Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 08/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 155/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 155/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 155/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 155/2025/DS-PT ngày 08/09/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp về thừa kế tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về thừa kế tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 155/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Sửa bản án sơ thẩm. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 155/2025/DS-PT
Ngày: 08/9/2025
V/v: Tranh chấp thừa kế, tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Lý Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Thái Nguyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Mai Duy Định;
Kiểm sát viên.
Ngày 08/9/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 61/2025/DS-PT ngày
26/6/2025 về việc kiện Tranh chấp thừa kế, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2025/QĐ-PT ngày 13/8/2025,
giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ A, phường H,
thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên); có mặt
Bị đơn: Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1955 và bà Lương Thị Bích Q, sinh năm
1959; nơi đăng ký thường trú: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; địa
chỉ hiện nay: Tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên; uỷ quyền cho anh Vũ Vinh Q1,
sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Văn bản
uỷ quyền ngày 04/02/2021); địa chỉ: Tổ A, phường G, tỉnh Thái Nguyên; nơi làm
việc: Bệnh viện Q4; số C, đường L, phường P, tỉnh Thái Nguyên; đều vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ Văn M, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt.
2. Bà Vũ Kim P, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Luật sư Đồng Huy H;
Trung tâm T7, V và Pháp luật; có mặt.
3. Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1961; uỷ quyền cho anh Vũ Tiến Đình B,
sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà G, tổ I, phường H, TP T, tỉnh Thái Nguyên; xin
xét xử vắng mặt.
4. Ông Vũ Văn C, sinh năm 1966, nơi đăng ký thường trú: Tổ I, phường P,
tỉnh Thái Nguyên; hiện đang cải tạo tại P, Trại giam P1 Bộ C2; vắng mặt; uỷ
quyền cho bà Vũ Kim P, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; có mặt.
5. Anh Nguyễn Minh C1, sinh năm 1991; nơi đăng ký thường trú: Tổ I,
phường H, TP T, tỉnh Thái Nguyên; nơi ở hiện nay: Số nhà B, ngách C L, ngõ L,
phường L, TP Hà Nội; uỷ quyền cho bà Vũ Kim P; có mặt
6. Anh Nguyễn Anh D, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ I, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; xin vắng mặt.
7. Chị Vũ Thị Phương T3, sinh năm 1984; địa chỉ hiện nay: Tổ A, phường
H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên);
vắng mặt.
8. Anh Vũ Vinh Q1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ A, phường G, tỉnh Thái
Nguyên; nơi làm việc: Bệnh viện Q4; số C, đường L, phường P, tỉnh Thái
Nguyên; vắng mặt.
9. Văn phòng C3; đại diện bà Bùi Thị H1 - Trưởng Văn phòng; địa chỉ:
Đường H, phường P, tỉnh Thái Nguyên; xin vắng mặt.
10. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T; địa chỉ: Số A đường H, phường
P, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo uỷ quyền: Ông Trịnh Văn T4 - Phó Giám đốc
văn phòng Đ2; xin vắng mặt.
11. Ủy ban nhân dân thành phố T; địa chỉ: Số A đường N, phường T, TP T,
tỉnh Thái Nguyên; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch UBND
phường P, tỉnh Thái Nguyên; đại diện theo uỷ quyền: Bà Phạm Thị Kim T5;
Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị; xin vắng mặt.
12. Phòng C4; Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; địa chỉ: Đường C, phường P,
tỉnh Thái Nguyên; đại diện: Bà Nguyễn Thị Thùy L;Trưởng phòng; xin vắng mặt
13. Bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1971 (vợ ông M); địa chỉ: Tổ A, phường P,
tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Mạnh D1, sinh năm 1964; địa chỉ: Xóm N, phường Q, tỉnh
Thái Nguyên; xin vắng mặt.
3. Anh Hoàng Hữu B1, sinh năm 1982; địa chỉ: Xóm S, phường Q, tỉnh
Thái Nguyên; xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Nguyên đơn ông Vũ Văn T trình bày:
Cụ Vũ Văn N (chết năm 1966) và cụ Nguyễn Thị Đ1 (chết năm 2010) sinh
được 6 người con là Vũ Văn T, Vũ Văn T1, Vũ Văn M, Vũ Kim P, Vũ Văn T2,
Vũ Văn C. Cụ Điều có thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m², loại đất
T tại tổ B cũ (nay là tổ A) phường H, thành phố T, UBND thành phố T cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/12/2001 mang tên Nguyễn Thị Đ1, tài
sản gắn liền với đất là 02 ngôi nhà cấp 4 cũ do cụ Đ1 xây dựng từ năm 1981.
Ngày 17/12/2002, cụ Đ1 gọi 6 anh em về để thông qua Bản di chúc có nội
dung chia mảnh đất tại thửa số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m² tại phường
H, thành phố T cho 4 người con là: T, M, T2, C, còn T1 và P đã được bố mẹ chia
cho mảnh đất khác từ năm 1986.
Tháng 4/2007, ông Vũ Văn T1 có đặt vấn đề với cụ Đ1 muốn xây nhà 2
tầng trên mảnh đất có diện tích 296m² mà mẹ đã lập di chúc chia cho 4 người
con để mẹ và các em ở tầng 1, còn tầng 2 để kinh doanh nhà trọ. Ông T1 cam
kết, sau khi cụ Đ1 chết, khối di sản của cụ Đ1 sẽ chia theo ý nguyện của cụ trong
di chúc lập ngày 17/12/2002. Ông T1 nói với cụ Đ1 phải chuyển quyền sử dụng
đất cho T1 thì mới xin được giấy phép xây dựng, nên cụ Đ1 đồng ý. Ý kiến đề
nghị của ông T1 đã được cụ Đ1 và 06 người con đồng ý và lập “Biên bản họp
gia đình”, sau đó cụ Đ1 và ông T1 xin xác nhận của ông Nguyễn Văn Q2 tổ phó
tổ 28 H vào ngày 09/4/2007 và xin xác nhận của UBND phường H ngày
27/4/2007. Nội dung “Biên bản họp gia đình” như sau: T1 làm nhà trên đất cho
mẹ và các anh em ở và kinh doanh nhà trọ, khi nào mẹ mất thì phải chia đất theo
di chúc của mẹ đã lập ngày 17/12/2002. Sau đó, cụ Đ1 ký Hợp đồng tặng cho
QSD đất cho ông Vũ Văn T1 và bà Lương Thị Bích Q vào ngày 20/4/2007, có
chữ ký của 4 người được hưởng di chúc. Tuy nhiên, sau khi ông T1, bà Q được
cấp bìa đỏ vào ngày 16/5/2007, đã không thực hiện đúng cam kết xây nhà như
thỏa thuận mà đem đi thế chấp vay 300.000.000 đồng của ông Nguyễn Tiến K và
bà Nguyễn Thị M1. Sau 01 năm, lãi và gốc là 750.000.000 đồng, ông T1 không
có khả năng trả nợ nên ngày 08/9/2009, vợ chồng T1, Q đã ký hợp đồng chuyển
nhượng QSD thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m² cho vợ chồng ông
K, bà M1. Ông K, bà M1 sau đó đã được cấp GCNQSD đất và mang thế chấp tại
Ngân hàng N2, chi nhánh tỉnh T để vay tiền, nhưng không thực hiện được nghĩa
vụ của bên vay, do đó đã bị ngân hàng khởi kiện. Tại bản án số 02/2018/KDTM-
PT ngày 11/9/2018 của TAND tỉnh Thái Nguyên đã nhận định: “ngôi nhà trên
thửa đất số 35 là tài sản của ông T, ông M, ông T2, ông C việc ngân hàng thực
hiện thủ tục thế chấp tài sản thửa đất 35… đăng ký bảo đảm ngày 09/10/2008
Ngân hàng không xuống thực địa do đó không có căn cứ xác định ngân hàng
ngay tình”. Vì vậy, bản án phúc thẩm đã tuyên hợp đồng thế chấp tài sản thửa
đất số 35 vô hiệu; tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản
trên đất giữa ông T1, bà Q cho ông K, bà M1 là vô hiệu.
Sau khi bản án có hiệu lực, ngày 16/3/2019 vợ chồng ông T1, bà Q đã cố
tình chuyển nhượng thửa đất số 35 của cụ Đ1 di chúc cho 4 anh em ông sang cho
anh Nguyễn Minh C1 con trai bà Vũ Kim P, hợp đồng được công chứng tại Văn
4
phòng C3 Anh C1 được cấp GCNQSD đất đối với thửa đất trên và tiếp tục ký
hợp đồng chuyển nhượng cho anh Nguyễn Anh D, được Sở tài nguyên môi
trường cấp GCNQSD đất ngày 24/11/2020 mang tên Nguyễn Anh D.
Kết quả giám định của phòng K1 Công an tỉnh T số 1026/KL-KTHS ngày
25/9/2024, kết luận chữ viết “Nguyễn Minh C1” trên hai hợp đồng chuyển
nhượng ngày 16/3/2019 được ký giữa ông T1, bà Q, chị T3, anh Q2, anh C1 và
hợp đồng ngày 16/7/2019 không phải do một người viết ra. Như vậy, có sự giả
mạo chữ ký trong hồ sơ chuyển nhượng của gia đình ông T1 cho anh C1 với sự
tiếp tay của Văn phòng C3 Vì vậy, việc anh C1 và anh D ký kết hợp đồng
chuyển nhượng QSD thửa đất số 35 là không ngay tình. Căn cứ khoản 2 Điều
133 BLDS năm 2015 và mục 1 phần II Công văn 64/TAND TC ngày 03/4/2019
của Tòa án nhân dân tối cao thì hai hợp đồng này vô hiệu.
Về Bản di chúc do cụ Đ1 lập ngày 18/4/2007 tại Phòng Công chứng số 01
tỉnh Thái Nguyên do bà Vũ Kim P giao nộp có nội dung sau khi cụ Đ1 chết ông
T1 được thừa kế QSD thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10 tại tổ B, phường H, thành
phố T (tài sản này cụ Đ1 đã lập di chúc ngày 17/12/2002 tặng cho ông T, ông
T2, ông M, ông C). Ông T cho rằng di chúc này không hợp pháp vì bản thân cụ
Đ1 không biết chữ, hai người làm chứng trong di chúc là ông Hoàng Hữu B1 và
ông Nguyễn Mạnh D1 đều khai không biết cụ Đ1, không đến Phòng C5 để làm
chứng cho di chúc của cụ Đ1, không rõ lý do gì lại có chữ ký của hai ông trong
trang hai Bản di chúc của cụ Đ1 lập tại Phòng C5. Ý chí của cụ Đ1 trong Bản di
chúc này mâu thuẫn với ý chí của cụ thể hiện trong đơn đề nghị ngày 21/4/2006,
biên bản họp gia đình ngày 08/4/2007 và nội dung bút phê của ông Trần Đức L1
ngày 27/4/2007 trong biên bản họp gia đình. Nếu ông T1 có Bản di chúc này thì
tại sao trong vụ tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N2 với ông K, bà
M1 ông T1 không xuất trình.
Ông T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSD đất ngày
20/4/2007 giữa bà Nguyễn Thị Đ1 và ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q vô
hiệu. Hủy GCNQSD đất UBND thành phố T cấp ngày 16/5/2007 mang tên hộ
ông Vũ Văn T1 và bà Lương Thị Bích Q; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất và tài sản trên đất ngày 16/3/2019 giữa ông T1, bà Q, chị T3, anh Q2 với anh
C1; Hủy GCNQSD đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/5/2019
mang tên Nguyễn Minh C1; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản
trên đất ngày 16/7/2019 giữa anh C1 với anh D1; Hủy GCNQSD đất Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 24/11/2020 mang tên Nguyễn Anh D;
Xác định di sản của cụ Đ1 là QSD thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích
296m² tại tổ A, phường H, thành phố T. Đề nghị chia di sản thừa kế của cụ Đ1
bằng hiện vật cho ông M, ông T, ông T2, ông C theo di chúc ngày 17/12/2002;
Tuyên bố 02 di chúc của cụ Nguyễn Thị Đ1 lập ngày18/4/2007 và ngày
05/4/2007 tại Phòng C4 tỉnh Thái Nguyên vô hiệu.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1, bà Q đồng thời là người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Vũ Vinh Q1) trong Bản tự khai ngày
11/12/2024 trình bày:
5
Do đây là vụ tranh chấp nội bộ gia đình nên anh không khai báo gì đề nghị
quý Tòa căn cứ các hồ sơ tài liệu chứng cứ hợp pháp trong hồ sơ vụ án để giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vũ Văn T1 tại Biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2007 trình bày:
Ông có biết về nội dung Bản di chúc của cụ Đ1 lập năm 2007 tại Phòng C4.
Tuy nhiên, ông không phải là người giữ di chúc này mà do bà Vũ Kim P cầm.
Nội dung di chúc, cụ Đ1 tặng cho ông thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích
296m
2
tại tổ 28 cũ (nay là tổ A) phường H, thành phố T. Sau đó cụ Đ1 lập hợp
đồng tặng cho ông toàn bộ thửa đất 35, theo ý kiến của cụ là để sau này các con
không tranh chấp. Đối với ông Nguyễn Mạnh D1 và ông Hoàng Hữu B1 thì ông
có quen biết vì cùng trong hội cây cảnh với nhau. Việc tại sao ông D1, ông B1
lại có tên là người làm chứng trong di chúc của cụ Điều năm 2007 lập tại Phòng
công chứng số 01 thì ông không nhớ do thời gian đã lâu. Việc ông D1, ông B1
cho rằng không làm chứng cho di chúc của cụ Đ1 có thể do thời gian đã lâu nên
hai người này không nhớ hoặc có thể sợ trách nhiệm không muốn khai báo hoặc
có thể chịu tác động bị mua chuộc bên ngoài nên không dám khai thực tế là đã
làm chứng cho di chúc của cụ Đ1. Bản thân vợ chồng ông và con gái đều đã
nhận được các văn bản tống đạt quyết định xét xử, hoãn phiên tòa của Tòa nhưng
vì lý do sức khỏe của ông và chị T3 bận công việc nên không đến phiên tòa.
Chị Vũ Thị Phương T3 trong Bản tự khai trình bày: Do đây là vụ tranh chấp
nội bộ gia đình nên chị không khai báo gì đề nghị quý Tòa căn cứ các hồ sơ tài
liệu chứng cứ hợp pháp trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp
luật.
Ông Vũ Văn M, đại diện theo ủy quyền anh Vũ Tiến Đình B trình bày:
Ông M, ông T2 giữ nguyên ý kiến như trong đơn yêu cầu độc lập, đồng ý
với yêu cầu khởi kiện của ông T và ý kiến tại phiên tòa của ông T, anh B đề nghị
Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Hợp đồng tặng cho QSD đất ngày 20/4/2007 giữa bà Nguyễn Thị
Đ1 và ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q vô hiệu; Hủy GCNQSD đất UBND
thành phố T cấp ngày 16/5/2007 mang tên hộ ông Vũ Văn T1 và bà Lương Thị
Bích Q; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản trên đất ngày
16/3/2019 giữa ông T1, bà Q, chị T3, anh Q1 và anh C1; Hủy GCNQSD đất Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 17/5/2019 mang tên Nguyễn Minh
C1; Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản trên đất ngày 16/7/2019
giữa anh C1 và anh D1. Hủy GCNQSD đất Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T
cấp ngày 24/11/2020 mang tên Nguyễn Anh D; Xác định di sản của cụ Đ1 là
QSD thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m² tại tổ A, phường H, thành
phố T, xác định Bản di chúc do cụ Đ1 lập ngày 17/12/2002 có hiệu lực; Đề nghị
chia di sản thừa kế của cụ Đ1 bằng hiện vật cho ông M, ông T, ông T2 và ông C
theo di chúc ngày 17/12/2002; Tuyên bố 02 di chúc của cụ Nguyễn Thị Đ1 lập
ngày18/4/2007 và ngày 5/4/2007 tại Phòng C4 tỉnh Thái Nguyên vô hiệu.
6
Ông Vũ Văn C trong Biên bản lấy lời khai ngày 27/12/2019 và Bản tự khai
ngày 20/7/2023 trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, ông xác định toàn bộ diện tích 296m²
trước đây khi cụ Đ1
còn sống có nói cho ông và ông T2. Sau đó đến năm 2006 -
2007 có nói ủy quyền cho ông T1 xây nhà để mọi người cùng ở, còn lại cho thuê
khi nào thu hồi vốn thì trả lại nhà cho các ông. Việc ông T1 làm thủ tục chuyển
toàn bộ QSD đất sang tên ông T1 là không đúng. Ông C xác định toàn bộ diện
tích đất 296m² trên đất có 4 ngôi nhà trong đó có một nhà cụ Đ1 xây năm 1981
hiện ông C đang ở (ông làm một dãy nhà trọ trên đất) còn lại 03 ngôi nhà đều do
ông xây dựng từ trước năm 2000 và các ông sinh sống từ đó đến nay không tranh
chấp gì. Toàn bộ diện tích đất và nhà cụ Đ1 cho 2 con ông là Vũ Diệp L2, sinh
năm 1991 và Vũ Thanh H2, sinh năm 2001 hiện ở cùng vợ cũ ông C là Vũ
Thanh H3 ly hôn năm 2007. Thửa đất ông T khởi kiện có nằm trên đất của ông
hay không thì ông không rõ.
Trong Bản tự khai ngày 20/7/2023, do trại giam P1 gửi cho Tòa án ông C
khai: Thửa số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m² thuộc tổ B, phường H, TP T,
tỉnh Thái Nguyên là do bà Nguyễn Thị Đ1 di chúc lại cho các con. Việc ông Vũ
Văn T khởi kiện tranh chấp phần di sản thừa kế và yêu cầu hủy bỏ GCNQSD đất
ông không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Anh D trình bày:
Ngày 16/7/2019, anh D và anh C1 đã lập hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
và tài sản trên đất đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m² tại tổ
A, phường H, thành phố T tại Văn phòng C3 Ngày 24/11/2020, Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh T cấp GCNQSD đất mang tên Nguyễn Anh D. Anh không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T và yêu cầu độc lập của ông T2, ông M đề
nghị tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng giữa anh C1 với anh là vô hiệu và hủy
GCNQSD đất đã cấp cho anh vì việc chuyển nhượng giữa anh và anh C1 là hợp
pháp.
Tuy nhiên, do kết quả giám định thể hiện chữ ký của anh C1 trong hợp
đồng chuyển nhượng giữa gia đình ông T1 và anh C1 là giả, nếu Hội đồng xét xử
tuyên Hợp đồng chuyển nhượng ngày 16/7/2019 giữa anh C1 với anh vô hiệu, đề
nghị anh C1, bà P và Văn phòng C3 có trách nhiệm bồi thường do hợp đồng bị
vô hiệu cho anh theo giá thị trường của thửa số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296
m² đã được Chi nhánh thẩm định giá và đấu giá Việt Bắc định giá là
4.400.000.000 đồng. Trong phiên hòa giải, anh yêu cầu mỗi bên bồi thường
2.200.000.000 đồng vì bà P đã thừa nhận việc gây ra thiệt hại và đồng ý thỏa
thuận bồi thường, chính vì vậy anh đã nhận của bà P 1.643.000.000 đồng tiền bồi
thường, số tiền còn thiếu bà P cam kết trả hết. Tại phiên tòa do bà P thay đổi lời
khai, bà P và bà H1 đều không thừa nhận việc gây ra thiệt hại cho anh và không
thỏa thuận được việc bồi thường nên anh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Bà Vũ Kim P trình bày:
7
Thửa đất 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m
2
là của mẹ bà cụ Điều cho ông
Vũ Văn T1, bà P không có tên trong di chúc năm 2002. Bà đại diện cho ông C,
anh C1 không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, yêu cầu độc lập của
ông M, ông T2 về yêu cầu chia di sản thừa kế theo di chúc năm 2002 đối với
thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10; Hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa gia đình ông
T1 với anh C1, giữa anh C1 với anh D. Việc cụ Đ1 đã tặng cho ông T1, ông T1
đã chuyển nhượng thửa đất trên cho anh C1 con trai bà đúng quy định. Ngày
18/4/2007, tại Phòng công chứng số A tỉnh Thái Nguyên, cụ Đ1 lập Bản di chúc
tặng cho ông T1 toàn bộ thửa đất số số 35, tờ bản đồ số 10, sau đó cụ Đ1 làm văn
bản tặng cho ông T1, ông T1 đã được cấp GCNQSD đất sau đó ông T1 chuyển
nhượng lại cho anh C1. Ngày 07/5/2025, bà đã nộp cho Tòa án di chúc của cụ
Đ1 lập ngày 05/4/2007 tại Phòng C5, di chúc này cụ Đ1 cho các con là C, T1, M,
T2 thửa đất số 35, hai di chúc này đều hợp pháp.
Bà P thừa nhận chữ ký “C1- Nguyễn Minh C1” trong hợp đồng chuyển
nhượng giữa ông T1, bà Q, anh Q1, chị T3 cho anh C1 là của bà ký và viết thay
cho anh C1 vì anh C1 đau tay. Chữ ký “C1- Nguyễn Minh C1” trong hợp đồng
chuyển nhượng cho anh D là của anh C1. Chữ viết trong di chúc năm 2002 của
cụ Đ1 do ông T1 viết, còn chữ viết trong Bản di chúc ngày 5/4/2007 của cụ Đ1
lập tại Phòng C5 tỉnh Thái Nguyên thì bà không biết là của ai. Cả hai di chúc
ngày 18/4/2007 và di chúc ngày 5/4/2007 bà tìm thấy sau khi cụ Đ1 mất và bà
giữ hai di chúc này từ đó đến nay những anh chị em khác trong gia đình không
biết. Bà P đề nghị Hội đồng xét xử công nhận di chúc ngày 18/4/2007 có hiệu
lực pháp luật. Về tài sản trên thửa đất số 35 gồm 03 ngôi nhà cấp 4, theo bà đều
là của ông C xây dựng mà không phải của ông M, ông T2 như lời khai của ông
T, ông M, anh B.
Đối với yêu cầu độc lập của anh D, trong phiên hòa giải bà đồng ý bồi
thường cho anh D 2.200.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà thay đổi lời khai đề
nghị hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa anh C1 với anh D. Lý do anh C1 ký hợp
đồng chuyển nhượng cho anh D là để thế chấp cho khoản tiền 800.000.000 đồng
bà đã vay của anh D. Số tiền 1.643.000.000 đồng bà đã trả cho anh D để anh D
chuyển nhượng lại thửa đất cho bà hoặc anh C1 với giá thỏa thuận là
2.200.000.000 đồng không phải tiền bồi thường, hiện còn thiếu 557.000.000
đồng. Về yêu cầu của anh D đề nghị Văn phòng C3 bồi thường 2.200.000.000
đồng thì bà không có ý kiến gì.
Văn phòng C3 trình bày:
Tại thời điểm công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa gia đình
ông T1 với anh C1 và hợp đồng chuyển nhượng giữa anh C1 với anh D các bên
đã đến Văn phòng C3 yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
và tài sản gắn liền với đất là đúng quy trình, trình tự Luật Công chứng. Do tại
thời điểm đó, Văn phòng công chứng không biết việc lập hợp đồng chuyển
nhượng để che giấu một giao dịch khác là giao dịch vay mượn tiền giữa gia đình
anh Nguyễn Minh C1 (mẹ đẻ là bà Vũ Kim P) với anh D đã thỏa thuận trước đó
8
nên văn phòng C3 đã công chứng hợp đồng số 1554 quyển số 01 chứng nhận
ngày 16/7/2019 tại văn phòng C3 theo đúng trình tự quy định pháp luật.
Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, thụ lý bổ sung vụ án tranh chấp thừa kế và hủy
quyết định cá biệt. Thông qua lời khai của các đương sự bà P có hình ảnh chuyển
lãi hàng tháng cho anh D, văn phòng công chứng mới được biết việc chuyển
nhượng QSD đất và tài sản trên đất giữa anh C1 và anh D là là giả tạo không
phải ý chí chuyển nhượng của hai bên. Thực chất, việc thiết lập hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất là nhằm che giấu cho giao dịch vay tiền. Hợp đồng chuyển
nhượng giữa ông C1 và ông D là hợp đồng giả cách, đề nghị Tòa án căn cứ Điều
124 BLDS để giải quyết theo hướng “Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo”.
Trong quá trình làm hợp đồng chuyển nhượng văn phòng công chứng không biết
về giao dịch vay mượn tiền. Việc văn phòng công chứng thực hiện công chứng
theo quy định pháp luật là do cả hai bên đã lừa dối văn phòng công chứng. Do
vậy, yêu cầu bồi thường của anh D là không có căn cứ pháp luật. Bà P đã thừa
nhận có việc vay mượn tiền và trả lãi hàng tháng thì đề nghị Tòa án xác minh
nếu lãi suất vượt quá 20%/năm thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật. Bà đã cho bà P vay tiền để trả cho anh D một phần.
Đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố T (ông Đặng Quang N1)
trong Công văn số 1642/ TNMT-CG ngày 26/11/2024 trình bày:
Ngày 20/12/2001, hộ bà Nguyễn Thị Đ1 được UBND thành phố T cấp
GCNQSD 296m
2
đất T tại thửa số 35, tờ bản đồ địa chính số10 phường H, thành
phố T. Năm 2007, bà Đ1 (phần hợp đồng tặng cho phần ghi có vợ chồng ông Vũ
Văn N mất năm 1966) tặng cho QSD đất và tài sản gắn liền với đất cho ông Vũ
Văn T1 và bà Lương Thị Bích Q, hợp đồng được UBND phường H chứng thực
ngày 20/4/2007. Ngày 08/5/2007, Phòng T8 đã có phiếu chuyển địa chính để xác
định nghĩa vụ tài chính giữa bà Đ1 và ông T1, bà Q gửi Chi cục Thuế thành phố
T. Ngày 09/5/2007, C đã có thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất. Số tiền phải
nộp được miễn. Ngày 26/5/2007, UBND thành phố T đã cấp GCNQSD đất mang
tên ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q. Từ nội dung trên cho thấy GCNQSD
đất UBND thành phố T cấp ngày 26/5/2007 mang tên ông T1 bà Q theo quy định
của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
Đại diện theo pháp luật của Phòng C4 tỉnh Thái Nguyên (bà Nguyễn Thị
Thùy L) trong bản ý kiến số 51/CV-CC1 ngày 31/3/2025 trình bày:
Căn cứ sổ công chứng hợp đồng giao dịch năm 2007 và hồ sơ lưu trữ tại
Phòng Công chứng số A tỉnh Thái Nguyên được thể hiện như sau: Di chúc công
chứng số 48, quyền số 01 ngày 18/4/2007 được lập bởi bà Nguyễn Thị Đ1 do
Công chứng viên Bùi Thị H1 chứng nhận.
Về hồ sơ yêu cầu công chứng gồm các giấy tờ sau: GCNQSD đất số U
787423 do UBND thành phố T cấp ngày 21/12/2001 mang tên Nguyễn Thị Đ1;
Giấy tờ tùy thân bao gồm Chứng minh nhân dân của bà Nguyễn Thị Đ1, ông
Nguyễn Mạnh D1, ông Hoàng Hữu B1; Sổ hộ khẩu số 1617 (chủ hộ bà Nguyễn
Thị Đ1). Về tài sản tham gia giao dịch theo quy định của Luật Đất đai 2003 tại
thời điểm công chứng QSD đất không có tranh chấp không bị kê biên để bảo
9
đảm thi hành án. Về trình tự thủ tục công chứng, đã đảm bảo đúng hồ sơ, trình tự
thủ tục Luật Công chứng năm 2006. Di chúc của bà Đ1 lập đã được công chứng.
Như vậy, di chúc có hiệu lực đối với các bên. Nếu có căn cứ cho rằng việc công
chứng có vi phạm pháp luật thì một trong các bên có thể đề nghị Tòa án tuyên bố
văn bản công chứng vô hiệu theo quy định tại Điều 45 Luật Công chứng 2006.
Người làm chứng anh Hoàng Hữu B1 trong Bản tự khai, Biên bản lấy lời
khai ngày 20/3/2025, Biên bản đối chất trình bày:
Trước đây anh có mối quan hệ làm ăn với ông Vũ Văn T1, ông T1 mua cây
cối của anh. Còn cụ Nguyễn Thị Đ1 thì anh không biết là ai và cũng chưa được
gặp. Đối với chữ ký chữ viết “Bắc – H” dưới mục nhân chứng trên trang 02 của
di chúc đề ngày 18/4/2007 là chữ ký chữ viết của anh nhưng anh khẳng định bản
thân không quen biết gì với cụ Nguyễn Thị Đ1, mẹ đẻ của ông Vũ Văn T1,
không biết gì về nội dung di chúc đề ngày 18/4/2007, cũng không đến Phòng
công chứng số 01 để làm chứng cho di chúc của cụ Đ1, từ trước đến nay anh
cũng không tham gia làm chứng cho bất cứ di chúc nào của cụ Nguyễn Thị Đ1,
không biết lý do gì mà ông T1 có được chữ ký, chữ viết tên của anh trong Bản di
chúc ngày 18/4/2007 lập tại Phòng C5.
Đối với Bản di chúc đề ngày 05/4/2007 của cụ Đ1 lập tại Phòng C5 mà Hội
đồng xét xử cho anh xem tại phiên tòa, anh thấy nhiều điểm vô lý vì anh không
quen biết cụ Đ1 chỉ biết ông T1, anh không làm chứng hay ký vào di chúc nào
của cụ Đ1, không biết vì sao lại có chữ ký của anh trên di chúc và Chứng minh
nhân dân phô tô của anh trong hồ sơ di chúc, có thể trước đây khi làm ăn với ông
T1 anh đã từng phô tô đưa cho ông T1 còn ông T1 sử dụng vào mục đích gì anh
không biết.
Người làm chứng ông Nguyễn Mạnh D1 trong Biên bản lấy lời khai ngày
20/3/2025, Biên bản đối chất và tại phiên tòa trình bày:
Ông không quen biết cụ Nguyễn Thị Đ1 và chưa từng gặp cụ Đ1. Trước
đây ông có quan hệ làm ăn với ông Vũ Văn T1. Theo ông, chữ ký chữ viết dưới
mục nhân chứng “Nguyễn Mạnh D1” của di chúc đề ngày 18/4/2007 là chữ ký
chữ viết của ông. Tuy nhiên, ông khẳng định bản thân không quen biết gì với cụ
Nguyễn Thị Đ1, mẹ đẻ của ông T1, không biết gì về nội dung di chúc, ông cũng
không đến Phòng C4 để làm chứng cho di chúc của cụ Điều ngày 18/4/2007.
Ông không biết lý do gì mà ông T1 có được chữ ký, chữ viết tên của ông trong
trang 2 Bản di chúc. Ông khẳng định từ trước đến nay ông không làm chứng cho
bất cứ di chúc nào của cụ Nguyễn Thị Đ1 là mẹ đẻ ông T1.
Đối với Bản di chúc đề ngày 5/4/2007 của cụ Đ1 lập tại Phòng C5 Hội đồng
xét xử cho ông xem tại phiên tòa, ông khẳng định không quen biết cụ Đ1 chỉ biết
ông T1 nên không làm chứng hay ký vào di chúc nào của cụ Đ1, không biết vì
sao lại có chữ ký của ông trên di chúc và Chứng minh nhân dân của ông trong hồ
sơ di chúc này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
10
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn T, yêu cầu độc
lập của ông Vũ Văn M, Vũ Văn T2.
- Tuyên bố hợp đồng tặng cho QSD đất đề ngày 20/4/2007 giữa bà Nguyễn
Thị Đ1 và ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q hết hiệu lực.
- Tuyên bố hợp đồng Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền
với đất ngày 16/3/2019 giữa ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q, chị Vũ Thị
Phương T3, anh Vũ Vinh Q1 với anh Nguyễn Minh Công L3 tại Văn phòng C3 là
vô hiệu. Không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu do các đương sự không
có đơn yêu cầu.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất và tài sản gắn liền với đất
ngày 16/7/2019 giữa anh Nguyễn Minh C1 với anh Nguyễn Anh D lập tại Văn
phòng C3 vô hiệu. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu: Buộc Văn phòng C3 bồi
thường cho anh Nguyễn Anh D số tiền là 1.146.667.000 đồng (Một tỷ một trăm
bốn mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng). Buộc anh Nguyễn Minh
C1 và bà Vũ Kim P phải hoàn trả và bồi thường cho anh D tổng cộng là
3.293.333.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 1.643.000.000 đồng đã bồi
thường trước, anh C1 và bà P còn phải tiếp tục bồi thường 1.650.333.000 đồng,
trong đó, phần mỗi người là 825.166.500 đồng (T6 trăm hai mươi lăm triệu một
trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
Buộc bà P và anh D phải giao nộp GCNQSD đất số DA 121086 do Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 24/11/2020 mang tên Nguyễn Anh D cho
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T để làm thủ tục chỉnh lý biến động theo quy
định.
2. Tuyên bố Di chúc của cụ Nguyễn Thị Đ1 lập ngày 18/4/2007 và Di chúc
của cụ Nguyễn Thị Đ1 lập ngày 05/4/2007 đều tại Phòng Công chứng số 01 tỉnh
Thái Nguyên (hồ sơ công chứng số 48; 40) là vô hiệu.
3. Xác định di sản của cụ Nguyễn Thị Đ1 là quyền sử dụng thửa đất số 35,
tờ bản đồ số 10, diện tích thực tế còn lại là 292,4m², loại đất thổ cư tại tổ A,
phường H, thành phố T (theo GCNQSD đất số U 787423 do UBND thành phố T
cấp ngày 21/12/2001 mang tên Nguyễn Thị Đ1). Vị trí thửa đất số 35 theo sơ đồ
từ 1, 2, B, C, D, E, 6, 1. Chia di sản thừa kế theo di chúc của cụ Đ1 lập ngày
17/12/2002 có chứng thực của UBND phường H, cho ông Vũ Văn T, Vũ Văn C,
Vũ Văn T2 và Vũ Văn M, cụ thể như sau:
+ Phần đất của ông C được thừa kế theo di chúc là một phần thửa 35, tờ
bản đồ số 10, có diện tích là 109,6m
2
, loại đất thổ cư, trị giá 1.644.000.000 đồng
(Một tỷ sáu trăm bốn mươi bốn triệu đồng). Vị trí theo các điểm 8,9,10,11,8
Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông T
Phía Nam giáp đường giao thông đi vào xóm
Phía Đông giáp thửa 123
Phía Tây giáp đường giao thông đi vào nhà bà P, ông T
11
- Trên đất có một nhà cấp 4 một tầng diện tích 65,5m
2
đã cũ nát, không có
mái, hết khấu hao không còn giá trị sử dụng, không ai ở.
+ Phần đất của ông T được thừa kế theo di chúc là một phần thửa 35, tờ
bản đồ số 10, có diện tích là 54,9m
2
, loại đất thổ cư, trị giá 823.500.000 đồng
(T6 trăm hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Vị trí theo các điểm 6,7,8,9,6
Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông M
Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông C
Phía Đông giáp thửa 123
Phía Tây giáp đường giao thông đi vào nhà bà P, ông T
- Trên đất có một nhà trọ cấp 4 một tầng diện tích 15,6m
2
, mái lợp proxi
măng
đã cũ nát, hết khấu hao trước đây là của cụ Đ1 xây dựng hiện không ai ở.
+ Phần đất của ông M được thừa kế theo di chúc là một phần thửa 35, tờ
bản đồ số 10, có diện tích là 54,9m
2
, loại đất thổ cư, trị giá 823.500.000 đồng
(T6 trăm hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng). Vị trí theo các điểm 4,5,6,7,4
Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông T2
Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông T
Phía Đông giáp thửa 36
Phía Tây giáp đường giao thông đi vào nhà bà P, ông T
- Trên đất có một phần nhà cấp 4 một tầng diện tích 25,7m
2
đã cũ nát do
ông C xây dựng, hiện ông T2 đang ở và một phần nhà cấp 4 của ông M xây dựng
diện tích 8,2m
2
+ Phần đất của ông T2 được thừa kế theo di chúc là một phần thửa 35, tờ
bản đồ số 10, có diện tích là 73m
2
, loại đất thổ cư, trị giá 1.095.000.000 đồng
(Một tỷ không trăm chín mươi lăm triệu đồng). Vị trí theo các điểm 1,2,3,4,5,1
Phía Bắc giáp thửa 118 của bà P
Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa 35 chia cho ông M
Phía Đông giáp thửa 36
Phía Tây giáp đường giao thông đi vào nhà bà P, ông T
- Trên đất có một phần nhà cấp 4 một tầng diện tích 34,6m
2
của ông M xây
dựng đã cũ nát hiện đang do anh B sử dụng.
(Kèm theo trích đo hiện trạng của Công ty TNHH H4 và sơ đồ thửa đất
được phân chia).
- Ông T, ông M, ông T2, ông C có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm
quyền để làm thủ tục cấp GCNQSD đất.
Các tài sản trên đất đã cũ nát, xuống cấp, hết khấu hao nên các đương sự
được quyền phá bỏ để thực hiện việc chia thừa kế theo di chúc mà không phải
bồi thường.
12
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, lãi suất chậm thi hành
án và quyền kháng cáo.
Ngày 03/6/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Kim P, anh
Nguyễn Minh C1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; ngày 05/6/2025, bị
đơn ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Vũ Văn C, đại diện theo uỷ quyền bà Vũ Kim P; anh Vũ Vinh Q1, chị
Vũ Thị Phương T3 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Nội dung kháng cáo,
những người kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án dân sự
sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên để giải quyết lại.
Ngày 04/6/2025, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Anh D,
văn phòng C3 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo anh D cho
rằng, giữa anh D, bà P, văn phòng C3 đang thoả thuận với nhau về vấn đề bồi
thường, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận thoả thuận
về bồi thường giữa các đương sự. Nội dung kháng cáo văn phòng C3 đề nghị
xem xét lại mức bồi thường.
Ngày 19/8/2025, văn phòng C3 và anh Nguyễn Anh D rút đơn kháng cáo và
xin vắng mặt.
Tại phiên toà phúc thẩm, những người kháng cáo gồm: Ông T1, bà Q, anh
Q1, chị T3 vắng mặt; bà P, anh C1, ông C, đại diện theo uỷ quyền là bà P giữ
nguyên nội dung đơn kháng cáo và giữ nguyên quan điểm trình bày tại Toà án
cấp sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc
thẩm đối với kháng cáo của văn phòng C3 và anh Nguyễn Anh D do rút đơn
kháng cáo và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những người kháng cáo được
triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt; không chấp nhận kháng cáo của bà
P, ông C, anh C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe
đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xt xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Ngày 19/8/2025, Văn phòng C3 và anh Nguyễn Anh D có đơn rút đơn
kháng cáo. Căn cứ khoản 2 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của của văn phòng C3 và
anh Nguyễn Anh D. Phần bản án dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày
22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về
13
giải quyết hợp đồng vô hiệu giữa văn phòng C3 với anh Nguyễn Anh D có hiệu
lực pháp luật.
[2] Bị đơn ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan anh Vũ Vinh Q1, chị Vũ Thị Phương T3 có đơn kháng cáo, đã được
triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt. Ông T1 có đơn xin hoãn phiên toà, lý do
phải nhập viện điều trị. Tuy nhiên, ông T1, bà Q đã uỷ quyền cho anh Q1 tham
gia tố tụng, anh Q1 vắng mặt lần 02 không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 289
Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng
cáo của ông T1, bà Q, anh Q1, chị T3.
[3] Bà Vũ Kim P, ông Vũ Văn C, đại diện theo uỷ quyền bà Vũ Kim P, anh
Nguyễn Minh C1 kháng cáo trong hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc
thẩm.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của các
đương sự, Hội đồng xét xử thấy:
[4] Ngày 21/12/2001, cụ Nguyễn Thị Đ1 được UBND thành phố T cấp
GCNQSD thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296m
2
tại phường H, thành
phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Theo biên bản họp gia đình ngày 08/4/2007, được Tổ dân phố xác nhận
ngày 09/4/2007, UBND phường H xác nhận ngày 27/4/2007, nội dung, cụ Đ1 và
tất cả các con gồm T1, P, T2, C đã thống nhất sang tên thửa đất số 35, tờ bản đồ
số 10 cho ông Vũ Văn T1, mục đích để ông T1 xây thành nhà chung cho các anh
em cùng ở và để kinh doanh, sau khi cụ Đ1 chết sẽ chia phần tài sản trên theo
đúng ý nguyện của cụ Đ1. Ngày 20/4/2007, cụ Đ1 ký hợp đồng tặng cho QSD
đất cho ông T1, bà Q, ngày 16/5/2007 UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho ông T1, bà Q. Thời điểm cấp GCNQSD đất cho ông T1,
bà Q trên thửa đất số 35 có các ngôi nhà của ông C, ông M, ông T2 xây dựng.
UBND thành phố T cấp GCNQSD đất cho ông T1, bà Q đối với thửa đất thửa
35, tờ bản đồ số 10 trong khi trên đất có tài sản là nhà ở của ông C, T2, M đã tạo
dựng từ trước là chưa đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông T1 bà Q đã
chuyển nhượng thửa đất số 35 cho ông Nguyễn Tiến K, bà Nguyễn Thị M1, ông
K, bà M1 đã thế chấp thửa đất số 35 cho Ngân hàng N2, Chi nhánh T để vay
tiền.
[5] Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, quyền sở hữu nhà, giữa nguyên đơn Ngân
hàng N2 với bị đơn ông Nguyễn Tiến K, bà Nguyễn Thị M1, ông Vũ Văn T1, bà
Lương Thị Bích Q, đại diện theo uỷ quyền ông Vũ Vinh Q1 trình bày:
Thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích 296 m2, thuộc tổ B, phường H,
thành phố T có nguồn gốc của cụ Nguyễn Thị Đ1, mẹ đẻ ông T1. Tại biên bản
họp gia đình ngày 08/4/2007, cụ Đ1 và tất cả các con cụ Đ1 đã thống nhất sang
tên thửa đất nêu trên cho con trai là ông Vũ Văn T1, để xây thành nhà chung cho
14
các anh em cùng ở và để kinh doanh, đồng thời sau khi cụ Đ1 mất sẽ chia phần
tài sản trên theo đúng ý nguyện của cụ Đ1. Ngày 16/5/2007, UBND thành phố T
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Vũ Văn T1 bà Lương Thị
Bích Q thửa đất nêu trên. Về tài sản trên đất có 01 căn nhà cấp 4 mái ngói do cụ
Đ1 và các con xây dựng năm 1981, một dãy nhà trọ 03 phòng và bếp do ông Vũ
Văn C, em trai ông T1 xây năm 1996, 01 căn nhà cấp 4 mái lợp Proxi măng do
ông Vũ Văn M xây năm 2002.
[6] Tại Bản án số 02/2028/KDTM-ST ngày 22/5/2018 của TAND thành
phố Thái Nguyên và Bản án 02/2018/KDTM-PT ngày 11/9/2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, quyền sở hữu nhà giữa nguyên đơn
Ngân hàng N2 và bị đơn ông Nguyễn Tiến K, bà Nguyễn Thị M1 đã nhận định:
Hợp đồng tặng cho tài sản giữa cụ Đ1 cho ông T1, bà Q đối với thửa đất 35,
tờ bản đồ số 10 là hợp đồng có điều kiện, ông T1 bà Q chỉ là người đứng tên trên
GCNQSD đất mà không có quyền chuyển nhượng thửa đất cho người khác. Vì
vậy, quyết định của bản án đã tuyên hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông
T1, bà Q với ông K, bà M1 đối với thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích
296m
2
vô hiệu toàn bộ do vi phạm điều cấm của luật, xác định hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng thửa đất số 35 giữa ông K, bà M1 cho Ngân hàng vô hiệu do
không ngay tình và hủy GCNQSD đất UBND thành phố T cấp cho ông K, bà
M1.
[7] Lời khai của ông T1, bà Q, đại diện theo uỷ quyền là anh Q1 đã khai
nhận và Bản án đã quyết định như nêu trên, tuy nhiên ngày 16/3/2019, ông T1,
bà Q, chị T3, anh Q1 vẫn tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 35
cho anh C1 là vi phạm điều cấm của pháp luật. Ngày 16/7/2019, anh C1 tiếp tục
chuyển nhượng thửa đất cho anh D, trong khi tài sản trên đất thuộc quyền sử
dụng của người khác là vô hiệu, không ngay tình. Toà án cấp sơ thẩm xác định
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 35 giữa ông T1, bà Q với
anh C1 và Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 35 giữa anh C1 với anh D vô
hiệu là có căn cứ.
Về yêu cầu khởi kiện thừa kế theo di chúc của nguyên đơn:
[8] Di chúc của cụ Đ1 lập ngày 17/12/2002, nội dung di chúc thể hiện: “Di
chúc được lập tại gia đình ngày 17/12/2002”, phần trang 2 di chúc có chữ ký,
chữ viết “Điều – Nguyễn Thị Đ1” dưới mục ngày 17/12/2002, có xác nhận của
ông Dương B2 là tổ trưởng tổ 28 phường H vào ngày 17/12/2002, nội dung “số
đất của cụ Đ1 sử dụng đã lâu năm và đã hợp thức hóa trên bìa đỏ gia đình… di
chúc này do cụ Đ1 làm tại gia đình”, phần trang 3 có sơ đồ, chữ ký cụ Đ1 và nội
dung chứng thực của UBND phường H, thành phố T vào ngày 17/12/2002. Về
nội dung di chúc có ghi: “Phần đất cho các con tôi là Vũ Văn T1 và Vũ Kim P từ
trước là hợp pháp không tính ở đây… III, phần đất trong bìa sẽ chia như sau và
theo các điều kiện sau: Nếu trường hợp có đứa con nào không lấy hoặc không
đồng ý với di nguyện của tôi thì sẽ truất quyền thừa kế của chúng và sẽ sang tên
cho cháu nội tôi là Vũ Vinh Q1 để làm nơi thờ cúng của gia đình… phần của ba
15
con là Vũ Văn T, Vũ Văn C, Vũ Văn T2 chỉ được phép bán sau khi tôi chết tối
thiểu là 5 năm, chia như sau: Cho con út Vũ Văn C 10m chiều ngang cùng toàn
bộ nhà cửa trên đất; cho con Vũ Văn T 5m chiều ngang cùng toàn bộ nhà cửa
trên đất; cho con thứ 5 Vũ Văn Tuấn 5m chiều ngang cùng toàn bộ nhà cửa trên
đất; Phần còn lại cho con thứ 3 là Vũ Văn M”.
Bà P, ông T, ông M, ông T2 đều thừa nhận chữ viết nội dung di chúc là của
ông T1, cụ Đ1 là người ký vào di chúc, tại thời điểm làm di chúc ông T1 không
phải là người hưởng di sản nên việc viết hộ di chúc không vi phạm quy định của
Bộ luật Dân sự. Giữa các trang đều có chữ ký của cụ Đ1, cụ Đ1 là người mang di
chúc đến UBND phường H và trực tiếp ký tại trang sổ Ủy ban sau khi nghe đọc
lại, vì vậy tại thời điểm lập di chúc cụ Đ1 hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, thể hiện
ý chí của cụ. Các đương sự đều thừa nhận (phần đất trong bìa) ghi trong phần III
di chúc phân chia cho ông T, ông T2, ông C, ông M là thửa 35, tờ bản đồ số 10,
diện tích 296m
2
tại phường H mà cụ Đ1 đã được cấp GCNQSD đất. Như vậy, di
chúc của cụ Đ1 lập ngày 17/12/2002 về hình thức và nội dung đều đảm bảo theo
quy định tại Điều 655 đến 661 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Điều 50 Nghị định
75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính Phủ về công chứng, chứng thực,
nên di chúc này là hợp pháp.
[9] Về 02 bản di chúc lập ngày 05/4/2007 và ngày 18/4/2007 tại Phòng C4
tỉnh Thái Nguyên do bà P xuất trình:
Ngày 12/3/2025, bà Vũ Kim P giao nộp cho Tòa án Bản di chúc của cụ Đ1
đề ngày 18/4/2007 được lập tại Phòng C4 do Công chứng viên Bùi Thị H1 thực
hiện. Nội dung di chúc thể hiện: cụ Nguyễn Thị Đ1 di chúc để lại cho con trai
thứ hai là ông Vũ Văn T1 toàn bộ thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10, diện tích
296m
2
loại đất thổ cư tại tổ B, phường H, thành phố T theo GCNQSD đất số U
787423 do UBND thành phố T cấp ngày 21/12/2001 mang tên Nguyễn Thị Đ1.
Ngày 07/5/2025, bà P lại tiếp tục nộp Bản di chúc đề ngày 05/4/2007 được
lập tại Phòng C4 do Công chứng viên Bùi Thị H1 thực hiện. Di chúc được viết
trên giấy kẻ ngang, gồm 4 trang, trang 1, 2, 3, được viết tay bằng hai nét chữ
khác nhau, trang 4 là lời chứng Công chứng viên. Trang 1 và một phần trang 2 là
nội dung di chúc thể hiện: Cụ Điều để lại thừa kế QSD đất số U787423, diện tích
296m
2
tại tổ B, phường H cho ông C, ông T1, ông T2, ông M.
[10] Hội đồng xét xử thấy, tại Biên bản họp gia đình ngày 08/4/2007, được
Tổ dân phố xác nhận ngày 09/4/2007, UBND phường H xác nhận ngày
27/4/2007, ngày 20/4/2007 UBND phường H chứng thực hợp đồng tặng cho
QSD đất giữa cụ Đ1 với ông T1, bà Q, nội dung cụ Đ1 và tất cả các con gồm T1,
P, T2, C thống nhất sang tên thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10 cho ông Vũ Văn T1,
mục đích để ông T1 xây thành nhà chung cho các anh em cùng ở và để kinh
doanh, sau khi cụ Đ1 chết sẽ chia phần tài sản trên theo đúng ý nguyện của cụ
Đ1. Nhưng 02 bản di chúc do bà P xuất trình được công chứng ngày 18/4/2007
và ngày 05/4/2007 đều trước thời điểm UBND phường xác nhận vào biên bản
họp gia đình và trước thời điểm cụ Đ1 ký hợp đồng tặng cho ông T1, bà Q. Vì
vậy, 02 bản di chúc này không có giá trị, vì tài sản sau đó đã được cụ Đ1 tặng
16
cho ông T1 có điều kiện theo Biên bản họp gia đình ngày 08/4/2007. Toà án cấp
sơ thẩm công nhận bản Di chúc của cụ Đ1 lập ngày 17/12/2002, nội dung phù
hợp với Biên bản họp gia đình ngày 08/4/2007 để chia di sản thừa kế của cụ Đ1
là quyền sử dụng thửa đất số 35, tờ bản đồ số 10 theo di chúc là có căn cứ.
Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
[11] Ông T1, bà Q, bà P đều biết thửa đất số 35 là di sản của cụ Đ1, phải
thực hiện theo di chúc của cụ Đ1 lập ngày 17/12/2002 và Biên bản họp gia đình
ngày 08/4/2007, cũng như quyết định của bản án Kinh doanh thương mại về việc
tranh chấp hợp đồng tín dụng theo đơn khởi kiện của Ngân hàng, nhưng ông T1,
bà Q, bà P vẫn lập hợp đồng chuyển nhượng sang tên cho anh C1 là con trai bà
P, bà P là người ký thay tên anh C1 trong hợp đồng. Sau đó, bà P, anh C1 tiếp
tục chuyển nhượng thửa đất cho anh Nguyễn Anh D. Toà án cấp sơ thẩm xác
định Văn phòng C3 phải chịu 1/3 lỗi tương ứng với 1.146.667.000 đồng (bà H1
rút đơn kháng cáo, Hội đồng xét xử không xem xét); bà P, anh C1 phải trả số tiền
01 tỷ đồng và chịu 2/3 lỗi, tổng cộng là 3.293.333.000 đồng, trừ đi số tiền
1.643.000.000 đồng đã bồi thường, còn phải bồi thường tiếp 1.650.333.000 đồng
là phù hợp, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà P, anh C1.
[12] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không
có căn cứ chấp nhận kháng cáo các đương sự; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm
số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên,
tỉnh Thái Nguyên.
Về án phí:
[13] Án phí phúc thẩm: Văn phòng C3, anh Nguyễn Anh D rút đơn kháng
cáo trước khi mở phiên toà phúc thẩm, phải chịu ½ án phí dân sự phúc thẩm,
được hoàn trả ½ tạm ứng án phí; Các đương sự là người cao tuổi, được miễn án
phí dân sự phúc thẩm; các đương sự khác phải chịu án phí phúc thẩm theo quy
định.
Từ những phân tích nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc
thẩm đối với kháng cáo của văn phòng C3 và anh Nguyễn Anh D. Phần bản án
dân sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu
giữa văn phòng C3 với anh Nguyễn Anh D có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc
thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q, anh
Vũ Vinh Q1, chị Vũ Thị Phương T3.
3. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Kim P, ông Vũ Văn C (đại
diện theo uỷ quyền bà Vũ Kim P), anh Nguyễn Minh C1; giữ nguyên bản án dân
17
sự sơ thẩm số 30/2025/DS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
4. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- Văn phòng C3 và anh Nguyễn Anh D, mỗi người phải chịu 150.000 đồng
án phí dân sự phúc thẩm; Hoàn trả Văn phòng C3, anh Nguyễn Anh D mỗi người
150.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0001195 ngày
06/6/2025 và số 0001192 ngày 06/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Vũ Văn T1, bà Lương Thị Bích Q,
bà Vũ Kim P;
- Ông Vũ Văn C, anh Nguyễn Minh C1, anh Vũ Vinh Q1, chị Vũ Thị
Phương T3, mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ
vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo các biên lai thu số 0001177 ngày
06/6/2025; 0001176 ngày 06/6/2025; 0001229 ngày 12/6/2025; 0001238 ngày
16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Quý Sửu
18
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Thủy Lý Thị Thúy Hoàng Q3 Sửu
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND Khu vực 1- Thái Nguyên;
- THADS tỉnh Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Quý Sửu
19
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm