Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 15/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 15/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 15/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 1 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh |
| Số hiệu: | 15/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 30/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Hồ Thị T "tranh chấp vay tài sản" Nguyễn Khắc L |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thanh Giang.
Ông Võ Đức Huy.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân
Khu vực 1 – Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu
vực 1 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2024/TLST- DS
ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 100/2025/QĐXXST-DS ngày 09/5/2025 giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị T, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp Vàm Kinh, xã
Mỹ T1, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Trường Chinh, sinh năm 1974.
Địa chỉ: 752 Quốc Lộ 1A, Khu phố Bình Quân 2, phường Long An, tỉnh Tây
Ninh. (Có mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Khắc L, sinh năm 1982; (Vắng mặt)
2.2. Bà Phạm Thị Ánh H, sinh năm 1987; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp Vàm Kinh, xã Mỹ T1, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/11/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày
28/02/2025 và trong quá trình tố tụng của vụ án đại diện nguyên đơn ông Đặng
Trường Chinh trình bày: Bà T làm chủ hụi, ông L tham gia tổng cộng 07 dây
hụi gồm 08 phần cụ thể:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - TÂY NINH
Bản án số: 15/2025/DS-ST
Ngày: 22-7-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Dây hụi thứ nhất hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 10 ngày 30/02/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 27 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 14 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/5/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 09 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 18.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 02 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 06 (01 phần) ngày 30/10/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L.
Sau khi hốt hụi ông L phải đóng 31 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 16
kỳ hụi chết (đến ngày 30/03/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho
ông L 11 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 22.000.000 đồng phần
còn lại ông L bỏ phiêu hốt hụi kỳ thứ 07 ngày 30/11/2022, bà T giao hụi đầy đủ
cho ông L. Sau khi hốt hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ
đóng được 14 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã
choàng cho ông L 12 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 24.000.000
đồng.
Dây hụi thứ ba hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 15/11/2022 âm lịch, hụi
có 35 phần, hụi mãn ngày 15/10/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 06 ngày 15/4/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 29 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 10 kỳ hụi chết
(đến ngày 15/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 15/02/2025)với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ tư hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 03 ngày 30/7/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 18 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ năm hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 10 ngày 30/02/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 26 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 11 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ sáu hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 10/9/2022 âm lịch, hụi
có 34 phần, hụi mãn ngày 10/7/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 04 ngày 10/12/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 15 kỳ hụi chết
(đến ngày 10/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 10 kỳ
hụi chết (đến ngày 10/02/2025) với số tiền 20.000.000 đồng.
3
Dây hụi thứ bay hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 10/9/2022 âm lịch, hụi
có 34 phần, hụi mãn ngày 10/7/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 08 ngày 10/4/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 26 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 11 kỳ hụi
chết(đến ngày 10/4/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 10
kỳ hụi chết (đến ngày 10/02/2025) với số tiền 20.000.000 đồng.
Sau khi ông L hốt hết các dây hụi, hàng tháng đến ngày khui hụi và đóng
hụi thì ông L phải đóng từng lần đối với từng dây hụi mà ông L tham gia. Trong
tháng ông L tham gia 7 dây hụi khui nhiều ngày khác nhau, gồm 08 phần, do
chỗ chị em đã nhiều năm chơi hụi và ông L là người lo làm ăn rất uy tín nên bà
T rất tin tưởng. Thường khi sau khi khui hụi thì đến ngày gom hụi nhưng bà T
và ông L ngồi lại tính tổng cộng hàng tháng ông L phải đóng tiền hụi chết là
25.000.000 đồng, không đóng lắc nhắc từng dây mắc công. Đến tháng
11/2023(al) ông L có làm giấy xác nhận hàng tháng đóng hụi chết cho bà T là
25.000.000 đồng. Đến ngày đóng hụi ông L chuyển khoản cho bà T hoặc bà T
đến nhà ông L gom hụi nếu ông L không có ở nhà thì bà H đóng hụi. Sau đó có
tháng ông L đóng đủ có tháng đóng thiếu, hiện tại ông L còn nợ tiền hụi mà bà T
đã choàng cho ông L là 284.000.000 đồng. Từ đầu ông L tham gia hụi ghi tên
thường gọi ở nhà của ông L, không có ghi tên bà H và từ đó giờ bà T làm chủ
hụi là chỉ ghi tên một người vợ hoặc chồng chứ không ghi tên hai người, giao
hụi bà T cũng giao hụi cho ông L không có giao cho bà H, thi thoảng thì bà H đi
đóng hụi thay cho ông L chứ không thường xuyên, tầm một vài lần. Bà H là vợ
ông L thì bà H phải có trách nhiệm liên đới cùng ông L trả tiền hụi cho bà T vì
bà H và ông L là vợ chồng ông L chơi hụi để phục vụ cuộc sống gia đình nên bà
H phải có trách nhiệm liên đới cùng ông L trả nợ cho bà T. Bà H và ông L mới
ly hôn sau này, khi ông L tham gia hụi và hốt hụi là lúc bà H và ông L còn
chung sống với nhau bản thân bà H cũng xác định hiện tại bà H và ông L đã ly
hôn nhưng bà H vẫn sống chung nhà ông L chăm sóc gia đình chồng (ông L).
Trước khi bà T nộp đơn khởi kiện thì bà T có đến nhà gặp bà H yêu cầu đóng
hụi, nhưng từ khi nộp đơn khởi kiện đến nay thì bà T không có đến nhà bà H.
Bị đơn bà Phạm Thị Ánh H trình bày: Bà H không tham gia hụi của bà T
việc ông L tham gia hụi của bà T như thế nào thì bà H hoàn toàn không biết. Bà
H và ông L đã ly hôn có quyết định của Tòa án, bà H đã cung cấp. Hiện tại ông
L bỏ nhà đi đâu bà H hoàn toàn không biết, bà H vẫn chung sống và phụng
dưỡng cha mẹ chồng. Do đó theo yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà H không
đồng ý liên đới cùng ông L trả nợ vì bà H không biết việc này và không sử dụng
bất kỳ khoản tiền nào của ông L. Bà H chưa từng đi đóng hụi cho bà T, có lần
ông L đưa mấy triệu kêu bà H đến đưa cho bà Út để đóng hụi thì bà H cứ tưởng
ông L tham gia hụi với bà Út chứ bà H không biết ông L có tham gia hụi của bà
T. Trước đó khoảng ba bốn tháng bà T có điện thoại cho bà H đòi tiền hụi thì bà
H có hỏi ông L tiền hụi gì mà chị Thúy đòi thì ông L nói chơi hụi dùm chị Kim
là chị ruột ông L mà chị Kim bị đổ nợ nên đâu có đưa tiền để đóng hụi. Khoảng
hơn 2 tháng nay thì bà T có đến nhà gặp bà H đòi tiền hụi thì chổ hàng xóm bà
H có nói với chị Thúy là hụi này là hụi của chị Kim mà chị Kim bị đổ nợ nên chị
4
Thúy thông cảm để bà H nói lại với gia đình và ông L sắp xếp đóng hụi cho chị
Thúy.
Bị đơn là ông Nguyễn Khắc L đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ
án, nhiều lần thông báo về phiên hòa giải nhưng ông L không có ý kiến gì đối
với yêu cầu khởi kiện của bà T và cũng không tham gia hòa giải nên không tiến
hành hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh tham gia phiên tòa
phát biểu việc kiểm sát tuân theo pháp luật của thẩm phán xây dựng hồ sơ đúng
trình tự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử trong quá trình xét hỏi
tranh luận tại phiên tòa thể hiện khách quan. Về ý kiến giải quyết vụ án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định: bà Hồ Thị T yêu cầu bà Phạm Thị Ánh H và ông Nguyễn Khắc L liên đới
trả tiền nợ choàng hụi, như vậy tranh chấp giữa bà T với bà H và ông L là tranh
chấp hợp đồng góp hụi. Căn cứ vào nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Tây Ninh theo quy định tại
Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm giao kết hợp đồng góp
hụi, Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ đang có hiệu
lực thi hành nên được áp dụng để giải quyết tranh chấp.
Bị đơn là ông Nguyễn Khắc L và bà Phạm Thị Ánh H vắng mặt trong suốt
quá trình tố tụng nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Khắc L và bà Phạm
Thị Ánh H theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Xét yêu cầu khởi kiện của bà T thấy rằng: bà T làm chủ hụi, ông L
tham gia tổng cộng 7 dây hụi gồm 08 phần cụ thể:
Dây hụi thứ nhất hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 10 ngày 30/02/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 27 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 14 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/5/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 09 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025) với số tiền 18.000.000 đồng
Dây hụi thứ hai hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 02 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 06 (01 phần) ngày 30/10/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L.
Sau khi hốt hụi ông L phải đóng 31 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 16
kỳ hụi chết (đến ngày 30/03/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho
ông L 11 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2025) với số tiền 22.000.000 đồng phần
còn lại ông L bỏ phiêu hốt hụi kỳ thứ 07 ngày 30/11/2022, bà T giao hụi đầy đủ
cho ông L. Sau khi hốt hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ
5
đóng được 14 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã
choàng cho ông L 12 kỳ hụi chết (đến ngày 30/02/2025)với số tiền 24.000.000
đồng.
Dây hụi thứ ba hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 15/11/2022 âm lịch, hụi
có 35 phần, hụi mãn ngày 15/10/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 06, ngày 15/4/2023. Bà T giao hụi đầy đủ cho ông L, sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 29 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 10 kỳ hụi chết
(đến ngày 15/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 15/02/2025) với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ tư hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 03 ngày 30/7/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 18 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025) với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ năm hụi 5.000.000 đồng, hụi mở ngày 30/5/2022 âm lịch, hụi
có 37 phần, hụi mãn ngày 30/6/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 10 ngày 30/02/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 26 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 11 kỳ hụi chết
(đến ngày 30/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 12 kỳ
hụi chết (đến ngày 30/02/2025) với số tiền 60.000.000 đồng.
Dây hụi thứ sáu hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 10/9/2022 âm lịch, hụi
có 34 phần, hụi mãn ngày 10/7/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 04 ngày 10/12/2022, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 30 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 15 kỳ hụi chết
(đến ngày 10/02/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 10 kỳ
hụi chết (đến ngày 10/02/2025) với số tiền 20.000.000 đồng.
Dây hụi thứ bảy hụi 2.000.000 đồng, hụi mở ngày 10/9/2022 âm lịch, hụi
có 34 phần, hụi mãn ngày 10/7/2025, ông L tham gia 01 phần, ông L bỏ phiêu
hốt hụi kỳ thứ 08 ngày 10/4/2023, bà T giao hụi đầy đủ cho ông L. Sau khi hốt
hụi ông L phải đóng 26 kỳ hụi chết nhưng ông L chỉ đóng được 11 kỳ hụi chết
(đến ngày 10/4/2024 thì ngưng cho đến nay) bà T đã choàng cho ông L 10 kỳ
hụi chết (đến ngày 10/02/2025) với số tiền 20.000.000 đồng.
Hiện tại ông L không đóng hụi chết, bà T không có khả năng choàng hụi,
nên ông L nợ kỳ hụi chết nào thì bà T kiện kỳ hụi đó để gom giao cho hụi viên.
Long đóng hụi chết đến ngày 30/02/2024 thì ngưng, tính đến nay bà T đã
choàng hụi cho ông L trong 07 dây hụi có 08 phần với số tiền 284.000.000 đồng.
Người biết sự việc bà Nguyễn Thị Út trình bày: Bà Út là lối xóm với bà
T; ông L, bà H và bà Út tham gia hụi chung do bà T làm chủ hụi. Bà Út tham gia
hụi do bà T làm chủ nay rất lâu, hơn 5 năm. Bà T khui dây hụi nào là bà Út tham
gia dây hụi đó.Trong dây hụi ông L ghi tên Bu Ly là tên thường gọi ở nhà của
ông L. Nhà bà Út ở gần nhà ông L, bà Út rất thân với ông L, thân hơn chị Thúy

6
chủ hụi. Long là tài xế xe, hôm nào Long chạy xe chưa về kịp thì gửi tiền nhờ bà
Út đóng hụi dùm, có hôm vợ Long đem tiền xuống gửi bà Út nói anh Long kêu
em xuống gửi nhờ chị đóng hụi dùm, có hôm em vợ ông L đem tiền xuống gửi.
Long rất đàng hoàng nhưng ko biết lý do như thế nào mà xảy ra cớ sự này. Hồng
vợ Long có đến nhờ bà Út đóng hụi dùm tầm 2 hay 3 lần; bà Út nghỉ hụi này là
của vợ chồng chứ ko phải của riêng cá nhân Long vì bản thân ông L rất có trách
nhiệm với gia đình. Một mình ông L làm quán xuyến lo kinh tế gia đình, ông L
kể hốt hụi về sửa nhà mua sắm trong gia đình.
Do đó bà T khởi kiện yêu cầu bà H và ông L liên đới trả cho bà T số tiền
nợ hụi là 284.000.000 đồng là phù hợp nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông Đặng Trường Chinh – đại diện theo ủy quyền của bà T
rút một phần yêu cầu đối với 3.000.000 đồng tiền nợ hụi, việc rút yêu cầu của
nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, nên đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện
của bà T.
[3] Tại phiên tòa, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1
– Tây Ninh là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ Luật tố
tụng dân sự và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì yêu cầu của bà T được chấp nhận
nên bà H và ông L phải chịu toàn bộ tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Điều 16, Điều 17 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính
phủ.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Thị T đối với bà Phạm Thị Ánh H và ông
Nguyễn Khắc L về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Phạm Thị Ánh H và ông Nguyễn Khắc L phải liên đới trả cho bà
Hồ Thị T 284.000.000 đồng tiền hụi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà Phạm Thị Ánh H và ông Nguyễn
Khắc L còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị T về tranh chấp hợp
đồng góp hụi với bà Phạm Thị Ánh H và ông Nguyễn Khắc L.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Phạm Thị Ánh H và ông Nguyễn
Khắc L phải liên đới chịu 14.200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà Hồ
7
Thị T không phải chịu án phí, hoàn trả cho Hồ Thị T 4.675.000 đồng tiền tạm
ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009330 ngày 21/10/2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
3. Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 22/7/2025). Đương sự vắng
mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND khu vực 1 – Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ, án văn.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Lưu Thủy
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 18/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm