : Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ: tổ C, ấp V,
V, huyện P, tỉnh Bình Dương, có đơn xin vắng mặt.
- :
1. Ông Trần Đông S, sinh năm 1967;
2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970,
Cùng địa chỉ: ấp L, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương.
: Ông Nguyễn Thành N,
sinh năm 1974; địa chỉ: số C khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình
Dương, người đại diện theo ủy quyền (Giấy y quyền ngày 13 tháng 3 năm
2023), có mặt.
2
: Ông
Trương Nhật Q, Luật của Văn phòng Luật A, thuộc Đoàn Luật tỉnh
B, có mặt.
-  Bị đơn ông Trần Đông S và bà Nguyễn Thị T .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
 trình bày:
Ngày 01/01/2021, vợ chồng ông Trần Đông S Nguyễn Thị T vay
của Nguyễn Thị H số tiền 200.000.000 đồng, thời hạn trả nợ ngày
01/3/2021, lãi suất hai bên tự thỏa thuận; ông Trần Đông S viết “Biên nhận
mượn tiền” và ký tên, lăn tay (điểm chỉ) vào giấy biên nhận mượn tiền.
Ngày 19/5/2021, ông Trần Đông S Nguyễn Thị T vay của
Nguyễn Thị H số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn trả nợ là ngày 30/6/2021, lãi
suất hai bên tự thỏa thuận; ông Trần Đông S viết Biên nhận mượn tiền”
ký tên, lăn tay (điểm chỉ) vào giấy biên nhận mượn tiền.
Tuy nhiên, đã quá thời hạn trả nợ, H yêu cầu trả nợ nhưng ông S, T
không trả nợ như cam kết.
Ngày 14/3/2022, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu ông Trần Đông S
Nguyễn Thị T phải trả tổng số tiền nợ 1.200.000.000 đồng lãi suất theo
quy định của pháp luật.
Ngày 15/12/2022, Nguyễn Thị H rút một phần yêu cầu khởi kiện,
không yêu cầu ông Trần Đông S Nguyễn Thị T phải trả số tiền nợ gốc
200.000.000 đồng theo “Biên nhận mượn tiền” ngày 01/01/2021.
Tại phiên tòa, Nguyễn Thị H yêu cầu ông Trần Đông S Nguyễn
Thị T phải liên đới trả cho bà H số tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng tiền lãi
với lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 01/7/2021 đến ngày 09/02/2023 với số tiền
159.913.333 đồng. Tổng cộng là 1.159.913.333 đồng.
 trình bày:
Ông Trần Đông S vay tiền của Nguyễn Thị H nhiều lần để kinh
doanh, cụ thể như sau:
Lần 01: ngày 08/6/2020 vay của bà H 200.000.000 đồng;
Lần 02: ngày 16/6/2020 vay của bà H 300.000.000 đồng;
Lần 03: ngày 22/6/2020 vay của bà H 200.000.000 đồng;
Lần 04: ngày 10/8/2020 vay của bà H 100.000.000 đồng;
Lần 05: ngày 01/01/2021 vay của bà H 200.000.000 đồng.
Tổng số tiền ông S đã vay của H 1.000.000.000 đồng. Lãi suất thỏa
thuận là 7%/tháng.
3
Ngày 19/5/2021, Nguyễn Thị H đến nhà ông S yêu cầu vợ chồng ông
Trần Đông S chốt nợ và trả tiền. Vì không muốn cãi nhau, ảnh hưởng đến uy tín
gia đình nên ông Trần Đông S viết “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021 với
số tiền nợ 1.000.000.000 đồng, thời gian trả nợ kể từ ngày 19/5/2021 đến
ngày 30/6/2021. Ông Trần Đông S vợ Nguyễn Thị T tên lăn tay
(điểm chỉ) vào Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021 nêu trên. Tuy nhiên, đây
tiền nợ nhân ông Trần Đông S vay của Nguyễn Thị H đlàm ăn. Việc
vay tiền, nhận tiền vợ ông Trần Đông S không biết gì. Đối với số tiền
200.000.000 đồng theo Biên nhận mượn tiền” ngày 01/01/2021 t đã được
cộng vào số tiền 1.000.000.000 đồng của “Biên nhận mượn tiền” ngày
19/5/2021. Ông Trần Đông S khẳng định hiện nay chỉ nợ nguyên đơn
1.000.000.000 đồng. Với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Trần Đông S
đồng ý trả cho nguyên đơn số tiền 1.000.000.000 đồng.
Quá trình làm việc ông Trần Đông S xác định chữ ký và dấu lăn tay (điểm
chỉ) trên “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021 của ông Trần Đông S. Ông
Trần Đông S không yêu cầu giám định chữ và dấu lăn tay (điểm chỉ) trên
“Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021.
  trình bày:
Nguyễn Thị T ông Trần Đông S vợ chồng, đăng kết hôn.
Nguyễn Thị T có ký tên, lăn tay (điểm chỉ) vào “Biên nhận mượn tiền” ngày
19/5/2021. Lý do là vì ngày 19/5/2021 bà Nguyễn Thị H đến nhà cãi nhau
qua lại với ông Trần Đông S về việc trả nợ. Vì không muốn cãi nhau, ảnh hưởng
đến uy tín gia đình và nghe lời ông Trần Đông S nên bà Nguyễn Thị T k, lăn tay
(điểm chỉ) vào “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021 để làm tin tạo điều
kiện cho công việc vay mượn, làm ăn của ông Trần Đông S. Đây việc vay
mượn riêng giữa ông Trần Đông S Nguyễn Thị H. Khi vay mượn, ông
Trần Đông S không hề đem tiền về để làm ăn, kinh doanh, sinh hoạt chung trong
gia đình. Vì vậy, với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị T không
đồng ý.
Nguyễn Thị T xác định chữ dấu lăn tay trên “Biên nhận ợn
tiền” ngày 19/5/2021 là của bà Nguyễn Thị T . Nguyễn Thị T không yêu cầu
giám định chữ ký và dấu lăn tay trên “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021.
-

1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H về việc yêu
cầu ông Trần Đông S Nguyễn Thị T phải trả số tiền 200.000.000 đồng
theo “Biên nhận mượn tiền” ngày 01/01/2021.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H đối với
bị đơn ông Trần Đông S Nguyễn Thị T về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.
3. Buộc bị đơn ông Trần Đông SNguyễn Thị T phải liên đới trả cho
nguyên đơn Nguyễn Thị H số tiền 1.159.913.333 đồng (một tỷ một trăm năm
4
mươi chín triệu chín trăm mười ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) (trong đó,
tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), tiền lãi 159.913.333 đồng
(một trăm năm mươi chín triệu chín trăm mười ba ngàn ba trăm ba mươi ba
đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền
kháng cáo.
Sau khi bản án sơ thẩm, ngày 22/02/2023 bị đơn ông Trần Đông S,
Nguyễn Thị T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn ông Trần Đông S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo giao nộp
chứng cứ mới gồm: Giấy vay tiền ngày 10/11/2019 thông tin bên vay
Nguyễn Thị Thu T1, ông Bùi Sỹ H1; Giấy thỏa thuận ngày 02/3/2022 giữa ông
Trần Đông S Nguyễn Thị V; Giấy ợn tiền (chuyển sang giấy mới)
chữ ký của bà Nguyễn Thị V, ông Trần Đông S.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị T vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo của bà T.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
 trình
: căn cứ Biên bản lấy lời khai của Nguyễn Thị H (bút lục 23),
H xác định cho ông S vay nhiều lần với số tiền 1.000.000.000 đồng H
giao tiền cho ông S. Các biên nhận mượn tiền ngày 08/6/2020, ngày 16/6/2020,
ngày 22/6/2020, ngày 10/8/2021 và ngày 01/01/2021 thể hiện cá nhân ông S vay
tiền của H. Ngày 19/5/2021 không phải ngày xác lập hợp đồng vay, H
không thực hiện nghĩa vụ giao tiền vay cho bà T. Biên nhận mượn tiền ngày
19/5/2021 nội dung ông S mượn của bà H 01 tỷ đồng, trong thời gian kể
từ ngày 19/5/2021 đến ngày 30/6/2021”, trong hồ vụ án không có tài liệu nào
cho thấy H giao tiền cho ông S hoặc bà T. Như vậy, Biên nhận mượn tiền
ngày 19/5/2021 không giá trị pháp để bà H yêu cầu T trả tiền. Theo
khoản 3 Điều 45 khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình thì ông S t
mình xác lập, thực hiện giao dịch vay mượn tiền với bà H, ông S không sử dụng
số tiền vay mượn để phục vụ cho nhu cầu gia đình mà ông S sử dụng số tiền vay
mượn để làm ăn kinh doanh riêng, ông Sơ k1 nhận vay giùm cho bà Nguyễn Thị
V và Nguyễn Thị Thu T1. Do đó, nghĩa vtrả ncủa riêng ông S, bà T
không trách nhiệm liên đới đối với khoản nnày. Đề nghị Hội đồng xét xử
sửa bản án thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của H, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện buộc T phải trách nhiệm liên đới trả số tiền ông S
đã vay của bà H.

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia ttụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021 chữ ký, lăn tay
5
của ông Trần Đông S Nguyễn Thị T, thể hiện bị đơn vay s tiền
1.000.000.000 đồng của nguyên đơn. Bị đơn thừa nhận chữ ký, dấu vân tay, do
đó nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 1.000.000.000 đồng là có căn
cứ. Đối với T, khi ký tên, lăn tay vào “Biên nhận mượn tiền” ngày 19/5/2021
thì T vợ chồng hợp pháp của ông S, T đầy đủ năng lực hành vi dân
sự, việc ký vào giấy nợ là tự nguyện, không có chứng cứ chứng minh bị ép buộc
nên T đã mặc nhiên đồng ý với việc vay tiền phải chịu nghĩa vụ liên đới
trả nợ cùng với ông S. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về buộc bị đơn trả lãi
theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 01/7/2021 đến ngày 09/02/2023 phù
hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự nên có căn cứ chấp nhận.
Nhận thấy, Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
buộc bị đơn trả nợ gốc, lãi là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; bị đơn Trần
Đông S, Nguyễn Thị T không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu
kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đông S, Nguyễn Thị T, giữ nguyên Bản
án sơ thẩm số 03/2023/DS-ST ngày 09/02/2023 của Toà án nhân dân huyện Phú
Giáo, tỉnh Bình Dương.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, Luật sư, Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn Nguyễn Thị H xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về
việc yêu cầu ông Trần Đông S Nguyễn Thị T phải trả số tiền 200.000.000
đồng theo “Biên nhận mượn tiền” ngày 01/01/2021. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ
xét xử đối với yêu cầu khởi kiện này là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của các bị đơn:
[2.1] Ông Trần Đông S cho rằng vay tiền của Nguyễn Thị H để kinh
doanh (cho người khác vay lại là Nguyễn Thị V, Nguyễn Thị Thu T1),
T không biết, chỉ nhân ông S vay, không liên quan đến T. Ông S xác
định trả tiền cho H số tiền vay còn nợ 1.000.000.000 đồng, không liên
quan đến T. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S giao nộp chứng cứ mới gồm: 01
Giấy vay tiền ngày 10/11/2019; 01 Giấy thỏa thuận ngày 02/3/2022; 01 Giấy
mượn tiền (chuyển sang giấy mới). Tuy nhiên, theo nội dung Giấy vay tiền ngày
10/11/2019 thông tin bên vay Nguyễn Thị Thu T1, ông Bùi Sỹ H1 vay
của ông Trần Đông S số tiền 320.000.000 đồng, kể từ ngày 10/11/2019 đến ngày
10/02/2020. Như vậy, giấy vay tiền này trước thời điểm lần đầu tiên ông S
vay tiền của H (ngày 08/6/2020). Đối với Giấy thỏa thuận ngày 02/3/2022 ký
giữa ông Trần Đông S Nguyễn Thị V Giấy mượn tiền (chuyển sang
giấy mới) có chữ ký của bà Nguyễn Thị V, ông Trần Đông S không thể hiện thời
điểm vay mượn, ông S khai mâu thuẫn về số tiền vay (517.000.000 đồng). Do
6
đó, không căn cứ để chứng minh ông S vay tiền của H để sử dụng việc
kinh doanh riêng.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyễn
Thị H và ông Trần Đông S thừa nhận số tiền vay 1.000.000.000 đồng theo Biên
nhận mượn tiền ngày 19/5/2021 nêu trên tổng số tiền vay được cộng dồn của
05 lần vay theo các Biên nhận mượn tiền (bút lục 36 - 40): ngày 08/6/2020 số
tiền vay 200.000.000 đồng; ngày 16/6/2020 số tiền vay 300.000.000 đồng; ngày
21/6/2020 số tiền vay 200.000.000 đồng; ngày 10/8/2020 số tiền vay
100.000.000 đồng và ngày 01/01/2021 số tiền vay là 200.000.000 đồng. Bà H và
ông S thống nhất các khoản vay trên đều có thời hạn và có lãi là 7%/tháng. Ngày
19/5/2021, các bên không phải xác lập hợp đồng vay mới mà chỉ xác nhận lại số
nợ vay còn nợ thời hạn trả nợ vay. Nội dung các biên nhận mượn tiền nêu
trên đều không thể hiện mục đích ông S vay tiền. Tuy nhiên, tại “Biên nhận
mượn tiền” ngày 19/5/2021 (bút lục 04) phần cuối chữ ký, ghi họ tên, dấu
lăn tay của bên cho mượn tiền (Nguyễn Thị H) và bên mượn tiền (Trần Đông S,
Nguyễn Thị T). T ông S vợ chồng, thời điểm bà T ký tên, lăn tay vào
Biên nhận mượn tiền ngày 19/5/2021 không bị ép buộc, T tạo điều kiện
cho việc vay mượn, làm ăn của ông S nhưng không căn cứ chứng minh T
bị ép buộc hay bị lừa dối xác nhận nợ. Như vậy, Biên nhận mượn tiền ngày
19/5/2021 chỉ mang tính chất xác nhận nợ vay của bên vay với bên cho vay.
T đồng ý xác nhận nợ chứng minh T biết việc vay tiền của ông S đồng ý
với số nợ này. Do đó, Tòa án cấp thẩm buộc ông Trần Đông S Nguyễn
Thị T trả tiền vay cho Nguyễn Thị H phù hợp với quy định Điều 37 của
Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
[2.3] Trong vụ án này, bà Nguyễn Thị H ông Trần Đông S thống nhất
thỏa thuận lãi 7%/tháng, tại phiên tòa thẩm H chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi
theo mức lãi suất 0,83%/tháng là phù hợp quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
Mặt khác, tại điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết s01/2019/NQ-
HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn một số quy định của pháp luật về i, lãi suất, phạt vi phạm quy định:






. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tại phần quyết
định về lãi suất “kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật…” chưa đúng quy
định nêu trên. Cho nên, cần sửa một phần bản án về cách tuyên phần quyết định
về lãi suất cho phù hợp với quy đnh, cụ thể: “Kể từ ngày 10/02/2023, ông Trần
7
Đông S và bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự”.
[3] Từ những phân tích nêu trên, nhận thấy kháng cáo của bị đơn ông Trần
Đông S Nguyễn Thị T không sở chấp nhận. Ý kiến của đại diện
Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lphí
Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 244, khoản 2
Điều 308, Điều 309, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Đông S và bà Nguyễn
Thị T .
2. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 03/2022/DS-ST ngày 09 tháng
02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
2.1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị H về việc
yêu cầu ông Trần Đông S và bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền 200.000.000 đồng
theo “Biên nhận mượn tiền” ngày 01/01/2021.
2.2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H đối
với bị đơn ông Trần Đông S Nguyễn Thị T về Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”.
2.3. Buộc bị đơn ông Trần Đông S Nguyễn Thị T phải liên đới trả
cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị H số tiền 1.159.913.333 đồng (một tỷ, một trăm
năm mươi chín triệu, chín trăm ời ba nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng) (trong
đó, tiền nợ gốc 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), tiền lãi 159.913.333
đồng (một trăm năm ơi chín triệu, chín trăm mười ba nghìn, ba trăm ba mươi
ba đồng).
Kể tngày 10/02/2023, ông Trần Đông S Nguyễn Thị T còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8
2.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trả lại cho nguyên đơn Nguyễn Thị H số tiền 24.000.000 đồng (hai
mươi bốn triệu đồng) đã nộp tạm ứng án pdân sự thẩm theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 008187 ngày 06/4/2022 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Trần Đông S Nguyễn Thị T phải liên đới nộp số tiền
46.797.400 đồng (bốn mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn bốn trăm
đồng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Đông S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân
sự phúc thẩm, được trừ hết vào tiền tạmng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004997 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân
sự phúc thẩm, được trừ hết vào tiền tạmng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004996 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
- TAND huyện Phú Giáo;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP, HSVA, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Thanh Trúc
9
Tải về
Bản án số 168/2023/DS-PT Bản án số 168/2023/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất