Bản án số 104/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 104/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 104/2026/DS-PT ngày 30/03/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 104/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 104/2026/DS-PT
Ngày 30-3-2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Trần Minh Phương
Ông Trần Hữu Hiệu
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư phiên tòa: Bùi Thị Thu Hương - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 154/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 10
năm 2025 về việc tranh chấp thừa kế tài sản.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2025 của
Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng (nay là Toà án nhân dân Khu
vực 4, thành phố Hải Phòng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 245/2025/QĐXXPT-DS
ngày 12 tháng 12 năm 2025 Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên toà
số 31/TB-TA ngày 25 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tạ Thị H, sinh năm 1974; số CCCD: 031174007284 do Cục
cảnh sát cấp ngày 09/5/2023; nơi ĐKHKTT: Thôn C, Đ, huyện C, thành phố Hải
Phòng (nay là Thôn C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện nay: Số nhà B
ngõ Đ, phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn:Hà Thị H1, sinh năm 1994;
nơi ĐKHKTT: Thôn G, xã P, tỉnh Đắk Lắk; nơi ở hiện nay: Số nhà A tổ dân phố V,
phường A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
2
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 06/11/2025)
- Bị đơn: Ông Lưu Đức N, sinh năm 1968; số CCCD: 031068009913 do Cục
cảnh sát cấp ngày 10/8/2021; nơi trú: Thôn C, Đ, huyện C, thành phố Hải
Phòng (nay là Thôn C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng); có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Viết N1 - Luật
Công ty L3 thuộc Đoàn luật thành phố H; địa chỉ: Tầng B số A B, phường T,
quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lưu Thị M, sinh năm 1971; nơi trú: Thôn C, Đặc khu C, thành phố
Hải Phòng; có mặt;
2. Lưu Thị N2, sinh năm 1972; nơi trú: Thôn C, Đặc khu C, thành phố
Hải Phòng; có mặt;
3. Lưu Thị T, sinh năm 1977; nơi trú: Tổ dân phố K, phường H, tỉnh
Quảng Ninh; có mặt;
4. Lưu Thị N3, sinh năm 1978; nơi trú: Thôn H, Đặc khu C, thành phố
Hải Phòng; có mặt;
5. Cụ Phạm Thị L, sinh năm 1944; nơi trú: Tổ dân phố F, thị trấn C, Đặc
khu C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
6. Chị Lưu Thị L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số nhà F, tổ H, khu A, phường
H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt;
7. Chị Lưu Thị Hồng L2, sinh năm 1986; nơi trú: Tổ I Khu C, phường H,
tỉnh Quảng Ninh; có mặt;
8. Cháu Lưu Yến V, sinh ngày 12/7/2010; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Đ, huyện
C, thành phố Hải Phòng (nay Thôn C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng); nơi
hiện nay: Số nhà B ngõ Đ, phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
9. Cháu Lưu Đức H2, sinh ngày 22/12/2012; nơi ĐKHKTT: Thôn C, Đ,
huyện C, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng);
nơi ở hiện nay: Số nhà B ngõ Đ, phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
10. Người đại diện hợp pháp của cháu Lưu Yến V cháu Lưu Đức H2: T
Thị H; sinh năm 1974; nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng
(nay là Thôn C, đặc khu C, thành phố Hải Phòng); nơi ở hiện nay: Số nhà B ngõ Đ,
phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kháng cáo:Tạ Thị H là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện ngày 12/5/2024; đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/10/2024;
bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, nguyên đơn
Tạ Thị H người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lưu Yến V, cháu Lưu
Đức H2 thống nhất trình bày:
Bà H và ông Lưu Doanh H3 kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban
nhân dân Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn H ông H3
chung sống cùng cụ T2 tại thôn C, xã Đ, huyện C. Bà H ông H3 02 con chung
Lưu Yến V Lưu Đức H2. Ông Lưu Doanh H3 chết ngày 04/11/2013. Bố mẹ
đẻ của ông Lưu Doanh H3 cụ Lưu Đức T1 (chết năm 2008) cụ Nguyễn Thị T2
(chết năm 2022). Cụ T1 cụ sinh được 05 người con ông Lưu Doanh H3;
ông Lưu Đức C (chết năm 1989) không có vợ con; bà Lưu Thị T3 (chết năm 1980)
không chồng con; ông Lưu Đức N bà Lưu Thị Mười . Ngoài ra, cụ T1 còn
chung sống như vợ chồng với cụ L, không có đăng kết hôn; hai cụ 03 người
con riêng là bà u Thị N2, bà u Thị T và bà Lưu Thị Nhung .1
Trước khi kết hôn với bà H thì ông H3 đã ly hôn và có 02 con riêng là chị Lưu
Thị L1 và chị Lưu Thị Hồng L2.
Quá trình chung sống, cụ T1 cụ T2 có tài sản chung là quyền sử dụng diện
tích đất 720m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 320m
2
đất vườn), thửa đất số 179, tờ bản đồ
số 01; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng. Thửa đất đã được Ủy
ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/11/2003,
đứng tên chủ sử dụng đất là cụ Lưu Đức T1.
Đến năm 2017, Nhà nước triển khai Dự án xây dựng khu cảng hàng hoá, bến
phà, bến tàu khách, nhà máy sản xuất các sản phẩm du lịch, khu dịch vụ hậu cần du
lịch, thửa đất số 179, tờ bản đồ số 01 của cụ T1 cụ T2 nằm trong dự án thu hồi
đất, được Nhà nước bồi thường đất, tài sản trên đất được bố trí tái định cư. Gia
đình đã văn bản cử ông Lưu Đức N là người đại diện cho các đồng thừa kế của
cụ T1, cụ T2 để nhận các khoản tiền bồi thường đất tái định khi nhà nước thực
hiện việc thu hồi thửa đất số 179, tờ bản đồ số 01.
Theo các quyết định phê duyệt, quyết định điều chỉnh, bổ sung phương án bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi thửa đất của cT1, cụ T2 để thực hiện Dự án
thì số tiền được bồi thường, hỗ trợ 2.853.576.000 đồng (trong đó tài sản trên
đất của cụ T1, cụ T2; tài sản của Lưu Thị M tài sản của vợ chồng H)
được cấp một suất tái định cư hộ chính có diện tích đất 199,92m
2
thuộc Lô N, lốt s
3 tại Khu tái định cư mới xã N, huyện C. Số tiền bồi thường trên sau khi trừ đi tin
bồi thường tài sản của M 520.000.000 đồng; phần tài sản của vợ chồng bà H
170.000.000 đồng; ông N trả tiền đất tái định 610.000.000 đồng, thì số tiền n
lại của cụ T1, cụ T2 là: 1.553.576.000 đồng. Ngoài ra, gia đình ông N n được giao
01 lô tái định cư hộ phụ diện tích 80m
2
, ba mẹ con M được giao 03 lô tái định
hộ phụ diện tích 80m
2
/lô.
Cụ T1 và cụ T2 chết không để lại di chúc.
4
Ngay sau khi chồng H chết, từ năm 2013 đến 2017, gia đình nhà chồng nhiều
lần, bằng nhiều hình thức khác nhau gây bất hoà, khó khăn, tạo áp lực cho H và
các con trong việc sinh sống tại đó khiến cho mẹ con H không được phải chuyển
về gia đình nhà ngoại ở. Đỉnh điểm đến năm 2017 khi có Dự án thu hồi đất của nhà
nước, ông N đã gây khó khăn, cản trở H trong việc phối hợp với Tổ công tác giải
phóng mặt bằng trong việc kiểm kê, bồi thường mặc ông N biết tài sản trên đất
có một phần do vợ chồng bà H gây dựng nên là 02 gian nhà cấp 4 bên cạnh nhà của
cụ T1 cụ T2. Ủy ban nhân dân xã Đ cũng nhiều lần hoà giải mâu thuẫn giữa các
bên nhưng không kết quả. Hiện toàn bộ di sản thừa kế của cụ T1, cụ T2 do ông
N quản lý. Tuy nhiên, ông N không phân chia di sản của các cụ cho các đồng thừa
kế. Theo quy định của pháp luật thì chồng H cũng được hưởng thừa kế của các
cụ bà H cùng các con cũng được hưởng thừa kế của ông H3. Do vậy H khi
kiện đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của cụ T1 và cụ T2 để lại là quyền sử
dụng diện tích đất 199,92m
2
là suất tái định cư thuộc Lô N, lốt số 3 tại Khu tái định
cư mới N, huyện C và phân chia số tiền được bồi thường khi thu hồi diện tích đất
của cụ T1, cụ T2 1.553.576.000 đồng theo quy định của pháp luật. H các
con có nguyện vọng được phân chia diện tích đất 199,92m
2
tại N hiện H
các con có hộ khẩu tại thửa đất bị thu hồi, hiện không bất kỳ chỗ ở nào; trong khi
đó ông N M đều được bố trí các phụ diện tích 80m
2
/lô. Do đất 199,92m
2
không tách thửa được nên nếu H được chia lô đất thì H sẽ có trách nhiệm trả
tiền chênh lệch cho các đồng thừa kế khác.
Tại các bản tự khai quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp thẩm, bị
đơn ông Lưu Đức N người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị M
thống nhất trình bày:
Ông N và M xác nhận lời trình bày của bà H về mối quan hệ huyết thống
của ông H3, ông N M đúng. Ngoài những người con chung và con riêng của
cụ T1 như H đã trình bày thì cụ T1 cT2 không còn con riêng và con nuôi nào
khác.
Quá trình chung sống, cụ T1 và cT2 tạo lập được tài sản chung là thửa đất số
179, tờ bản đồ số 01; địa chỉ: Thôn C, Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng, diện
tích đất 720m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 320m
2
đất vườn). Thửa đất đã được Ủy ban
nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S 228195, số vào sổ
cấp GCN 00251 QSDĐ/ĐB ngày 03/11/2003, đứng tên chủ sử dụng đất cụ Lưu
Đức T1. Tài sản trên đất nhà một số công trình phụ. Nhà và đất của các cụ
năm 2017 nhà nước đã thu hồi để thực hiện dự án. Tổng số tiền được bồi thường, hỗ
trợ tái định cư là 2.153.000.000 đồng. Ngoài ra còn được giao 01 đất tái định
diện tích khoảng 200m
2
có thu tiền sử dụng đất. Ông N là người trực tiếp nhận tiền
và đã trả tiền sử dụng đất của lô đất tái định cư là 613.000.000 đồng.
Cụ T1 và cụ T2 chết không để lại di chúc, do vậy tài sản của các cụ để lại là di
sản thừa kế chưa được phân chia.
5
Quan điểm của ông N, bà M đối với yêu cầu khởi kiện của H: Về khoản tiền
được bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất, ông N đã trả cho bà H số tiền 170.000.000
đồng; chị Lưu Thị L1 và chị Lưu Thị Hồng L2 (là con riêng của ông H3) đã nhận số
tiền 360.000.000 đồng phần chia cho 04 con của ông H3, mỗi con được 90.000.000
đồng. Số tiền này các bên đã lập văn bản bàn giao và được lưu tại hồ sơ của Trung
tâm phát triển quỹ đất. Số tiền còn lại là 1.010.000.000 đồng hiện ông N đang giữ.
Về yêu cầu phân chia di sản của cụ T1, cụ T2 đối với diện tích đất tái định cư
199,92m
2
thuộc N, lốt số 3 Khu tái định cư, thì ông N đề nghị để lại diện tích đất
này làm nơi thờ cúng cụ T1 cụ T2. Đề nghị Toà án phân chia di sản thừa kế của
cụ T1 cụ T2 theo quy định của pháp luật nhưng phải tính công sức đóng góp, giữ
gìn và tôn tạo nhà đất cho ông N. Đối với số tiền bà H, chị L1 và chị L2 đã nhận sẽ
phải đối trừ khi phân chia di sản thừa kế của cụ T1, cụ T2. do ông N đề nghị tính
công sức là vì: năm 2009 ông H3 lấy bà H và sinh sống trên thửa đất của cụ T1, cụ
T2. Đến năm 2013 ông H3 chết, H không đó nữa. Đến năm 2015, ông N từ
miền N về trực tiếp quản tài sản, thờ cúng tổ tiên chăm sóc cụ T2. Quá trình
sinh sống trên thửa đất, ông N không tu sửa, xây dựng tài sản gì mới.
M nhất trí với lời trình bày quan điểm của ông N. Ngoài ra, M còn
trình bày: Ông N, M, N2, bà T N3 đều đồng ý để ông N được sdụng
đất tái định để xây nhà thờ trách nhiệm thcúng bố mẹ tổ tiên, trường
hợp phải thanh toán tiền chênh lệch thì ông N trách nhiệm chi trả cho các đồng
thừa kế.
Tại các bản tự khai quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp thẩm, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lưu Thị N2, Lưu Thị T, u Thị N3
thống nhất trình bày:
Lưu Thị N2, u Thị T Lưu Thị N3 đều con của cụ Lưu Đức T1
và cụ Phạm Thị Lưu .2 Cụ T1 và cL chung sống với nhau từ năm 1972. Trước khi
chung sống với cụ L, cụ T1 đã có vợ nên cụ T1 cụ Lưu K có đăng kết hôn. C
Lưu không sinh sống và không có đóng góp gì đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ s
01.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 179,
tờ bản đồ số 01 và tài sản trên đất, đề nghị Toà án phân chia phần di sản thừa kế mà
N2, T N3 được hưởng của cụ T1 theo quy định của pháp luật. N4,
T bà N3 đồng ý để ông N được sử dụng thửa đất tái định trách nhiệm
thờ cúng bố mẹ tổ tiên. Hiện con trai trưởng là ông Lưu Doanh H3 đã chết nên
ông N là con trai thứ có trách nhiệm thực hiện việc thờ cúng.
Ngoài ra, bà N4 còn trình bày: CL do sức khoẻ yếu không thể có mặt tại Toà
án nên nhờ N4 chuyển lời đến Toà án không tranh chấp không yêu cầu
phân chia đối với thửa đất số 179, tờ bản đồ số 01.
6
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/3/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan chị Lưu Thị L1 và chị Lưu Thị L2 thống nhất trình bày:
Chị Lưu Thị L1 chị Lưu Thị L2 là con đẻ của ông Lưu Doanh H3. Sau khi
ly hôn người vợ thứ nhất (là mẹ đẻ của chị L1, chị L2) thì ông H3 kết hôn với bà Tạ
Thị H vợ thứ hai vào khoảng năm 2009-2010. Ông Lưu Doanh H3 04 người
con là chị L1, chị L2 hai người con chung với bà H3 là cháu Lưu Yến V và cháu
Lưu Đức H2. Chị L1 và chị L2 được ông N thông báo về việc thửa đất của cụ T1 và
cụ T2 thuộc diện bị thu hồi sau khi gia đình làm thủ tục kê khai tài sản. Sau khi ông
N nhận tiền đền bù đưa cho chị L1 chị L2 số tiền là 360.000.000 đồng để chia
cho 04 người con của ông H3. Hiện chị L1 và chị L2 đang quản lý số tiền này do hai
em V H2 còn nhỏ, sau này chị L1, chị L2 trách nhiệm trao lại cho hai em V
H2 phần của họ.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo
quy định của pháp luật.
Với nội dung như trên, tại Bản án Dân sự thẩm số 06/2025/DS-ST ngày
26/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng đã căn cứ vào các
Điều 612, 613, 614, 623, 649, 651, 652, 660 của Bộ luật n sự 2015; Điều 220 của
Luật Đất đai năm 2024; Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tạ Thị
H về việc chia di sản thừa kế của cụ Lưu Đức T1 và cNguyễn Thị T2 theo pháp
luật. Ông Lưu Đức N, Lưu Thị M mỗi người được nhận phần di sản thừa kế
1.178.256.000 đồng (ông N nhận thay cho M). Lưu Thị N2, Lưu Thị T, u
Thị N3 mỗi người được nhận phần di sản thừa kế 321.342.000 đồng. Tạ Thị
H, các cháu Lưu Yến V, u Đức H2, u Thị L1, Lưu Thị Hồng L2 được nhận
phần di sản thừa kế là 1.178.256.000 đồng. Ông Lưu Đức N được nhận thửa đất số
294, tờ bản đồ số 05 xã V, Lốt số N4-13.03, S khu tái định Đ, huyện C, thành
phố Hải Phòng có diện tích đất ở nông thôn 199,92m
2
. Do ông N đang quản lý toàn
bộ di sản nên buộc ông N phải thanh toán cho các N2, T, N3 mỗi người số tiền
321.342.000 đồng; thanh toán cho Tạ Thị H các cháu Lưu Yến V, Lưu Đức
H2, chị Lưu Thị L1, chị u Thị Hồng L2 tổng số tiền là 818.256.000 đồng
(1.178.256.000 đồng - 360.000.000 đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm n quyết định về án phí, lãi suất chậm thi hành án
và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, nguyên đơn Tạ Thị H kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét xlại vụ án theo hướng sửa bản án, giao
cho bà H và các con chung với ông H3 được quản lý, sử dụng thửa đất được giao tái
định cư có diện tích 199,92m
2
thuộc lô N, lốt số 3 Khu tái định cư mới xã N, huyện
C, H trách nhiệm hoàn trả cho các đồng thừa kế số tiền chênh lệch từ việc phân
chia này; bà H đại diện cho các đồng thừa kế của ông H3 nhận suất thừa kế ông H3
được chia. do H kháng cáo: H ông H3 kết hôn năm 2010, đăng
kết hôn theo quy định của pháp luật. Do ông H3 con trai trưởng trong gia đình nên
sau khi kết hôn với ông H3, bà H và các con chung đều đã đăng ký hộ khẩu thường
7
trú sinh sống cùng cụ T2 trên thửa đất của cụ T1 và cụ T2. Đến năm 2017 do thửa
đất số 179, tờ bản đồ số 01 của cụ cụ T1 cụ T2 nằm trong Dự án thu hồi đất của
nhà nước nên đã bị thu hồi và được nhà nước bồi thường, hỗ trợ tiền giao suất tái
định chính diện tích 199,92m
2
suất tái định hộ phụ cho ông N diện tích
80m
2
. Bà H chỉ được nhà nước bồi thường tài sản trên đất là nhà ngang, công trình
phụ, không được giao suất tái định cư hộ phụ. Bản thân mẹ con bà H hiện không có
chỗ ở, phải đi ở trọ. Nay Toà án cấp sơ thẩm lại quyết định giao suất tái định cư hộ
chính cho ông N chưa hợp lý. do thứ hai, đối với số tiền được nhà nước bồi
thường, hỗ tr từ việc thu hồi đất, ông N đã đưa cho chị L1, chị L2 số tiền
360.000.000 đồng (ông N nói phân chia cho 04 người con của ông H3) nhưng
hiện chị L1, chị L2 vẫn giữ. Tuy nhiên, Toà án lại trừ đi số tiền này và chỉ buộc ông
N phải trả cho Tạ Thị H các cháu Lưu Yến V, Lưu Đức H2, các chị Lưu Thị
L1, Lưu Thị Hồng L2 số tiền 818.256.000 đồng xâm phạm đến quyền lợi ích
hợp pháp của H các con chung với ông H3. Do đó, H đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà H.
Đến ngày 28/7/2025 và ngày 27/8/2025, H thay đổi nội dung kháng cáo đề
nghị Huỷ Bản án Dân sự thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, xác định lại phần di sản thừa kế của
cụ T1 và cụ T2 đối với số tiền được bồi thường, hỗ trợ là 2.875.622.000 đồng (gồm
tiền đất, tiền vật kiến trúc, cây cối, hoa màu, khoản tiền hỗ trợ khi thu hồi đất nông
nghiệp). Số tiền vật kiến trúc 1.606.946.000 đồng sau khi đã trừ đi 520.000.000 đồng
của nhà M 170.000.000 đồng H đã nhận thì số tiền còn lại: 916.946.000
đồng tiền bồi thường tài sản trên đất của vợ chồng H, không phải di sản thừa
kế do cụ T1 cụ T2 để lại. do: Căn cứ vào Biên bản xác minh xây dựng, cải
tạo, sửa chữa các công trình của hộ dân nằm trong chỉ giới thu hồi đất thì tất cả các
công trình xây dựng trong danh sách đều ghi thời gian xây dựng từ năm 2010 đến
năm 2015. Chỉ duy nhất nhà 02 tầng 01 tầng xây dựng từ năm 1878
được cải tạo sửa chữa năm 2012. Năm 2012, vợ chồng bà H sửa chữa ngôi nhà này
nên mới có giá bồi thường là 5.573.889 đồng/m
2
. Các tài sản khác trên đất như nhà
kho, bếp, nhà ngang, nhà vệ sinh, chuồng gà.... đều do vợ chồng H bỏ tiền ra xây
từ năm 2012 đến năm 2015. Thời điểm vợ chồng bà H xây dựng các công trình này
thì cụ T1 đã chết còn cụ T2 thì đã già yếu, không thu nhập; việc ăn uống hàng
ngày phải do vợ chồng bà H chăm sóc. M ly hôn nên về sinh sống trên thửa đất
của cụ T1 cụ T2, do kinh tế của M khó khăn, một mình nuôi ba con nên vợ
chồng H mới xây cho một căn nhà gác bên cạnh ncủa cụ T2 để riêng. Còn
ông N mãi đến năm 2016 mới từ Cà Mau về sinh sống trên thửa đất của cụ T1 cụ
T2. Đối với các công trình đã xây dựng từ trước, ông N không có đóng góp gì.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn
cháu V, cháu H2 đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của ông H3; đề nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, giao suất tái định
8
hchính cho nguyên đơn nguyên đơn đủ điều kiện để thanh toán cho các
đồng thừa kế khác và xác định số tiền được bồi thường trên đất sau khi trừ đi số tiền
đền vật kiến trúc của M 520.000.000 đồng số tiền nguyên đơn đã nhận
170.000.000 đồng còn lại là của nguyên đơn do các vật kiến trúc trên đất là của vợ
chồng nguyên đơn, không phải của cụ T1, cụ T2.
Bị đơn ông N nhất trí với quyết định của bản án thẩm, đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về
số tiền đất đã nộp đnhận suất tái định hchính, ông N đã nộp là 613.000.000
đồng nhưng bà H trình bày là 610.000.000 đồng, ông N cũng đồng ý.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Về số tiền bồi thường các
đương sự trình bày chưa đúng với tài liệu bồi thường của cơ quan có thẩm quyền thì
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để điều chỉnh lại. Kháng cáo của nguyên đơn là
không căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà M, N2, bà T, N3 nhất trí với
lời trình bày của ông N tại phiên toà phúc thẩm đồng ý với quyết định của bản án
sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ
nguyên bản án sơ thẩm. Riêng bà M trình bày: phần di sản thừa kế bà M được phân
chia, bà M đồng ý cho ông N.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chL2 chị L1 xác nhận hiện các
chị đang giữ stiền 360.000.000 đồng ông N chia cho 04 người con của ông H3.
Chị L2, chị L1 cũng đồng ý với quan điểm của ông N, bà M, bà N2, bà T và N3.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm
phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cơ bản
đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối với kháng cáo của nguyên đơn: Căn cứ vào
các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án và lời trình bày ca các đương sự tại
phiên toà, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn nên căn cứ
khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là tranh chấp về thừa kế tài sản thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án có kháng cáo nên theo quy định tại khoản 5
9
Điều 26; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[1.2] Bà Tạ Thị H và cụ Lưu Đức T1; cụ Nguyễn Thị T2 có mối quan hệ là bố
mẹ chồng và con dâu, không có mối quan hệ huyết thống nên bà H không có quyền
khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T1 cụ T2. Tuy nhiên, H yêu
cầu chia di sản thừa kế của ông H3 người đại diện hợp pháp của cháu Lưu Yến
V và Lưu Đức H2 nên trong vụ án này thì bà H thể đại diện cho cháu V và cháu
H2 để khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ T1, cụ T2.
[2] Đơn kháng cáo của bà Tạ Thị H nộp trong thời hạn luật định (Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự) nên là kháng cáo hợp pháp, Toà án xem xét, giải quyết vụ
án theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế: Cụ Lưu Đức T1 chết
năm 2008; cụ Nguyễn Thị T2 chết năm 2022, H đơn khởi kiện ngày 12/5/2024
nên theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự năm 2015 còn thời hiệu
yêu cầu chia di sản thừa kế.
[4] Tại phiên toà phúc thẩm, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cụ Phạm
Thị L vắng mặt nhiều lần nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt cụ L theo
quy định khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Tạ Thị H:
[5] Về quan hệ huyết thống: Các đương sự đều xác nhận: Cụ T1 (chết năm
2008) cụ T2 (chết năm 2022) sinh được 05 người con là ông u Doanh H3 (chết
năm 2013); ông Lưu Đức C (chết năm 1989), không vợ con; bà Lưu Thị T3 (chết
năm 1980), không chồng con; ông Lưu Đức N bà Lưu ThMười . Ngoài ra,
cụ T1 còn chung sống như vợ chồng với cụ L, không có đăng ký kết hôn; hai cụ có
03 người con riêng là bà Lưu Thị N2, bà Lưu Thị T và bà Lưu Thị Nhung .1 Tạ
Thị Hvợ thứ hai của ông Lưu Doanh H3. H ông H3 có 02 người con chung
Lưu Yến VLưu Đức H2. Ông H3 có hai con với người vợ thứ nhất là chLưu
Thị L1 và chị Lưu Thị Hồng L2.
[6] Các đương sự thống nhất xác nhận: Di sản thừa kế của Cụ T1 cụ T2
thửa đất số 179, tờ bản đồ số 01; diện tích đất 720m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 320m
2
đất vườn); địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng. Thửa đất đã được
Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp
GCN 00251/QSDĐ/ĐB ngày 03/11/2003, đứng tên chủ sử dụng đất là cụ Lưu Đức
T1. Đất có nguồn gốc do hộ cụ Lưu Đức T1 và vợ là cụ Nguyễn Thị T2 sử dụng ổn
định trước năm 1980. Đến ngày 03/11/2003 Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Lưu Đức T1.
[7.1] Theo Thông báo thu hồi đất số 298/TB-UBND ngày 24/3/2017 để thực
hiện Dự án đầu xây dựng khu cảng hàng hoá, bến tàu du lịch, ga cáp treo, n
máy sản xuất các sản phẩm du lịch, khu dịch vụ hậu cần du lịch (giai đoạn 2) do
10
Công ty cổ phần T5 làm chủ đầu Thông báo số 460/TB-UBND ngày 01/6/2023
của Ủy ban nhân dân huyện C vviệc điều chỉnh, bổ sung nội dung Thông báo số
298/TB-UBND ngày 24/3/2017, thì thu hồi diện tích đất của hộ ông Lưu Đức T1 (đã
chết ông Lưu Đức Nguyên đại D cho các đồng thừa kế đang sử dụng), diện tích
đất dự kiến thu hồi 815,7m
2
(diện tích được cấp giấy chứng nhận 720m
2
, diện
tích đất chênh lệch so với giấy chứng nhận đã cấp là 95,7 m
2
là do khai hoang), thửa
đất số 147, diện tích 253,6m
2
, thửa số 116, diện tích 495,7m
2
, thửa số 149, diện tích
66,4m
2
, tờ bản đồ số 8 thuộc Trích lục địa chính số 196/2017-TL do Trung tâm K1
lập ngày 09/3/2017. Loại đất đang sử dụng: đất nông thôn đất trồng cây lâu
năm.
[7.2] Tại Quyết định số 1095/QĐ-UBND ngày 20/7/2023 của Ủy ban nhân dân
huyện C về việc thu hồi đất thực hiện Dự án xây dựng khu cảng hàng hoá, bến phà,
bến tàu khách, nhà máy sản xuất các sản phẩm du lịch, khu dịch vụ hậu cần du lịch
do Công ty TNHH M2 làm chủ đầu tư thì thu hồi 815,7m
2
(diện tích đất thuộc thửa
đất số 116 diện tích 495,7m
2
,
thửa số 147 diện tích 253,6m
2
và thửa số 149 diện tích
66,4m
2
), tờ bản đồ số 8 do ông Lưu Đức N đại diện cho những người được hưởng
thừa kế của ông Lưu Đức T1 và bà Nguyễn Thị T2 (đã chết) đang sử dụng tại xã Đ,
huyện C theo Trích lục địa chính số 196/2017-TL do Trung tâm K1 thuộc Sở T6 lập
ngày 09/3/2017.
[8] Tại Biên bản họp gia đình ngày 20/4/2022, các đồng thừa kế của cụ T1
cụ T2 đồng ý cử ông Lưu Đức N (là một trong các đồng thừa kế là người đại diện)
để thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất.
[9] Căn cứ Biên bản kiểm số 2167/BB-TTPTQĐ ngày 02/6/2023 Phụ lục
kiểm kèm theo của hộ gia đình ông Lưu Đức T1 (ông Lưu Đức Nguyên đại D
những người được thừa kế) thì tài sản trên diện tích đất thu hồi đứng tên chủ sdụng
đất ông Lưu Đức T1 gồm: cây cối hoa màu (rau xanh, cây ăn quả, cây hoa). Vật kiến
trúc: nhà hai tầng, móng và tường xây đá hộc, chiều dày tường 60cm, diện tích tầng
1: 6,2 x7,0m, tầng 2: cao 3,0m, mái lợp ngói đỏ, sườn gỗ, diện tích 7,2 x 5,4 m
+2,4x2,3m, ng trình phụ; 01 nhà ngang, móng xây gạch chỉ, tường 110, mái lợp
tôn proximăng, sườn gcao 3,0m; diện tích 3,3 x5,5m, công trình phụ, bếp các
công trình xây dựng khác. Trên đất còn nhà của Lưu Thị M: diện tích
5,6x6,0m, móng gạch chỉ, tường gạch chỉ 6 lỗ 150, mái tôn kim loại sườn sắt, cao
4,7m, nhà vệ sinh, nhà bếp.
[10.1] Theo Quyết định số 1096/QĐ-UBND ngày 20/7/2023 và Quyết định số
1460/QĐ-UBND ngày 30/8/2023 về duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định
phê duyệt điều chỉnh, bổ sung phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định giải
phóng mặt bằng thực hiện Dự án Phương án đối với hộ cụ Lưu Đức T1 và cụ
Nguyễn Thị T2 (đều đã chết) do ông Lưu Đức Nguyên đại D cho các đồng thừa kế
thì số tiền được bồi thường: Về đất (diện tích đất thu hồi 815,7m
2
)
11
1.041.256.000 đồng; Vật kiến trúc trên đất: 1.606.946.000 đồng; Cây cối hoa màu:
33.694.000 đồng; chính sách hỗ trợ: 171.680.000 đồng, điều chỉnh hỗ trợ bổ sung:
6.000.000 đồng, tổng cộng: 2.859.576.000 đồng. Hộ cụ Lưu Đức T1 và cụ Nguyễn
Thị T2 (đồng ý cử ông Lưu Đức N là một trong các đồng thừa kế là người đại diện)
đủ điều kiện bồi thường đất tái định cư, được giao Lô N, lốt sN4-13.03, diện tích
199,92m
2
.
[10.2] Hộ phụ: ông Lưu Đức N, vợ Thị H4 được hỗ trợ ổn định cuộc
sống tại khu tái định cư số tiền là 6.000.000 đồng. Ông N, bà H4 đủ điều kiện bố trí
tái định hộ phụ Lô N4-25, lốt số N4-25.03, diện tích 80m
2
. Vị trí thửa đất: khu
tái định cư đảo C.
[10.3] Hộ phụ: bà Lưu Thị Mười C1 là Khúc Kim S được giao thửa đất số N4-
21.9, diện tích 80m
2
; hộ phụ Phạm Thị Thanh M1, Bùi Đức Gia B (là con gái và
cháu ngoại của bà Lưu Thị M) được giao thửa đất số N4-23’.12, diện tích 80m
2
. Hộ
phụ Phạm Quang T4 vHương Q (là con trai, con dâu của Lưu Thị M)
được giao thửa đất số N4-23’.17, diện tích 80m
2
.
[11] Kết quả định giá tài sản: Diện tích 199,92m
2
, N, lốt số N4-13.03, diện
tích 199,92m
2
; trên đất không có công trình vật kiến trúc tài sản. Trị giá diện tích
đất 199,92m
2
: 2.998.800.000 đồng.
[12] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Ông H3
chết trước cụ T2. Toà án cấp thẩm chỉ chia di sản thừa kế tại thời điểm mở thừa
kế của cụ T1 cụ T2 không chia di sản thừa kế tại thời điểm mở thừa kế của
ông H3 chưa chính xác; ngoài ra về số tiền chia di sản cũng chưa đúng với số tiền
được nhận bồi thường. Toà án thẩm nhận định ông H3, ông N M đều
công trông coi, quản lý, tôn tạo thửa đất nhưng lại không tính công sức cho họ
chưa phù hợp với quy định của pháp luật, do vậy cần phải chia lại thừa kế theo yêu
cầu của nguyên đơn cụ thể như sau:
[12.1] Các đương sự xác nhận di sản thừa kế của cụ T1 và cụ T2 để lại là thửa
đất số 179, tờ bản đồ s01; diện tích đất 720m
2
(trong đó 400m
2
đất ở, 320m
2
đất
vườn); địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện C, thành phố Hải Phòng tài sản trên thửa đất
nhà công trình phụ. Năm 2023 do thực hiện dự án nên nhà nước đã thu hồi
toàn bộ nhà đất. Nnước đã bồi thường giá trị đất, các công trình xây dựng trên
đất của cụ T1, cụ T2 cùng các khoản hỗ trợ khác tổng giá trị là 2.859.576.000 đồng
(trong đó về đất: 1.041.256.000 đồng (1); tài sản trên đất: 1.818.320.000 đồng)
01 lô đất tái định số N4-13, lốt số N4-13.03, diện tích 199,92m
2
tại khu tái định
cư tại Đảo C, trị giá: 2.998.800.000 đồng. Đối với số tiền bồi thường, hỗ trợ tài sản
trên thửa đất 1.818.320.000 đồng, các đương sthống nhất xác nhận: ông Nguyên
đại D cho các đồng thừa kế đã nộp số tiền 610.000.000 đồng (là tiền chênh lệch khi
nhận diện tích đất i định cư); trị giá tài sản trên đất của vợ chồng H4 là:
170.000.000 đồng; trị giá tài sản trên đất của gia đình M là: 520.000.000 đồng
nên số tiền còn lại của cụ T1 và cụ T2 là: 518.320.000 đồng (2). Trị giá diện tích lô
12
đất tái định 199,92m
2
số N, lốt số N4-13.03 theo kết quả định giá là:
2.998.800.000 đồng (3). Như vậy, sau khi nhà nước thu hồi thửa đất số 179, tờ bản
đồ số 01 thì di sản thừa kế cụ T1, cụ T2 đ lại là số tiền: (1) + (2) + (3) =
4.558.376.000 đồng.
[12.2] Cụ T1 và cụ T2 chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của các cụ
được chia theo quy định của pháp luật. Cụ T1, cụ sinh được 05 người con chung,
trong đó hai người con chung đã chết trước các cụ đều không vợ, chồng,
con. Ngoài ra cT1 còn có 03 người con riêng.
[12.2.1] Thời điểm mở thừa kế khi cụ T1 chết (năm 2008), di sản thừa kế của
cụ T1 được chia cho các đồng thừa kế bao gồm: Cụ T2, ông H3, ông N, M,
N2, T N3 (gồm 07 suất thừa kế). Cụ thể: 4.558.376.000 đồng : 2 =
2.279.188.000 đồng. Cụ T2, ông H3, ông N, M, N2, bà T, N3 mỗi người
được nhận số tiền là: 2.279.188.000 đồng : 7 = 325.598.285 đồng (4). Cụ T2 được
hưởng: 2.279.188.000 đồng + 325.598.285 đồng = 2.604.786.285 đồng (5).
[12.2.2] Năm 2013, ông H3 chết nên di sản thừa kế của ông H3 được chia cho
cụ T2, H4, chị L1, chị L2, cháu V cháu H2, mỗi người được chia là:
325.598.285 đồng : 6 = 54.266.380 đồng (6). Như vậy tính đến thời điểm này cụ T2
được hưởng: (5) + (6) = 2.659.052.665 đồng.
[12.2.3] Thời điểm mở thừa kế khi cT2 chết năm 2022, di sản thừa kế của cụ
T2 được chia cho các đồng thừa kế bao gồm: các con của ông H3 là chị L1, chị L2,
cháu V và cháu H2 những người thừa kế thế vị của ông H3 (do ông H3 chết trước
cụ T2); ông N và bà M. Về công sức trông coi, quản lý di sản thừa kế thì Hội đồng
xét xthấy cần tính công sức cho cả ông H3, ông N M do cả ba đều thời
gian sinh sống, trông coi, tôn tạo thửa đất nên cần tính thêm 01 suất công sức chia
cho 03 người này (do ông H3 đã chết nên bà H4 vợ ông H3 được nhận số tiền công
sức được chia). Cụ thể: Ông N, bà M và các thừa kế thế vị của ông H3 được hưởng
là: 2.659.052.665 đồng : 4 = 664.763.166 đồng (7). Như vậy, ông N bà M mỗi
người được chia di sản thừa kế của cụ T1 cụ T2 là: (4)+ (7) = 990.361.451 đồng
(8). Chị L1, chị L2, cháu V cháu H2 mỗi người được nhận thừa kế của cụ T2
(7) : 4 = 166.190.791 đồng (9). Chị L1, chị L2, cháu V và cháu H2 mỗi người được
nhận thừa kế của cT2 thừa kế của ông H3 là: (6) + (9) = 220.457.171 đồng. Ông
N M và Tạ Thị H mỗi người được hưởng ng sức trông coi, quản di sản
thừa kế là: 664.763.166 đồng : 3 = 221.587.722 đồng (10). Như vậy, tổng stiền
ông N, bà M mỗi người được hưởng là: (4) + (7) + (10) = 1.211.949.173 đồng.
M đồng ý đông N nhận cả phần của M nên ông N được hưởng số tiền là:
2.423.898.346 đồng. H được nhận tổng số tiền là: (6) + (10) = 275.854.102 đồng.
Hiện ông Nguyên đại D cho các đồng thừa kế nhận số tiền được đền bù và lô đất tái
định cư hộ chính nên ông N trách nhiệm hoàn trả số tiền chênh lệch từ việc được
hưởng di sản thừa kế cho các đồng thừa kế khác. Chị L1 và chị L2 đã nhận số tiền
360.000.000 đồng từ ông N nên nay mỗi người còn được nhận số tiền là:
13
220.457.171 đồng 180.000.000 = 40.457.171 đồng (theo quy định tại các Điều
609, 612, 613, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự).
[12.2.4] Ngoài ra, phần quyết định của bản án thẩm không đối trừ với số tiền
tạm ứng án phí bà H đã nộp là thiếu sót.
[12.3] Về suất tái định cư: Tại thời điểm thu hồi đất ông N là người đang quản
lý, sử dụng thửa đất; sau khi ông H3 chết, bà H cùng các con chung không tiếp tục
sinh sống trên thửa đất cùng cụ T2; M, các bà N2, bà T, N3 các đồng thừa
kế khác đều nguyện vọng giao suất tái định cho ông N con trai của cụ T1,
cụ T2 để ông N trách nhiệm thờ cúng cụ T1, cụ T2 và tổ tiên nên Toà án sơ thẩm
giao suất tái định cư cho ông N là phù hợp. Ủy ban nhân dân Đ cho biết, thửa đất s
N4-13.03, N, diện tích 199,92m
2
tại khu tái định đảo C không đủ điều kiện
tách thửa. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không căn cứ để chấp nhận
kháng cáo của H về việc giao đất tái định hộ chính cho H nên giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung này.
[12.4] Bản án sơ thẩm giao toàn bộ số tiền của chị L1, chị L2, cháu V và cháu
H2 được chia cho bà H mà không xác định số tiền cthể mỗi người được chia bao
nhiêu; không trừ số tiền 360.000.000 đồng chị L1 chị L2 đã nhận vào phần di
sản mà hai người này được hưởng là chưa đảm bảo quyền lợi của mỗi người.
[12.5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận
một phần kháng cáo của nguyên đơn, bà Tạ Thị H, sửa bản án thẩm theo nội dung
đã phân tích nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[13] Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản
7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Cháu V và cháu
H2 là trẻ em nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 1 Luật Trẻ em và điểm đ
khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án dân sự sơ thẩm bị sửa nên nguyên
đơn kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2
Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[15] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Chp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn bà Tạ Thị H.
14
Sa mt phn bản án thẩm số 06/2025/DS-ST ngày 26/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng (nay là Toà án nhân dân Khu vực 4,
thành phố Hải Phòng).
Căn cứ vào các Điều 609, 612, 613, 649, 650, 651, 652 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 2, điểm a khoản 7 Điều 27,
khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội;
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Tạ Thị H về việc chia di sản thừa kế
của cụ Lưu Đức T1, cụ Nguyễn Thị T2.
2.1. Ông Lưu Đức N và Lưu Thị M mỗi người được hưởng di sản thừa kế
của cụ Lưu Đức T1, cụ Nguyễn Thị T2 trị giá là: 990.361.451 đồng mỗi người được
hưởng công sức trông coi di sản thừa kế là: 221.587.722 đồng; cộng mỗi người được
số tiền là: 1.211.949.173 đồng. Lưu Thị M đồng ý để ông Lưu Đức N phần di
sản M được hưởng nên ông Lưu Đức N được nhận số tiền là: 2.423.898.346 đồng.
2.2. Lưu Thị N2, Lưu Thị T, Lưu Thị N3 mỗi người được được hưởng
di sản thừa kế của cụ Lưu Đức T1 trị giá là: 325.598.285 đồng.
2.3. Chị Lưu Thị L1, chị Lưu Thị Hồng L2, cháu Lưu Thị Yến V và cháu Lưu
Đức H2 mỗi người được nhận thừa kế của cụ Nguyễn Thị T2 thừa kế của ông
Lưu Doanh H3 trị giá là: 220.457.171 đồng. Chị Lưu Thị L1, chị Lưu Thị Hồng L2
mỗi người đã nhận số tiền là 180.000.000 đồng từ ông Lưu Đức N nên chị Lưu Thị
L1, chị Lưu Thị Hồng L2 mỗi người còn được nhận số tiền là: 40.457.171 đồng.
2.4. Bà Tạ Thị H được hưởng di sản thừa kế của ông Lưu Doanh H3 trị giá là:
54.266.380 đồng 221.587.722 đồng công sức trông coi di sản thừa kế, cộng:
275.854.102 đồng.
3.1. Ông Lưu Đức N được quyền sử dụng diện tích đất ở nông thôn 199,92m
2
,
tại thửa đất số 294, tờ bản đồ số 05, địa chỉ: xã V, Lốt số N, Lô S Khu tái định Đ,
huyện C, thành phố Hải Phòng.
3.2. Ông Lưu Đức N nghĩa vụ liên hệ với quan thẩm quyền để được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
(có sơ đồ kèm theo)
4.1. Ông Lưu Đức N nghĩa vụ hoàn trả cho Lưu Thị N2, Lưu Thị T,
Lưu Thị N3 mỗi người số tiền là: 325.598.285 đồng.
4.2. Ông u Đức N nghĩa vụ hoàn trả cho chLưu Thị L1, chị Lưu Thị
Hồng L2 mỗi người số tiền là: 40.457.171 đồng.
4.3. Ông Lưu Đức N nghĩa vụ hoàn trả cho cháu Lưu Thị Yến V và cháu
Lưu Đức H2 mỗi người số tiền là: 220.457.171 đồng.
15
4.4. Ông Lưu Đức N nghĩa vụ hoàn trả cho bà Tạ Thị H số tiền là:
275.854.102 đồng.
Kể từ ngày bà Lưu Thị N2, bà Lưu Thị T, bà Lưu Thị N3, chị Lưu Thị L1, chị
Lưu Thị Hồng L2, cháu Lưu Thị Yến V, cháu Lưu Đức H2 và bà Tạ Thị H đơn
yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng Lưu
Đức N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi
hành án.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Tạ Thị H phải chịu 13.792.705 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm; được
khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 41.500.000 đồng tại Biên lai
thu tiền tạm ứng án phí Toà án số 0007230 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng (nay là Phòng Thi hành án Khu vực
4 thành phố Hải Phòng). Trả lại Tạ Thị H 27.707.295 đồng tiền tạm ứng án p
dân sự sơ thẩm.
5.2. Ông Lưu Đức N Lưu Thị M, mỗi người phải chịu 48.358.475 đồng
tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.3. Lưu Thị N2, Lưu Thị T, Lưu Thị N3 mỗi người phải chịu
16.279.914 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.4. Chị Lưu Thị L1, chị Lưu Thị Hồng L2,mỗi người phải chịu 11.022.858
đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5.5. Miễn án phí dân sự thẩm cho cháu Lưu Thị Yến V cháu Lưu Đức
H2.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Tạ Thị H không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm. Trả lại bà Tạ Thị H số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000
đồng tại Biên lai thu tạm ứng án pToà án số 0001487 ngày 09/7/2025 của Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
7. Các quyết định khác của Bản án thẩm s06/2025/DS-ST ngày 26/6/2025
của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng (nay là Tòa án nhân dân
Khu vực 4 thành phHải Phòng) hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp Bn án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 ca Lut Thi
hành án dân s đưc sa đổi, b sung năm 2014 thì người được thi hành án, người
phi thi hành án có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t
nguyn thi hành án hoc cưng chế thi hành án theo quy đnh ti các điều 6,7,7a,9
ca Lut thi hành án dân s đưc sa đổi, b sung năm 2014; thời hiu thi hành án
16
đưc thc hiện theo quy định Điều 30 ca Lut Thi hành án dân s đưc sa đổi,
b sung năm 2014.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND Khu vực 4;
TP Hải Phòng;
- Phòng thi hành án dân sự
Khu vực 4; TP Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: VP, HS, Phòng GĐ,KT,TTr
và THA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Phương
Tải về
Bản án số 104/2026/DS-PT Bản án số 104/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 104/2026/DS-PT Bản án số 104/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất