Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 27/12/2024 của TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 150/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 27/12/2024 của TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND TP. Cao Bằng (TAND tỉnh Cao Bằng) |
Số hiệu: | 150/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/12/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị Linh Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Xuân T |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST
Ngày 27/12/2024
V/v Yêu cầu ly hôn, tranh chấp về
nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Long Văn Thanh
2. Ông Nguyễn Văn Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng
tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai
vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số:
138/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024 về việc yêu cầu ly hôn, tranh
chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2024/QĐXXST-
HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Linh Thị H - sinh năm 1999
Nơi ĐKTT và chỗ ở: xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
2. Bị đơn: Nguyễn Xuân T - sinh năm 1996
Nơi ĐKTT: xóm H, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; hiện nay đang chấp
hành án tại đội 24, phân trại I, trại giam H1, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương;
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 30/10/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn
Linh Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Xuân T xây dựng gia đình năm 2018 trên cơ sở tự nguyện
có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết
hôn vợ chồng chung sống với nhau tại xóm H 02, xã H, thành phố C, tỉnh Cao
Bằng, thời gian đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến ngày 02/02/2022 anh T
sử dụng chất ma tuý về nhà đe doạ, đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà vì chị không
2
đưa tiền để anh T đi chơi với bạn. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 28/8/2022, đến ngày
12/10/2022 anh T bị bắt do có hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý. Nay chị xác
định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được và có
nguyện vọng được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.
Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung là Nguyễn Thị Tú A,
sinh ngày 17/3/2020 (giới tính: Nữ), hiện nay đang ở với mẹ. Sau khi ly hôn chị đề
nghị được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải cấp
dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự có xác nhận của Trại giam H1, bị đơn
Xuân T trình bày: anh và chị Linh Thị H kết hôn năm 2018 trên cơ sở tự nguyện có
đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau ở nhà của bố mẹ
anh tại xóm H 02, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Thời gian đầu chung sống
hạnh phúc nhưng đến cuối năm 2021 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, tháng 10/2022
anh bị bắt, sau đó bị Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07
năm 06 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Hiện nay, anh đang chấp
hành án tại Trại giam H1, thỉnh thoảng chị H có xuống thăm gặp nhưng đến đầu
năm 2024 chị H không gọi điện, liên lạc nữa, nay chị H yêu cầu được ly hôn, anh
nhất trí.
Về con chung: anh xác nhận quá trình chung sống có 01 con chung là Nguyễn
Thị Tú A, sinh ngày 17/3/2020, sau khi ly hôn anh nhất trí để chị H trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc do anh đang chấp hành án không đủ điều kiện và không có tiền
cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa gián giải quyết.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát thành phố C phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, thư
ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng; những người tham gia
tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: chị Linh Thị H và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở
tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp
pháp. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến tháng 02/2022 thì xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T ăn chơi và không quan
tâm đến gia đình. Hiện nay anh T đang chấp hành án tại trại giam H1, tỉnh Hải
Dương về tội Mua bán trái phép chất ma túy thời gian 07 năm 06 tháng tù. Như
vậy, tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã trở nên trầm trọng, tình nghĩa vợ
chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly
hôn là có căn cứ. Về con chung là cháu Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/3/2020
hiện nay đang sống cùng chị H, chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng con chung là phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế. Do đó, đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia
đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Linh Thị H.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng
[1.1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Nguyễn Xuân T đăng ký thường trú
tại xóm H 02, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng nên thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều
35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự có mặt của các đương sự: bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt
do đang chấp hành án tại Trại giam H1, xã H, thành phố C, tỉnh Hải Dương nên vụ
án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn có đơn xin xét xử
vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng
mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2]. Xét yêu cầu của nguyên đơn
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Linh Thị H và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng
ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng nên quan hệ hôn
nhân là hợp pháp.
Sau khi kết hôn, chị H và anh T chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm
2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và tháng 10/2022 anh T
phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” phải đi chấp hành án phạt tù 07 năm 06
tháng theo quyết định của Bản án số 50/2022/HS-ST ngày 22/12/2022 của Tòa án
nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng.
Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải
quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc
vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào
tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được”.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T chỉ tồn tại trên danh nghĩa,
không có điều kiện để chung sống, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau thuộc
trường hợp không có khả năng và điều kiện để hàn gắn tình trạng hôn nhân. Do hôn
nhân của chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích của hôn nhân không đạt được, nếu có tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này cũng
không mang lại hạnh phúc cho cả hai bên. Do đó, chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn và
anh T cũng nhất trí, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Linh Thị H là có căn cứ
cần được chấp nhận.
[2.2]. Về con chung:
Quá trình chung sống chị H và anh T có 01 con chung là Nguyễn Thị Tú A,
sinh ngày 17/3/2020 (giới tính: Nữ) hiện nay đang ở với chị H.
Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung
và không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng. Anh Tú nhất trí với yêu cầu của
4
chị H. Xét thấy chị H có đủ điều kiện chăm sóc, gần gũi, đảm bảo sự phát triển về
thể chất và tinh thần cho cháu Nguyễn Thị Tú A, do đó cần ghi nhận ý kiến đã
thống nhất của các đương sự.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: chị H không yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nên cần
được ghi nhận. Khi chị H và anh T có yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con,
mức cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về quyền thăm nom con: Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ trực tiếp nuôi
con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi
con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: chị H và anh T đều không yêu cầu Tòa án
giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: chị Linh Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án
Hôn nhân và gia đình để sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
[5]. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh
Cao Bằng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội
đồng xét xử cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều
83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 228,
Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Linh Thị H về việc ly hôn với Nguyễn
Xuân T.
1.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Linh Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Xuân
T.
1.2. Về con chung: Giao cho chị Linh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục
cháu Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 17/3/2020 (giới tính: Nữ) đến tuổi trưởng thành.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Linh Thị H, không yêu cầu anh Nguyễn Xuân
T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai
được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi xét thấy cần thiết, các bên có quyền yêu

5
cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức và phương thức cấp dưỡng nuôi
con chung.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: chị Linh Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm trong vụ án Hôn nhân và gia đình để sung vào ngân sách Nhà nước
nhưng được trừ vào số 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001120 ngày 05/11/2024 tại Chi Cục
Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận chị H đã nộp đủ
án phí.
3. Về quyền kháng cáo: các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa án tỉnh Cao Bằng;
- Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
- Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
- Thi hành án DS TP Cao Bằng;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê THị Hiền
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm