Bản án số 1625/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng ủy quyền

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1625/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1625/2026/DS-PT ngày 25/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng ủy quyền
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng ủy quyền
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1625/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc H. 2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Hồng T1. 3. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 21/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1625/2026/DS-PT Bản án số 1625/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1625/2026/DS-PT Bản án số 1625/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1625/2026/DS-PT
Ngày: 25/8/2026
V/v tranh chấp hợp đồng ủy
quyền, hợp đồng đặt cọc, tranh
chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, yêu cầu hủy văn bản thỏa
thuận phân chia di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền
- Thư phiên tòa: Ông Đặng Hùng ờng - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân n
Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân s
thụ số 1007/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm 2026 về “Tranh chấp hợp
đồng ủy quyền, hợp đồng đặt cọc, tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy văn bản thỏa thuận phân chia
di sản thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 21 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4257/2026/QĐXXPT-DS
ngày 06 tháng 7 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 12301/2026/QĐ-PT
ngày 04 tháng 8 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Thị Kim L, sinh năm 1978; số CCCD:
************; địa chỉ: số A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Thị Kim T, sinh năm
1975; số CCCD: ************; địa chỉ: số H, Hồ T, tổ dân phố C, phường B,
2
tỉnh Đắk Lắk, người đại diện theo y quyền (Văn bản ủy quyền ngày
09/12/2024); có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988; số CCCD: ************;
địa chỉ: số C, đường L, tổ C, khu phố C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh;
địa chỉ liên hệ: số A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1983; số
CCCD: ************; địa chỉ: số E, đường L, khu phố D, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số D, đại lộ B, khu phố P, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày
17/5/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Doãn
H1; địa chỉ liên hệ: số D, đại lộ B, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh; Luật thuộc Công ty L2, thuộc Đoàn Luật tỉnh B (nay Thành
phố Hồ Chí Minh); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C1; địa chỉ: số F, đường L, phường P, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng: Văn phòng C1; địa chỉ: số F, đường
L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
2. Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1986; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A, ấp B, T, tỉnh An Giang; địa chliên hệ: số A, đường L, khu phố P,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của T1: Ông Trịnh Văn S, sinh năm 1983; số
CCCD: ************; địa chỉ: số E, đường L, khu phố D, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: số D, đại lộ B, khu phố P, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh, người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày
17/7/2025); có mặt.
3. Ông Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 18/01/2007; số CCCD:
************; địa chỉ: số A, ấp B, T, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: số A,
đường L, khu phố P, phường T, Thành phố HChí Minh; đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
4. Huỳnh Thị H2, sinh năm 1936; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A (số cũ A), đường L, tổ I, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Huỳnh Thị H2: Phạm Thị Hồng N, sinh
năm 2003; số CCCD: ************; địa chỉ: số D, T, phường B, tỉnh Đắk Lắk,
người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/9/2025); có đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt.
5. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1957; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu
giải quyết vắng mặt.
3
6. Trần Mỹ T2, sinh năm 1962; số CCCD: ************; địa chỉ: số
A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; đơn yêu cầu
giải quyết vắng mặt.
7. Bà Trần Thị B, sinh năm 1965; số CCCD: ************; địa chỉ: số I,
tổ A, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết
vắng mặt.
8. Ông Trần Văn N2, sinh năm 1967; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A, tổ I, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; đơn yêu cầu giải
quyết vắng mặt.
9. Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1969; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn yêu cầu
giải quyết vắng mặt.
10. Ông Trần Hoàng M, sinh năm 1971; số CCCD: ************; địa chỉ:
số A, tổ I, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
11. Ông Trần Đông H3, sinh năm 1999; số CCCD: ************; đơn
yêu cầu giải quyết vắng mặt.
12. Trần Đông Sơn U, sinh năm 2001; số CCCD: ************; có
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số A, tổ I, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
13. Văn phòng C1; địa chỉ: đường Đ, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người kháng o: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Nguyễn Hồng T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Trần Thị Kim L là chủ sử dụng quyền sử dụng đất diện tích 309m² thuộc
thửa số 1224, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình
Dương (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA659991,
số vào sổ cấp GCN: CS08481.
Do có mối quan hệ họ hàng nên vào cuối năm 2021, ông Nguyễn Ngọc H
hỏi mượn bà L một phần đất chiều ngang 5,5m và chiều dài 20m thuộc
thửa số 1224 để kinh doanh hải sản. Ông H đề nghị L ký hợp đồng ủy quyền
để ông H được quản lý sử dụng đất thuận tiện, hợp pháp.
Ngày 11/11/2021, Trần Thị Kim L ông Nguyễn Ngọc H Hợp đồng
ủy quyền tại Văn phòng C1. Ngày 12/01/2022, Trần Thị Kim L ông
Nguyễn Ngọc H giấy thỏa thuận về việc cho mượn đất để kinh doanh mua
bán hải sản nội dung: Trần Thị Kim L cho ông Nguyễn Ngọc H mượn
diện tích đất 110m² thuộc thửa số 1224, tờ bản đồ số 48; thời gian mượn 05 năm;
4
mục đích sử dụng: ông Nguyễn Ngọc H sử dụng đất cất ntiền chế mua bán
hải sản tươi sống các loại; ông Nguyễn Ngọc H đảm bảo chịu trách nhiệm mọi
vấn đề liên quan đến kinh doanh của mình, đảm bảo không gây ảnh hưởng hay
làm mất trật ttại địa điểm kinh doanh. Sau khi ký giấy thỏa thuận, ông Nguyễn
Ngọc H đã xây dựng 01 nhà tạm diện tích khoảng 100m² trực tiếp quản lý sử
dụng diện tích đất bà L cho mượn.
Ông Nguyễn Ngọc H đã lợi dụng Hợp đồng ủy quyền ngày 11/11/2021 để
sử dụng toàn bộ diện ch đất 309m² thuộc thửa số 1224, tờ bản đồ số 48, tọa lạc
tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481 cấp cho
Trần Thị Kim L. Thời gian gần đây, ông H còn đổ đất, đào ng dự định xây
thêm 01 căn nhà ngay phía sau phần đất làm nhà tạm nhưng không thông báo
cho bà L. Bà Trần Thị Kim L kiểm tra lại Hợp đồng ủy quyền ngày 11/11/2021
thì phát hiện nội dung Hợp đồng nhiều điều khoản vượt quá ý chí, nguyện
vọng của bà L khi giao kết hợp đồng. L yêu cầu ông H đến văn phòng C1 để
làm thủ tục hủy hợp đồng ủy quyền nhưng ông H không đồng ý.
Trần Thị Kim L yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên chấm dứt Hợp đồng
ủy quyền s9525, quyển số 11/2021/TP/CC-SCC/HĐGD giữa Trần Thị Kim
L với ông Nguyễn Ngọc H ngày 11/11/2021 tại Văn phòng C1. Bà L không yêu
cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc chấm dứt hợp đồng.
Trần Thị Kim L không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn
Ngọc H và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng T1.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn
ông Nguyễn Ngọc H trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc H cháu ngoại của ông Trần Phùng S1 Huỳnh
Thị H2 con ruột Trần Mỹ T2. Khi còn sống ông Trần Phùng S1 và
Huỳnh Thị H2 đã tạo lập được khối di sản như sau: Quyền sử dụng đất diện tích
2.506,7m², thuộc thửa số 832, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố
T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BD275343, số vào sổ cấp
GCN: CH00604 do Ủy ban nhân dân thị T cấp ngày 28/10/2010 cho ông Trần
Phùng S1 và bà Huỳnh Thị H2.
Ông Trần Phùng S1, sinh năm 1927, chứng minh nhân dân số *********
do Công an tỉnh B cấp. Ông S1 chết ngày 25/9/2019, được đăng ký khai tử theo
Trích lục khai tử số 53/TLKT do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh
Bình Dương cấp ngày 25/9/2019.
Di sản do ông Trần Phùng S1 để lại gồm có: Phần quyền sử dụng đất theo
giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền
với đất nêu trên trong khối tài sản chung với vợ là bà Huỳnh Thị H2.
Sau khi ông Trần Phùng S1 chết, bà Huỳnh Thị H2 tất cả các đồng thừa
kế của ông S1 đều thống nhất, đồng ý cho ông Nguyễn Ngọc H một phần đất
5
diện tích 200m² một phần của thửa đất số 832, tbản đồ s48, tọa lạc tại
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là một phần thửa đất số 1224, tờ
bản đồ số 48, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481, do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/7/2021 cho Trần Thị Kim L). Phần
đất mà ông Nguyễn Ngọc H được cho có tứ cận: Hướng đông giáp với phần đất
Trần Thị B; hướng tây giáp đất Trần Đông Sơn U; hướng bắc giáp với
phần đất còn lại của thửa đất 1224; hướng nam giáp với rãnh nước; chính
phần đất thuộc khu B trên đồ giải quyết tranh chấp Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai đo đạc ngày 13/3/2025. Khi cho đất không lập văn bản thỏa
thuận gì.
Mặt khác, ngày 14/12/2020, Huỳnh Thị H2 đã hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Hồng T1 vợ chưa đăng kết hôn với ông
Nguyễn Ngọc H phần đất diện tích 100m² một phần của thửa đất số 832,
tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay một
phần thửa đất số 1224, tbản đồ số 48 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp
GCN: CS08481 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/7/2021 cho
Trần Thị Kim L). Phần đất H2 chuyển nhượng cho Nguyễn Hồng
T1 có tứ cận: Hướng đông giáp với phần đất bà Trần Thị B; hướng tây giáp đất
Trần Đông Sơn U; hướng nam giáp với phần đất còn lại của thửa đất 1224;
hướng bắc giáp với đường bê tông; chính phần đất thuộc khu A trên đồ giải
quyết tranh chấp Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo đạc ngày
13/3/2025. Phần đất chuyển nhượng này đã được T1 trả cho H2 số tiền
1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Tuy nhiên, phần đất T1 nhận chuyển
nhượng chưa được tách thửa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
không đủ diện tích.
Do vậy, trước khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì
H2 và các đồng thừa kế đều thống nhất và đồng ý phần đất đã cho ông Nguyễn
Ngọc H có diện tích 200m² và phần đất bà H2 bán cho bà T1 sẽ để cho bà Trần
Thị Kim L (một trong các đồng thừa kế của ông Trần Phùng S1) đứng tên trên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm, sau đó sẽ trả lại cho ông H và bà T1
bằng hình thức ủy quyền hoặc chuyển nhượng.
Ngày 29/5/2021, Huỳnh Thị H2 và các đồng thừa kế của ông Trần Phùng
S1 lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Văn phòng C1, tỉnh Bình
Dương, địa chỉ đường Đ, khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay
là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) với nội dung như sau:
Các đồng thừa kế thỏa thuận phần di sản của ông Trần Phùng S1 phần
tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng nêu trên, đồng thời bà Huỳnh Thị
H2 cũng đồng ý nhập phần tài sản của H2 trong khối tài sản chung của vợ
chồng để tặng cho và phân chia như sau:
- Ông Trần Đông H3 được hưởng phần quyền sử dụng đất diện tích
1629,7m², thửa đất mới 1222 được tách ra từ thửa 832, tờ bản đồ số 48.
6
- Trần Đông Sơn U được hưởng phần quyền sử dụng đất diện tích
568m², thửa đất mới 1223 được tách ra từ thửa 832, tờ bản đồ số 48.
- Trần Thị Kim L được hưởng phần quyền sử dụng đất diện tích
309m², thửa đất mới 1224 được tách ra từ thửa 832, tờ bản đồ số 48.
Trên thực tế, để thuận tiện cho việc phân chia di sản thừa kế do ông Trần
Phùng S1 để lại phần đất của Huỳnh Thị H2 sáp nhập để phân chia. H2
và các đồng thừa kế thống nhất để cho bà Trần Thị Kim L là một người thừa kế
của ông Trần Phùng S1 đứng ra nhận phần đất 200m² đã đồng ý cho ông H
phần đất 100m² đã chuyển nhượng cho T1. Khi thỏa thuận L đứng tên
giùm không có lập văn bản.
Ngày 01/7/2021, bà Trần Thị Kim L được cấp quyền sử dụng đối với diện
tích đất 309m² thuộc thửa số 1224, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481.
Đến ngày 11/11/2021, L thực hiện Hợp đồng ủy quyền toàn bộ thửa đất số
1224 cho ông H để sau này ông H và bà T1 sẽ tự quyết định.
Trên thực tế, việc hợp đồng ủy quyền nêu trên để L trả lại phần đất
đứng tên nhận giùm cho ông H và bà T1. Trước đó, ông H, bà T1 đã nhận phần
đất nêu trên để quản lý, sử dụng, xây dựng hàng rào bảo vệ đất xây dựng n
làm quán bán hải sản trên đất này từ cuối năm 2021 đến nay.
Nay, bà Trần Thị Kim L khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp giữa ông
Nguyễn Ngọc H với bà L nên ông H phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Kim
L.
- Xác định phần đất có diện tích 200m² là một phần của thửa đất số 1224,
tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuộc quyền
sử dụng của ông Nguyễn Ngọc H. Đồng thời, ông H được toàn quyền quản lý,
sử dụng định đoạt phần đất này. Phần đất ông H yêu cầu công nhận tứ cận:
Hướng đông giáp với phần đất bà Trần Thị B; hướng tây giáp đất bà Trần Đông
Sơn U; hướng bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 1224; hướng nam
giáp với rãnh nước. Phần đất ông H tranh chấp chính là khu B nhưng do khi đo
đạc ông H đo bằng thước dây nên diện tích chưa chính xác.
- Buộc bà Trần Thị Kim L giao trả phần đất có diện tích 200m² trong phần
đất diện tích 309m² thuộc thửa đất số 1224, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường
P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông Nguyễn Ngọc H.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Trần Thị Kim L ngày 01/7/2021.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Hồng T1 trình bày:
Nguyễn Hồng T1 và ông Nguyễn Ngọc H là vợ chồng 01 con chung
là cháu Nguyễn Thanh L1, sinh năm 2007 nhưng không đăng ký kết hôn.
7
Ngày 14/12/2020, Huỳnh Thị H2 đã hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng
cho Nguyễn Hồng T1 phần đất diện tích 100m² là một phần của thửa đất
số 832, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
một phần thửa đất số 1224, tờ bản đồ số 48 theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất số DA659991, số vào
sổ cấp GCN: CS08481, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày
01/7/2021 cho Trần Thị Kim L). Phần đất H2 chuyển nhượng cho
Nguyễn Hồng T1 tứ cận: Hướng đông giáp với phần đất Trần Thị B; hướng
tây giáp đất bà Trần Đông Sơn U; hướng nam giáp với phần đất còn lại của thửa
đất số 1224; hướng bắc giáp với đường bê tông; chính là phần đất thuộc khu A
trên đồ giải quyết tranh chấp Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai đo
đạc ngày 13/3/2025. Giá chuyển nhượng 1.400.000.000 đồng. T1 đã trả
cho H2 số tiền 1.000.000.000 đồng (trong đó ngày 14/12/2020 đặt cọc
500.000.000 đồng, ngày 28/10/2021 thanh toán 500.000.000 đồng), còn lại
400.000.000 đồng khi nào làm thủ tục chuyển nhượng, tách thửa cho T1 sẽ
giao. Tuy nhiên, phần đất T1 nhận chuyển nhượng chưa được tách thửa
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do không đủ diện tích.
Tại thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng thì đất n thuộc thửa số 832, tờ
bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông
Trần Phùng S1 và bà Huỳnh Thị H2.
Đồng thời ông Nguyễn Ngọc H cũng được gia đình bà Huỳnh Thị H2 thỏa
thuận cho 200m² một phần của thửa đất số 832, tờ bản đsố 48, tọa lạc tại
phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Phần đất ông Nguyễn Ngọc H
được cho tứ cận: Hướng đông giáp với phần đất bà Trần Thị B; hướng tây
giáp đất bà Trần Đông Sơn U; hướng bắc giáp với phần đất còn lại của thửa đất
số 1224; hướng nam giáp với rãnh nước; chính là phần đất thuộc khu B trên sơ
đồ giải quyết tranh chấp mà Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo đạc ngày
13/3/2025. Phần đất này nằm liền sau phần đất T1 nhận chuyển nhượng
của bà H2.
Do T1 ông H vợ chồng cần làm thủ tục chia thừa kế phần của
ông Trần Phùng S1 nên đã thống nhất nhờ Trần Thị Kim L là dì ruột của ông
H đứng tên giùm trên giấy chứng nhận, sau khi ra tên L thì L slàm ủy
quyền hoặc chuyển nhượng sang tên cho ông H, bà T1.
Ngày 01/7/2021, bà Trần Thị Kim L được cấp quyền sử dụng đối với diện
tích đất 309m² thuộc thửa số 1224, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P, thành
phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481.
Đến ngày 11/11/2021, L thực hiện Hợp đồng ủy quyền toàn bộ thửa đất số
1224 cho ông H để sau này ông H T1 sẽ tự quyết định. Ông H, T1 đã
nhận phần đất nêu trên để quản lý, sử dụng, xây dựng hàng rào bảo vệ phần đất
và xây dựng nhà làm quán bán hải sản trên phần đất này từ cuối năm 2021 đến
nay.
8
Nay bà L khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp thì bà Nguyễn Hồng T1
yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy một phần Văn bản thỏa thuận chia di sản số công chứng 7084, quyển
số: 05/2021 TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 29/5/2021 tại Văn phòng C1, tỉnh Bình
Dương liên quan đến phần quyền sử dụng đất diện tích 309m² thuộc thửa đất
số 1224 (được tách ra từ thửa đất số 832), tờ bản đồ số 48 cấp cho Trần Thị
Kim L ngày 01/7/2021.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho bà Trần Thị Kim L ngày 01/7/2021.
- Buộc Huỳnh Thị H2 tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc ngày
14/12/2020 giữa bà Nguyễn Hồng T1 với bà Huỳnh Thị H2.
- Công nhận phần đất diện tích 100m²
thuộc thửa đất số 832 (nay
thửa đất số 1224), tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại số A, đường L, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Hồng T1. Sau khi được
công nhận T1 sẽ thanh toán số tiền còn lại theo Hợp đồng đặt cọc cho
Huỳnh Thị H2. Phần đất Nguyễn Hồng T1 yêu cầu tứ cận: Hướng đông
giáp với phần đất Trần Thị B; hướng tây giáp đất Trần Đông Sơn U; hướng
nam giáp với phần đất còn lại của thửa đất 1224; hướng bắc giáp với đường bê
tông (thuộc khu A trên sơ đồ giải quyết tranh chấp).
Trường hợp giao dịch giữa bà Nguyễn Hồng T1 với Huỳnh Thị H2
hiệu thì T1 yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu,
buộc Huỳnh Thị H2 trả lại cho Nguyễn Hồng T1 số tiền đã nhận
1.000.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại theo quy định.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị H2 người đại diện
hợp pháp của bà H2 trình bày:
Huỳnh Thị H2 mẹ ruột của bà Trần Thị Kim L, ngoại của ông
Nguyễn Ngọc H, là vợ ông Trần Phùng Sĩ .
Ngày 25/9/2019, ông Trần Phùng S1 chết. Huỳnh Thị H2 ông Trần
Phùng S1 tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 2.506,7m² theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số BD275343, số vào sổ cấp GCN: CH00604 do Ủy ban nhân dân thị T
cấp ngày 28/10/2010 cho ông Trần Phùng Sĩ .
Do Huỳnh Thị H2 không hiểu về quyền sử dụng đất trong gia đình
nên khi gia đình chưa chia di sản thừa kế của ông Trần Phùng S1 thì ngày
14/12/2020, Huỳnh Thị H2 và Nguyễn Hồng T1 đã “Hợp đồng đặt
cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” với nội dung bà Huỳnh Thị H2
chuyển nhượng cho bà Nguyễn Hồng T1 diện tích đất 100m² thuộc thửa 832, tờ
bản đồ số 48. Phần đất chuyển nhượng liên ranh với bà Trần Thị B nhưng chưa
xác định được vị tcụ thể. Giá chuyển nhượng 1.400.000.000 đồng; ngày
14/12/2020, Nguyễn Hồng T1 đã đặt cọc cho bà Huỳnh Thị H2 500.000.000
9
đồng; ngày 28/10/2021, T1 đặt cọc thêm 500.000.000 đồng. Việc chuyển
nhượng đất chưa thực hiện thủ tục sang tên, đăng quyền sử dụng đất tại
quan Nhà nước có thẩm quyền.
Ngày 29/5/2021, các đồng thừa kế của ông Trần Phùng S1 đã lập Văn bản
thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Văn phòng C1. Trần Thị Kim L được
hưởng phần quyền sử dụng đất diện tích 309m² (phần đất Nguyễn Hồng
T1 đã đặt cọc cho Huỳnh Thị H2 nằm trong diện tích đất L được thừa kế).
Thời điểm làm n bản thỏa thuận phân chia di sản, bà Nguyễn Hồng T1 không
có ý kiến gì.
Hiện nay phần đất tranh chấp với bà Nguyễn Hồng T1, Trần Thị Kim L
đã đứng tên hợp pháp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thuộc
quyền sử dụng của Huỳnh Thị H2 nên H2 đồng ý trả lại cho bà Nguyễn
Hồng T1 số tiền đã nhận là 1.000.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N1, bà Trần Mỹ T2,
Trần Thị B, ông Trần Văn N2, Trần Thị Kim C, ông Trần Hoàng M,
Trần Đông Sơn U, ông Trần Đông H3 không đến Tòa án làm việc nhưng có gửi
bản tự khai và đơn xin vắng mặt. Tại bản tự khai những người liên quan thống
nhất trình bày ý kiến như sau:
Ông Trần Phùng S1 và bà Huỳnh Thị H2 có 09 người con gồm: ông Trần
Văn N1, bà Trần Mỹ T2, bà Trần Thị B, ông Trần Văn N2, bà Trần Thị Kim C,
Trần Thị Kim L, ông Trần Hoàng M, ông Trần Thái B1 (đã chết năm 2002,
không có vợ con), ông Trần Văn Đ (chết năm 2003, có 02 con gồm Trần Đông
H3, sinh năm 1999 Trần Đông Sơn U, sinh năm 2001). Ngoài ra, ông Trần
Phùng S1 và bà Huỳnh Thị H2 không có người con nuôi, con riêng nào khác.
Ngày 25/9/2019, ông Trần Phùng S1 chết nhưng không để lại di chúc. Di
sản do ông Trần Phùng S1 để lại phần quyền sử dụng đất trong khối tài sản
chung của vợ chồng là thửa đất số 832, tờ bản đồ số 48, tọa lạc tại phường P,
thành phố T, tỉnh nh Dương (nay phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác gắn
liền với đất số BD275343, số vào sổ cấp GCN: CH00604 do Ủy ban nhân dân
thị xã T cấp ngày 28/10/2010. Toàn bộ tài sản do ông Trần Phùng S1
Huỳnh Thị H2 tạo lập.
Ngày 29/5/2021, những người thừa kế của ông Trần Phùng S1 đã thống
nhất phân chia di sản thừa kế do ông Trần Phùng S1 để lại. Huỳnh Thị H2
đồng ý nhập phần quyền của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng để
tặng cho và phân chia.
Các đồng thừa kế của ông Trần Phùng S1 đồng thuận để cho Trần Thị
Kim L được hưởng diện tích đất 309m², thửa đất mới 1224 được tách ra từ thửa
đất số 832, tờ bản đồ số 48, mục đích sử dụng đất trồng cây lâu năm.
Ông Trần Văn N1, Trần Mỹ T2, Trần Thị B, ông Trần Văn N2,
Trần Thị Kim C, ông Trần Hoàng M, bà Trần Đông Sơn U, ông Trần Đông H3
không đồng ý với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng T1 về việc yêu cầu hủy
10
thỏa thuận phân chia di sản liên quan đến diện tích đất 309m², thửa đất mới 1224
được tách ra từ thửa đất số 832, tờ bản đồ số 48 cấp cho bà Trần Thị Kim L ngày
01/7/2021.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh L1 không đến
Tòa án làm việc nhưng có gửi bản tự khai và đơn xin vắng mặt. Tại bản tự khai
ông L1 trình bày ý kiến như sau:
Ông Nguyễn Thanh L1 con đẻ của bà Nguyễn Hồng T1. Hiện nay, ông
L1 đang sống cùng với ông Nguyễn Ngọc H và Nguyễn Hồng T1 tại phần
đất tranh chấp địa chỉ số A, đường L, khu phố P, phường T, Thành phố Hồ Chí
Minh. Ông Nguyễn Thanh L1 không đóng góp đối với tài sản tranh chấp
giữa Trần Thị Kim L với ông Nguyễn Ngọc H bà Nguyễn Hồng T1, không
có yêu cầu đối với tài sản tranh chấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày:
Văn phòng C1 có nhận được yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân
chia di sản của bà Trần Đông Sơn U. Theo nội dung văn bản, những người thừa
kế của ông Trần Phùng S1 bao gồm: Huỳnh Thị H2, ông Trần Văn N1,
Trần Mỹ T2, Trần Thị B, ông Trần Văn N2, Trần Thị Kim C, bà Trần Thị
Kim L, ông Trần Hoàng M, Trần Đông Sơn U, ông Trần Đông H3 thỏa thuận
đối với phần di sản của ông Trần Phùng S1 phần tài sản trong khối tài sản
chung của vợ chồng, đồng thời Huỳnh Thị H2 cũng đồng ý nhập phần tài sản
của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng đtặng cho và phân chia quyền
sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà và tài
sản khác gắn liền với đất số phát hành BD275343, svào sổ cấp GCN: CH00604
do Ủy ban nhân dân thị T cấp ngày 28/10/2010, cụ thể thửa đất số 832, tờ
bản đồ số 48 diện tích 2.506,7m² tọa lạc tại phường P, thị T, tỉnh Bình Dương.
Các ông Trần Đông H3, Trần Đông n U, Trần Thị Kim L được toàn quyền
sở hữu, sdụng và định đoạt các tài sản được phân chia theo Mảnh trích lục địa
chính có đo đạc, chỉnh lý do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T
cấp ngày 10/5/2021.
Khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng nêu trên, Công chứng viên đã tiến
hành kiểm tra toàn bộ hồ pháp lý, đối chiếu bản chính bản sao gồm: tờ
tường trình về quan hệ nhân thân, trích lục khai tử, giấy chứng tử, công văn trả
lời xác minh, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu; giấy khai sinh, mảnh trích lục
địa chính; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất; kiểm tra phần mềm ngăn chặn chuyển dịch tài sản của các
quan nhà nước thẩm quyền. Công chứng viên đã niêm yết công khai thông
báo về việc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế tại Ủy ban nhân dân phường P,
thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi niêm yết việc thụ công chứng văn
bản, Văn phòng C1 không nhận được khiếu nại, tố o nào nên Công chứng viên
đã tiến hành soạn thảo văn bản thỏa thuận phân chia di sản, cho các bên đọc lại
các bên đồng ý tên, điểm chỉ vào văn bản trước sự chứng kiến của Công
chứng viên và người làm chứng là bà Phạm Thị Phúc H4. Sau đó, Công chứng
viên đã chứng nhận vào văn bản theo đúng quy định của pháp luật: Văn bản thỏa
11
thuận phân chia di sản số công chứng 7084, quyển số 05/2021 TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 29/5/2021.
Văn phòng C1 không ý kiến, yêu cầu đối với vụ án, đề nghị Tòa án
giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 trình bày:
Ngày 11 tháng 11 năm 2021, theo yêu cầu của bà Trần Thị Kim L, sinh
năm 1978 ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1988 về việc chứng nhận Hợp đồng
ủy quyền giữa Trần Thị Kim L ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc H thửa đất
số 1224, tờ bản đồ số 48, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu n tài sản khác gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp
GCN: CS08481 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/7/2021.
Sau khi kiểm tra bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở tài sản khác gắn liền với đất, văn bản xác nhận tình trạng bất động
sản, giấy tờ tùy thân của bên ủy quyền bên được ủy quyền, các giấy tờ chứng
minh cho việc thực hiện giao dịch, Công chứng viên xác định các bên đủ năng
lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Việc giao kết hợp đồng giữa các
bên là hoàn toàn tự nguyện và có thật. Mục đích và nội dung giao kết hợp đồng
không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức hội. Công chứng viên đã giải
thích rõ quyền nghĩa vụ của các bên hậu quả pháp của c giao dịch nêu
trên, người tham gia hợp đồng đã nghe và hiểu rõ đồng thời cam kết chịu trách
nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện hợp đồng. Bên ủy quyền bên được
ủy quyền đã đọc lại toàn bộ dự thảo của hợp đồng đồng ý với toàn bộ nội
dung dự thảo. Sau đó bên ủy quyền bên được y quyền đã tên, điểm chỉ
trước mặt Công chứng viên Nguyễn Thị G.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N1, bà Trần Mỹ T2,
Trần Thị B, ông Trần Văn N2, Trần Thị Kim C, ông Trần Hoàng M,
Trần Đông Sơn U, ông Trần Đông H3, Văn phòng C1, Văn phòng C1 vắng mặt
và có đơn xin vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 21/4/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Kim L đối với
bị đơn ông Nguyễn Ngọc H về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền”:
- Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền số công chứng 9525, quyển số 11/2021
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 (nay Văn phòng C1) lập ngày
11/11/2021 giữa bà Trần Thị Kim L với ông Nguyễn Ngọc H vô hiệu.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Ngọc H đối
với nguyên đơn Trần Thị Kim L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Nguyễn Hồng T1 vviệc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, yêu cầu hủy
12
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản thừa
kế”.
- Tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa Huỳnh Thị H2 Nguyễn Hồng
T1 (không đề ngày, tháng, năm) vô hiệu.
- Bà Huỳnh Thị H2 có trách nhiệm trả lại cho bà Nguyễn Hồng T1 số tiền
1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng).
Ngoài ra bản án còn quyết định ván phí, nghĩa vụ chậm trả, chi phí tố
tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Hồng T1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của người kháng
cáo ông H T1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm
tranh luận: Bị đơn không có chứng cứ chứng minh việc cho tặng cho đất nhưng
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bản chất thật của sự việc, ông H là cháu ngoại
H2, chính ông H là người đi làm thủ tục thỏa thuận phân chia di sản, có việc
tặng cho mới có việc ký ủy quyền (ủy quyền toàn quyền định đoạt), nếu không
phải được tặng cho thì trên cơ sở hợp đồng ủy quyền ông H đã có thể thực hiện
chuyển nhượng nhưng ông H lại đầu công trình (chứng minh đất của mình
mới đầu tư, xây dựng) mới có việc ký hợp đồng đặt cọc mua một phần diện
tích trong tổng diện tích L được cấp giấy, nếu không việc cho đất thì
T1 (chung sống như vợ chồng với ông H) không thể nào tiếp tục giao thêm số
tiền 500.000.000 đồng cho bà H2, tất cả đều trên sở tin tưởng người
trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của
ông H cũng như bà T1 để giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại din Vin Kim sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Vnội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Nguyễn Ngọc H; chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Hồng T1,
sửa một phần bản án thẩm ngoài số tiền 1.000.000.000 đồng trả lại cho
T1, buộc H2 trả tiền lãi của số tiền 500.000.000 đồng từ ngày 28/10/2021 đến
ngày xét xử phúc thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các
đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
13
[1] Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1, ông Nguyễn
Thanh L1, người đại diện hợp pháp của Huỳnh Thị H2 là bà Phạm Thị Hồng
N, ông Trần Văn N1, bà Trần Mỹ T2, Trần Thị B, ông Trần Văn N2, Trần
Thị Kim C, ông Trần Đông H3, Trần Đông Sơn U, Văn phòng C1 đơn yêu
cầu giải quyết vắng mặt; người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoàng
M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng
mặt không do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xvắng mặt đương s
trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Trần Thị Kim L chủ sở hữu hợp pháp đối với phần đất diện
tích 309m² thuộc thửa đất số 1224, tờ bản đồ số 48 tại phường P, thành phố T,
tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số
DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh
B cấp ngày 01/7/2021. Nguồn gốc đất, L được nhận theo Văn bản thỏa thuận
phân chia di sản ngày 29/5/2021 của các đồng thừa kế của ông Trần Phùng
S1 gồm Huỳnh Thị H2, ông Trần Văn N1, Trần Mỹ T2, bà Trần Thị B,
ông Trần Văn N2, bà Trần Thị Kim C, bà Trần Thị Kim L, ông Trần Hoàng M,
Trần Đông Sơn U, ông Trần Đông H3.
[3] Ngày 11/11/2021, bà Trần Thị Kim L ký hợp đồng ủy quyền cho ông
Nguyễn Ngọc H thực hiện các quyền của chủ sử dụng đất đối với thửa đất nêu
trên. L cho rằng cho ông H mượn đất để kinh doanh; để thuận tiện cho
hoạt động này, bà L ký hợp đồng ủy quyền nêu trên; do đó, hợp đồng ủy quyền
giả tạo nhằm che giấu cho giao dịch mượn đất. Ngược lại, ông H cho rằng
việc hợp đồng ủy quyền để che giấu cho giao dịch tặng cho chuyển
nhượng đất. Như vậy, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận hợp đồng ủy quyền
để che giấu cho giao dịch khác. Do đó, Tòa án cấp thẩm tuyên hợp đồng
vô hiệu là có căn cứ.
[4] Về hậu quả của giao dịch hiệu: Tại khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân
sự năm 2015 quy định: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo
nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo hiệu,
còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó
cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật khác có liên quan”.
[4.1] Nguyên đơn cho rằng Hợp đồng ủy quyền ngày 11/11/2021 che
giấu cho giao dịch cho mượn đất theo “Giấy thỏa thuận về việc cho mượn đất
để kinh doanh mua bán hải sản” ngày 12/01/2022 giữa Trần Thị Kim L với
ông Nguyễn Ngọc H nhưng nguyên đơn không có yêu cầu Tòa án giải quyết đối
với giao dịch cho mượn đất nên không xem xét, giải quyết đối với giao dịch cho
mượn đất giữa các bên. Bà L đồng ý để bị đơn tiếp tục mượn đất theo thời hạn
trên. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định nếu các bên tranh chấp đối với
hợp đồng cho mượn đất thì có quyền khởi kiện vụ án khác là phù hợp.
[4.2] Bị đơn ông Nguyễn Ngọc H cho rằng hợp đồng trên che
giấu cho giao dịch tặng cho đất, các đồng thừa kế của ông Trần Phùng T3 cho
ông H phần đất diện tích 200m² thuộc một phần thửa đất số 1224, tờ bản đồ số
14
48 theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số DA659991, số vào sổ cấp GCN: CS08481 do Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh B cấp ngày 01/7/2021 cho bà Trần Thị Kim L nên ông H có
yêu cầu phản tố công nhận quyền sử dụng đối với phần đất diện tích đất nêu
trên. Xét, bà Trần Thị Kim L các đồng thừa kế của ông S1 không thừa nhận
lời trình bày của bị đơn ông H về việc cho ông H phần đất diện tích 200m² và
ông H không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh lời
trình bày của mình. Ngược lại, chính ông H lại ký “Giấy thỏa thuận về việc cho
mượn đất để kinh doanh mua bán hải sản” ngày 12/01/2022 để mượn phần đất
ngang 5,5m dài 20m thuộc thửa đất số 1224, tbản đồ số 48, (thửa đất
tổng diện tích 309m²) trong thời hạn 05 năm để ông H cất nhà tiền chế mua bán
hải sản. Do đó, ông H cho rằng hợp đồng ủy quyền che giấu cho giao dịch tặng
cho yêu cầu công nhận diện tích đất được tặng cho là không căn cứ nên
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là phù hợp.
[5] Xét kháng cáo đối với yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Hồng T1.
[5.1] Ngày 14/12/2020, bà Huỳnh Thị H2 Nguyễn Hồng T1 kết
“Hợp đồng đặt cọc v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất” nội dung:
Huỳnh Thị H2 chuyển nhượng phần đất diện tích 100m² thuộc thửa đất s
832, tờ bản đồ số 48 tọa lạc tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay
phường T, Thành phố HChí Minh), giá chuyển nhượng 1.400.000.000 đồng.
Ngày 14/12/2020, Nguyễn Hồng T1 đặt cọc cho Huỳnh Thị H2 số tiền
500.000.000 đồng; ngày 28/10/2021, T1 giao thêm cho H2 số tiền
500.000.000 đồng. Như vậy, thời điểm H2 hợp đồng đặt cọc cho
T1, ông S1 đã chết, quyền sử dụng đất tài sản chung của bà H2 ông S1,
diện tích H2 chuyển nhượng 100m² cho T1 trong tổng diện
tích 2.506,7m² vẫn đảm bảo phần quyền shữu của H2 trong khối tài sản
chung trên. Hợp đồng đặt cọc giữa bà H2T1 là để đảm bảo giao kết hợp
đồng chuyển nhượng. Tuy nhiên, khi chưa giao kết hợp đồng chính thức, H2
lại đem toàn quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của H2 nhập vào phần
của ông S1 và phân chia cho các con theo Văn bản thỏa thuận phân chia di sản
ngày 29/5/2021 nên đối tượng của hợp đồng không còn. Như vậy, lỗi trong
trường hợp này hoàn toàn thuộc về bà H2 (xem Án lệ số 79/2025/AL được Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 24/12/2025
được công bố theo Quyết định 339a/QĐ-CA ngày 25/12/2025 của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao). Tòa án cấp thẩm tuyên buộc H2 chỉ trả lại số tiền cọc
không đảm bảo quyền lợi cho T1. Theo hợp đồng các bên thỏa thuận trường
hợp bên A (bà H2) thay đổi quyết định của nh (từ chối chuyển nhượng với bất
kỳ lý do gì) thì bên A phải bồi thường gấp đôi số tiền bên B (bà T1) đã đặt
cọc. Do đó, trường hợp này ngoài trả lại số tiền cọc, cần buộc H2 bồi thường
cho bà T1 số tiền theo thỏa thuận là 500.000.000 đồng.
[5.2] Sau khi đối tượng của hợp đồng không còn, hợp đồng không thể thực
hiện nhưng H2 lại tiếp tục nhận thêm 500.000.000 đồng vào ngày 28/10/2021
(thời điểm này bà H2 đã ký thỏa thuận phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế
và bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được
15
phân chia. Hơn ai hết, bà H2 biết rõ đã không thực hiện được hợp đồng, H2
lại tiếp tục nhận tiền cho thấy bà H2 chiếm hữu số tiền trên đến nay là gây thiệt
hại cho quyền lợi của bà T1.
Khoản 2 Điều 581 Bộ luật Dân sự quy định: “Người chiếm hữu, người sử
dụng tài sản, người được lợi về tài sản không căn cứ pháp luật nhưng
ngay tình thì phải hoàn trả hoa lợi, lợi tức thu được từ thời điểm người đó biết
hoặc phải biết việc chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi vtài sản không có căn
cứ pháp luật....”.
Đối chiếu quy định trên thì bà H2 nhận tiền của T1 kể từ thời điểm
H2 biết việc chiếm hữu không còn ngay tình (thời điểm biết hợp đồng không
thực hiện được nhưng tiếp tục nhận tiền ngày 28/10/2021) nhưng H2 vẫn
nhận và không trả thì việc chiếm hữu lúc này không còn ngay tình nên phải trả
lại lợi tức (Điều 109 của Bộ luật Dân sự quy định lợi tức là khoản lợi thu được
từ việc khai thác tài sản; tiền lãi chính lợi tức) trên số tiền H2 chiếm
hữu. Như vậy, H2 chiếm hu số tiền 500.000.000 đồng giao đợt hai vào ngày
28/10/2021. Do đó, ngoài việc buộc H2 trả lại số tiền 500.000.000 đồng, cần
buộc bà H2 phải trả lãi suất (lợi tức) cho bà T1 như sau:
500.000.000 đồng từ ngày 28/10/2021 đến ngày xét xử phúc
thẩm (19/8/2026) với mức lãi suất 10%/năm với số tiền: 500.000.000 đồng x
10%/năm x 04 năm 09 tháng 28 ngày = 241.388.888 đồng.
Như vậy, tổng số tiền phải trả bồi thường thiệt hại lãi suất (lợi tức)
H2 phải trả cho T1 là 1.741.388.888 đồng.
[6] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn ông H đề
nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H không có căn cứ
chấp nhận. Kháng cáo của bà T1 là có căn cứ chấp nhận một phần.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
tại phiên tòa là phù hợp một phần.
[8] Về chi phí tố tụng: đương sự phải chịu theo quy định.
[9] Về án phí dân sự thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.
[10] Án phí dân sự phúc thẩm: người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 309, Điều 319
Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ các Điều 124, Điều 131, Điều 328, Điều 408, Điều 500, Điều 562,
Điều 569, Điều 613, Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 168, khoản 1 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013;
16
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý,
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Ngọc H.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Hồng T1.
3. Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 80/2026/DS-ST ngày 21/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 15 – Thành phố Hồ Chí Minh:
3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Kim L đối
với bị đơn ông Nguyễn Ngọc H về việc “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền”:
Tuyên bố Hợp đồng ủy quyền s công chứng 9525, quyển số 11/2021
TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 (nay là Văn phòng C1) lập ngày
11/11/2021 giữa bà Trần Thị Kim L với ông Nguyễn Ngọc H vô hiệu.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Ngọc H đối
với nguyên đơn Trần Thị Kim L về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
3.3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Nguyễn Hồng T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, yêu cầu
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy văn bản phân chia di sản
thừa kế”.
Hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Huỳnh Thị H2 Nguyễn Hồng T1 ngày
14/12/2020.
Huỳnh Thị H2 trách nhiệm trả lại cho Nguyễn Hồng T1 số tiền
1.741.388.888 đồng (một tỷ bảy trăm bốn mươi mốt triệu ba trăm tám mươi tám
nghìn tám trăm tám mươi tám đồng).
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực cho đến khi thi hành án xong, bên phải
thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của stiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3.4. Vchi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc H chịu số tiền 4.972.609 đồng
chi phí xem t, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, sao lục hồ sơ, được khấu trừ
vào số tiền tạm ứng ông H đã nộp tại Tòa án.
3.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0009191 ngày 17/02/2025. Trả lại cho ông H số tiền tạm ứng án
phí n lại 11.400.000 đồng theo Biên lai thu tạm ng án phí, lệ phí Tòa án số
0009191 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương (nay Thi hành án dân sự Thành phố H) 300.000
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí a án số 0006092 ngày 29/7/2025
của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
17
Nguyễn Hồng T1 phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng)
được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ
phí Tòa án số 0006127 ngày 29/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ
Chí Minh. Trả lại cho Nguyễn Hồng T1 số tiền tạm ứng án phí còn lại
21.000.000 đồng.
Huỳnh Thị H2 thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Trả lại cho bà Trần Thị Kim L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số
0008808 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).
4. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được
trừ vào tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lphí Tòa án số
0029417 ngày 12/5/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trả lại cho Nguyễn Hồng T1 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), tạm
ứng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0029416 ngày
12/5/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 8 Điều 36 Luật
Thi hành án dân sự năm 2025, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS khu vực 15 – Thành phố
Hồ Chí Minh;
- TAND khu vực 15 – Thành phố Hồ C
Minh;
- Đương sự;
- Lưu: HS, VP (22), 72.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đinh Thị Mộng Tuyết
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1625/2026/DS-PT Bản án số 1625/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1625/2026/DS-PT Bản án số 1625/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất