Bản án số 1645/2025/DS-PT ngày 22/12/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 1645/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 1645/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 1645/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 1645/2025/DS-PT ngày 22/12/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hồ Chí Minh |
| Số hiệu: | 1645/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/12/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1645/2025/DS-PT
Ngày 22-12-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Đi din Vin Kim st nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Nữ – Kim sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1264/2025/TLPT-DS ngày
14/11/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 6906/2025/QĐ-PT ngày
19/11/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 22265/2025/QĐ-PT ngày
04/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Yến T, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ A, khu phố G,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: tổ A, khu phố U,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Ông Lê Thành D, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: tổ B, khu phố U,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ liên hệ: số 1053-1054, tờ bản đồ số 47, tổ A, khu phố C,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/4/2025).
2
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: số B, đường H, khu
phố Đ, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Thị Kim H1, sinh năm 1974;
địa chỉ: số E, đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo
ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 16/7/2025).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Huỳnh Yến T, bị đơn ông Huỳnh Văn
T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm:
Đơn khởi kiện ngày 15/4/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên
đơn bà Huỳnh Thị T2 và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông ông
Thái Thanh H và ông Lê Thành D trình bày:
Bà Huỳnh Yến T và ông Huỳnh Văn T1 có quen biết với nhau nên khi ông
T1 cần tiền làm ăn đã hỏi vay tiền của bà T và bà T đã đồng ý. Ông T1 vay của
bà T tổng số tiền 900.000.000 đồng bằng tiền mặt và nhận chuyn khoản qua tài
khoản ngân hàng. Cụ th:
Lần thứ nhất, vào cuối tháng 11/2024, bà T có cho ông T1 vay tổng cộng
300.000.000 đồng, trong đó có 120.000.000 đồng là tiền mặt và 180.000.000 đồng
còn lại là tiền mua nguyên vật liệu, đồ đạc trang trí Quán nhậu Lão T3.
Lần thứ hai, vào ngày 10/01/2025, bà T có cho ông T1 vay số tiền
500.000.000 đồng. Sau đó, bà T đã chuyn khoản số tiền 500.000.000 đồng bằng
số tài khoản 6501752621, tên chủ tài khoản Huỳnh Yến T mở tại Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Đ đến số tài khoản 0461002862879, tên chủ tài khoản
Huỳnh Văn T1 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
Lần thứ ba, cùng ngày 10/01/2025, bà T tiếp tục cho ông T1 vay số tiền
100.000.000 đồng. Sau đó, bà T đã chuyn khoản số tiền 100.000.000 đồng bằng
số tài khoản 6501752621 tên chủ tài khoản Huỳnh Yến T mở tại Ngân hàng TMCP
Đ đến số tài khoản 0461002862879, tên chủ tài khoản Huỳnh Văn T1 mở tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần N.
Tổng số tiền ông T1 đã vay của bà T là 900.000.000 đồng. Bà T đã nhiều
lần liên hệ yêu cầu ông T1 phải trả lại cho bà T số tiền nêu trên nhưng ông T1 cứ
hẹn lần này đến lần khác, cố tình trốn tránh bà T. Nên ngày 24/3/2025, bà T đã
làm thông báo yêu cầu trả nợ gửi đến ông Huỳnh Văn T1 yêu cầu ông T1 phải trả
lại cho bà T số tiền đã vay 900.000.000 đồng. Ông T1 đã nhận được thông báo
nhưng vẫn không trả lại cho bà T số tiền nêu trên. Nhận thấy, việc ông Huỳnh
Văn T1 không trả lại cho bà T số tiền 900.000.000 đồng đã vay là hành vi trái
pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Vì vậy, bà T yêu
cầu Tòa án giải quyết:
1. Yêu cầu Toà án buộc ông Huỳnh Văn T1 phải trả cho bà T số tiền đã vay
là 900.000.000 đồng. Bà T không yêu cầu ông T1 trả tiền lãi.
3
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Huỳnh Văn T1 là bà Trần Thị Kim
H1 trình bày:
1. Đối với yêu cầu khởi kiện là khoản tiền 300.000.000 đồng, bị đơn đề
nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu này của nguyên đơn vì:
Thứ nhất, quan hệ giữa ông T1 với bà T là quan hệ hợp tác làm ăn, không
phải quan hệ vay mượn: Theo Bản ý kiến của ông T1 ký ngày 18/7/2025 đã nộp
cho Tòa án thì vào năm 2024, dựa trên mối quan hệ quen biết, thấy ông T1 muốn
mở quán ăn “Má heo Lão Trư" tại địa chỉ số D, khu phố T, phường Đ, thành phố
D, tỉnh Bình Dương nên bà T đã tự nguyện muốn góp vốn, đ cùng đầu tư hợp tác
làm ăn chung với ông T1. Do công việc ông T1 quá bận rộn nên bà T muốn đứng
ra tự mình đi mua các dụng cụ trang thiết bị cho quán ăn. Theo thỏa thuận số tiền
này bà T tự bỏ ra là đ sử dụng vào việc đầu tư, mua sắm trang thiết bị, nguyên
vật liệu,... chi phí ban đầu đ kinh doanh. Đây được xem như là khoản tiền góp
vốn đ làm ăn chung, dự định nếu quán kinh doanh có lãi thì sẽ xem xét phân chia
lợi nhuận nếu lỗ thì phải cùng chịu chung. Thực tế đây không phải là ông T1 vay
mượn bà T nên ông T1 với bà T không hề có giấy vay tiền nào hay ông T1 cũng
không ký nhận bất cứ đồng nào từ khoản tiền 300 triệu đồng này. Tất cả các lần
chi trả bà T đều chuyn khoản hoặc trả trực tiếp cho các cá nhân khác, không phải
cho tên cá nhân ông T1. Cũng không có văn bản hay thỏa thuận ba bên về việc
ông T1 nhờ bà T mua đồ và trả tiền thay cho ông T1. Mặc dù, bị đơn đã nộp đơn
yêu cầu Tòa án buộc nguyên đơn cung cấp các thông tin cá nhân của những người
liên quan đã nhận tiền của bà T ra lấy lời khai với tư cách người làm chứng hoặc
làm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn đã không thực
hiện, không cung cấp được thêm chứng cứ nào xác đáng nên không có cơ sở đ
xác định được số tiền 300.000.000 đồng này do ai nhận, nhận với mục đích gì, có
tính liên quan như thế nào với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Hành vi bỏ tiền
đ mua sắm, tham gia điều hành, quyết định chỉ tiêu... là hành vi góp vốn và tham
gia quản trị, đin hình của hợp đồng hợp tác, các bên cùng đóng góp tài sản/công
sức đ thực hiện hoạt động sinh lợi, cùng hưởng lợi, cùng chia rủi ro. Trong quan
hệ góp vốn, không có quyền đơn phương “đòi lại vốn” như quan hệ vay, trừ khi
chấm dứt, giải th và quyết toán.
Thứ hai, không hội đủ điều kiện hình thành quan hệ vay mượn tài sản: Căn
cứ Điều 463 của Bộ luật Dân sự: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận theo đó
bên cho vay giao tài sản cho bên vay, đến hạn bên vay phải hoàn trả. Thực tế,
không hề có việc “giao” tiền cho ông T1. Chính bà T tự chuyn khoản chi trả trực
tiếp cho nhà cung cấp, tự mua sắm trang thiết bị, nguyên vật liệu cho quán. Không
có giấy vay, không có biên nhận hay ký nhận nào từ ông T1. Thiếu yếu tố giao
nhận nên không hình thành hợp đồng vay hay quan hệ vay mượn tiền nào giữa bà
T với ông T1.
Thứ ba, nguyên đơn không hoàn thành nghĩa vụ chứng minh số tiền đã
chuyn: Căn cứ khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự: bên yêu cầu có nghĩa
vụ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và Điều 95 của Bộ luật Tố tụng dân
sự: Chứng cứ phải được đánh giá toàn diện, khách quan, chứng cứ mâu thuẫn,
4
thiếu nguồn gốc rõ ràng thì không đủ giá trị thuyết phục. Đối chiếu với thực tế
cho thấy: hồ sơ do chính nguyên đơn xuất trình tự mâu thuẫn và không khớp với
số liệu mà nguyên đơn đòi, cụ th: Theo hồ sơ bà T cung cấp, tổng số tiền bà T
đã chuyn khoản thanh toán cho các hóa đơn là chỉ khoảng 86.000.000 đồng.
Trong khi đó, bà T nói đã chuyn khoản 120.000.000 đồng là không đúng, không
có chứng cứ và không khớp với số liệu trong vi bằng mà bà T đã nộp cho Tòa án.
Thêm nữa, 180.000.000 đồng còn lại bà T nói là trả trực tiếp bằng tiền mặt thì ông
T1 cũng không biết chính xác bà T đã trả cho những ai? Không có biên nhận tiền
của từng người, cũng không có bảng tổng hợp thống kê. Ngoài ra, có phải tất cả
là đ mua trang thiết bị dụng cụ, nguyên vật liệu hay không, số lượng có đủ hay
không. Thực tế khi khi giao nhận các đồ dùng này cũng không có biên bản giao
nhận hay xác nhận rõ ràng nên ông T1 cũng không biết thiếu đủ như thế nào.
Thứ tư, về “chứng cứ vi bằng": Bà T chỉ lập vi bằng và cung cấp những tin
nhắn có lợi cho mình còn lại thì cắt xén, giấu nhẹm những thông tin mà hai bên
trao đổi qua điện thoại gây bất lợi cho bà T nên những thông tin trong Vi bằng
chưa phải là đầy đủ sự thật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử, cân nhắc đánh giá
và xác minh thu thập các chứng cứ khác một cách đầy đủ hơn đ đảm bảo việc
xét xử được công bằng, khách quan và đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội
đồng xét xử đánh giá chứng cứ theo quy định pháp luật: Vi bằng của Thừa phát
lại chỉ là nguồn chứng cứ tham khảo không th thay thế hợp đồng/biên nhận và
không xác định tính đúng, đủ của nội dung giao dịch. Nếu vi bằng cắt xén, chọn
lọc, Hội đồng xét xử cần đối chiếu với chứng từ gốc (sao kê ngân hàng, hóa đơn
nhà cung cấp) theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những căn cứ trên có th xác định: đây là quan hệ hợp tác làm ăn và bà
T không có chứng cứ đ chứng minh việc đã chuyn giao số tiền này cho ông T1
là quan hệ vay mượn, việc giao nhận số tiền này cũng không có đầy đủ chứng từ
cho nên việc bà T cho rằng ông T1 phải trả số tiền 300.000.000 đồng của bà T
vào cuối tháng 11/2024 là không có cơ sở, không chính xác và không đúng với hồ
sơ của vụ án nên đề nghị không chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn đối với
khoản này.
2. Đối với yêu cầu khởi kiện là khoản tiền 600.000.000 đồng, bị đơn đề nghị
Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu này của nguyên đơn vì:
Thứ nhất, ban đầu việc bà T chuyn tiền là mục đích mua xe ô tô đ đứng
tên bà T đứng tên sở hữu chứ không phải đ cho ông T1 vay. Theo bản ý kiến của
ông T1 ký ngày 18/7/2025 đã nộp cho Tòa án, ông T1 có xác nhận đây là khoản
tiền mà bà T chuyn vào tài khoản cá nhân ông T1. Tuy nhiên, hai bên chỉ thỏa
thuận miệng, không lập thành văn bản, không phải là khoản tiền vay mượn có lãi
suất và cũng không ấn định kỳ hạn khi nào phải hoàn trả. Mặt khác, cần nói rõ
rằng đây là khoản tiền ban đầu cả hai muốn đầu tư vào nâng cấp hoạt động kinh
doanh của quán. Sau đó, thấy ông T1 muốn đổi xe mua xe ô tô Honda HR-V đ
phục vụ công việc đi lại làm ăn tại quán thì bà T muốn góp thêm vào đ mua
chung. Tuy nhiên, bà T nói phải đ cho bà T tự đứng tên trên giấy tờ xe này nên
ông T1 không đồng ý vì xe đó trị giá hơn 1.000.000.000 đồng, trong đó cũng có
5
tiền của cá nhân ông T1. Vì vậy, hai bên xích mích nên ông T1 không đồng ý tiếp
tục mua. Mặc dù ông T1 đã tự bỏ tiền túi ra đóng tiền cọc cho bên công ty bán xe
là 40.000.000 đồng và nay đã bị mất cọc do hủy hợp đồng.
Thứ hai, hoàn cảnh thực tế cần được Hội đồng xét xử xem xét đây là khoản
tiền dự kiến mua xe phục vụ hoạt động kinh doanh chung, việc mua xe không
thực hiện được do nguyên đơn yêu cầu đứng tên một mình, không phù hợp với
tinh thần hợp tác. Quán ăn mới vận hành, doanh thu khó khăn; buộc phải trả lại
cho bà T ngay số tiền này sẽ đẩy bên vay vào tình trạng bất khả thi, trái với tinh
thần thiện chí, trung thực theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Bộ luật Dân sự.
Cũng theo lời trình bày của ông T1 tại bản ý kiến ngày 18/7/2025: sau khi phát
hiện ra bà T lợi dụng sự tin tưởng của ông T1 và đã có hành vi gian dối, khai tăng
giá các nguyên liệu khi mua đầu vào một cách quá đáng, gây thiệt hại nghiêm
trọng trong nhiều tháng, ông T1 không th chấp nhận, nên ông T1 đã chấm dứt
mọi quan hệ với bà T. Ông T1 rất buồn khi quan hệ hợp tác làm ăn không th tiếp
tục và rất giận vì đã bị lợi dụng lòng tin, dễ dãi vì quá tin người. Hơn nữa, quán
ăn mới vào hoạt động kinh doanh được vài tháng, đang gặp rất nhiều khó khăn
phải chuyn đổi qua bán nhiều món phụ trợ khác mới duy trì tồn tại. Ông T1 đã
phải bỏ ra rất nhiều tiền đ đầu tư mà chưa có lời do doanh thu thấp. Trong khi
đó, bà T cũng phải hiu rằng việc hợp tác làm ăn thì ít nhất cũng phải sau một
năm mới tổng hợp lại đ biết kinh doanh lời, lỗ ra sao. Vậy mà, mới có hơn 03
tháng sau khi bỏ vốn, bà T đã nằng nặc đòi lại tiền, ông T1 đã nói rất nhiều lần
với bà T rằng là đ từ từ ông T1 sẽ giải quyết khi quán hoạt động ổn định và có
lời. Nhưng bà T đã nộp đơn kiện ông T1 ra Tòa án một cách bất ngờ, đột ngột như
vậy là th hiện sự thiếu thiện chí, thiếu tôn trọng ông T1, làm ảnh hưởng đến uy
tín, danh dự của ông T1, khiến ông T1 rất bức xúc.
Từ những căn cứ trên bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Đối với khoản tiền 300.000.000 đồng: đề nghị bác yêu cầu khởi kiện này
của bà Huỳnh Yến T. Cần xác định đây là quan hệ góp vốn đầu tư, đ hợp tác kinh
doanh chung với ông T1. Đây không phải là quan hệ vay mượn giữa hai bên, bà
T không cung cấp đủ chứng cứ và không phải do ông T1 nhận nên không có nghĩa
vụ phải hoàn trả.
2. Đối với khoản tiền 600.000.000 đồng: Ông T1 đã nhận khoản tiền này
nhưng nếu bà T có muốn rút vốn thì cũng cần có sự thỏa thuận, thống nhất của
hai bên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2025/DS-ST ngày 18 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, đim a khoản 1 Điều 35, đim a khoản 1 Điều
39, Điều 124, khoản 1 Điều 147, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 280, 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
án phí và lệ phí Tòa án,
6
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Yến
T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Yến T số tiền
nợ 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng).
K từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh
Yến T về việc buộc bị đơn ông Huỳnh Văn T1 trả lại 300.000.000 đồng (ba trăm
triệu đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Huỳnh Văn T1 phải chịu số tiền 28.000.000 đồng (hai mươi tám
triệu đồng).
Bà Huỳnh Yến T phải chịu số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng),
được khấu trừ vào 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008227 ngày 05/5/2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (sau sáp nhập là Phòng
thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh). Hoàn trả cho bà Huỳnh
Yến T 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm thi hành án, quyền kháng
cáo của các đương sự.
Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 29/9/2025 nguyên đơn bà Huỳnh Yến T
có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa
bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn ông Huỳnh
Văn T1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; người đại diện hợp pháp của bị
đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến:
Đối với yêu cầu về khoản tiền 600.000.000 đồng: Chấp nhận kháng cáo của
bị đơn, xác định khoản tiền này là khoản góp vốn, đầu tư trong quan hệ hợp tác
kinh doanh, từ đó tuyên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu về khoản tiền 300.000.000 đồng: Bác kháng cáo của
nguyên đơn vì không cung cấp được chứng cứ mới cũng như không có cơ sở pháp
lý đ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Đại diện Viện Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biu ý
kiến:
7
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tại Tòa án
cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn là có căn cứ; nguyên đơn và bị đơn kháng cáo không có chứng
cứ gì khác, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày
của đương sự, ý kiến của Kim sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Lê Thành D đã được triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; người đại diện hợp
pháp của nguyên đơn ông Thái Thanh H yêu cầu xét xử vắng mặt ông D; căn cứ
khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông
D.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/9/2025 nguyên đơn bà T có đơn kháng cáo
một phần bản án sơ thẩm và bị đơn ông T1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ
thẩm, việc kháng cáo vẫn trong thời hạn quy định của pháp luật.
Việc bị đơn yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập những người bà T đã
chuyn tiền vào tháng 11/2024 với số tiền 300.000.000 đồng đ mua nguyên vật
liệu, đồ đạc trang trí tại quán N1, Tòa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu nguyên đơn cung
cấp họ tên năm sinh địa chỉ của họ đ Tòa án triệu tập lấy lời khai, đưa vào tham
gia tố tụng trong vụ án nhưng nguyên đơn không cung cấp được nên Tòa án cấp
sơ thẩm không có cơ sở xem xét yêu cầu của bị đơn là phù hợp quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với số tiền 600.000.000 đồng:
Theo chứng cứ nguyên đơn bà T cung cấp th hiện: Bà T đã hai lần chuyn
tiền cho ông T1 theo bản sao kê của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ ngày
25/3/2025, cụ th:
- Ngày 10/01/2025, bà T chuyn 500.000.000 đồng cho ông T1 bằng số tài
khoản số 6501752621, tên chủ tài khoản Huỳnh Yến T mở tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Đ (B) đến số tài khoản 0461002862879, tên chủ tài khoản Huỳnh
Văn T1 mở tại Ngân hàng Cổ phần N (V), với nội dung chuyn tiền: “Huỳnh Yến
T chuyển tiền bé ba cho anh Huỳnh Văn T1 mượn đỡ”.
- Ngày 10/01/2025, bà T tiếp tục chuyn 100.000.000 đồng cho ông T1
bằng số tài khoản số 6501752621, tên chủ tài khoản Huỳnh Yến T mở tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Đ (B) đến số tài khoản 0461002862879, tên chủ tài
khoản Huỳnh Văn T1 mở tại Ngân hàng Cổ phần N (V), với nội dung chuyn tiền:
8
“Huỳnh Yến T chuyển tiền bé ba cho anh Huỳnh Văn T1 mượn đỡ”.
Nguyên đơn trình bày, bé ba trong nội dung chuyn tiền nêu trên là bà T;
bị đơn trình bày không biết bé ba là ai nhưng bị đơn thừa nhận có nhận số tiền
600.000.000 đồng từ tài khoản của bà T chuyn đến tài khoản của ông T1, đây là
tiền đ mua xe chung đ làm ăn chung, bị đơn sẽ trả lại số tiền này khi đã quyết
toán xong việc làm ăn, việc hợp tác làm ăn giữa hai bên chỉ nói miệng không có
giấy tờ; trình bày của bị đơn không được nguyên đơn thừa nhận; ngoài lời trình
bày bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên trình bày của bị đơn
không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn
số tiền 600.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.2] Đối với số tiền 300.000.000 đồng:
Nguyên đơn trình bày, số tiền này bị đơn mượn đ làm quán ăn (tiền mua
nguyên vật liệu, đồ đạc trang trí quán N1 của ông T1). Chứng cứ nguyên đơn bà
T cung cấp là Vi bằng số 229/2025/VB-TPL ngày 14/4/2025 được lập tại Văn
phòng T4 trích xuất các nội dung tin nhắn th hiện việc bà T mua các loại hàng
hóa. Bị đơn không thừa nhận việc vay tiền của nguyên đơn đ mua các nguyên
liệu trên cho bị đơn. Tòa án cấp sơ thẩm, đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp các tài
liệu, chứng cứ đ chứng minh cho việc bà T mua bán hàng hóa và thanh toán số
tiền 300.000.000 đồng là theo yêu cầu của bị đơn, cung cấp thông tin những người
mua bán hàng hóa với bà T đ đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án nhưng nguyên
đơn không cung cấp được; Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành đối chất đ làm rõ
vấn đề còn mâu thuẫn trong vụ án nhưng nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt và có
văn bản từ chối đối chất. Tuy nhiên, ngày 15/12/2024 bà T có chuyn 5.890.000
đồng vào tài khoản số 0461002862879 của ông Huỳnh Văn T1 mở tại Ngân hàng
Cổ phần N (V). Do đó, cần buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 5.890.000
đồng, không có cơ sở chấp nhận số tiền còn lại 294.110.000 đồng.
[2.3] Về tiền lãi: Nguyên đơn bà T không yêu cầu tính lãi, Tòa án cấp sơ
thẩm không xem xét là phù hợp quy định.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận
một phần, kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Quan đim của đại diện Viện Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
là phù hợp một phần.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308, Điều 309 và Điều 313 của Bộ luật
Tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
9
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Huỳnh Yến
T; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh Văn T1.
2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2025/DS-ST ngày 18 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh, như sau:
2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Yến
T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc ông Huỳnh Văn T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Yến T số tiền
nợ 605.890.000 đồng (sáu trăm lẽ năm triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
K từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2.2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà
Huỳnh Yến T về việc buộc bị đơn ông Huỳnh Văn T1 trả lại 294.110.000 đồng
(hai trăm chín mươi bốn triệu một trăm mười nghìn đồng).
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Huỳnh Yến T phải chịu số tiền 14.705.500 đồng (mười bốn triệu bảy
trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng), được khấu trừ vào 19.500.000 đồng (mười
chín triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí, còn trả cho bà Huỳnh Yến
T 4.794.500 đồng (bốn triệu bảy trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng) tiền
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008227 ngày
05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương
(sau sáp nhập là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông Huỳnh Văn T1 phải nộp số tiền 28.235.600 đồng (hai mươi tám triệu
hai trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm đồng).
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả cho bà Huỳnh Yến T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0022868 ngày 03/10/2025 của
Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (ông Lê Thành D nộp thay).
Trả cho ông Huỳnh Văn T1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0021889 ngày 01/10/2025
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật

10
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 16 – TPHCM;
- TAND khu vực 16 – TPHCM;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự (14),(80).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Duyên Hằng
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm