Bản án số 1418/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1418/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 1418/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1418/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Hủy Hợp đồng góp vốn đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số 37/KDC-BC/HĐGV ngày 13/5/2022; Bà Nguyễn Thị P có trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T số tiền 444.110.000 đồng; thanh toán 131.483.650 đồng tiền lãi; bồi thường thiệt hại 88.822.000 đồng, tổng cộng 664.415.650 đồng ..
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 2 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1418/2025/DS-ST
Ngày: 30/9/2025
V/v tranh chấp hợp đồng góp vốn
chuyển nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền Lũy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tường Thư
2. Bà Nguyễn Thúy Hoa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Ngọc Huệ - Kiểm sát viên.
Thư phiên tòa: Trần Thị Ngọc Hoa - TTòa án nhân dân Khu
vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 30 tháng 9 m 2025, tại trụ sTòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
2502/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng
góp vốn chuyển nhượng quyền sdụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 1836/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn
phiên a số 2687/2025/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2025, giữa các đương
sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1982
Địa chỉ: số nhà B đường B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Giang N, sinh năm 1984
Địa chỉ: số nhà A B, khu nhà quân đội, số D đường P, phường H,
Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Bị đơn:Nguyễn Thị P, sinh năm 1959
Địa chỉ: số nhà D đường D, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn ông Nguyễn
Thanh T và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền ông Phạm Giang N:
2
Do nhu cầu nhận chuyển nhượng đất nên ngày 05/5/2022 ông Nguyễn
Thanh T đã liên hệ với Công ty TNHH Đ để giao dịch. Sau khi được công ty Đ
giới thiệu dán đất nền tại khu dân B, Nguyễn Thị P chủ dự án, ông T
đồng ý góp vốn mua một nền đất diện tích 50,78 m
2
với giá 2.488.220.000
đồng. Ông T đồng ý đặt cọc 100.000.000 đồng theo Phiếu đặt cọc ngày
05/5/2022 của công ty Đ. Trên sở phiếu đặt cọc, ngày 13/5/2022 ông T
Nguyễn Thị P hợp đồng góp vốn đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ở với nội dung bà Phước là bên nhận góp vốn (bên A) đồng ý nhận vốn
góp của n góp vốn ông T (bên B) góp vốn nền đất số 37-KDC B, diện tích
50,78 m
2
, giá trị vốn góp 2.488.220.000 đồng, ngày 05/5/2022 đã p
100.000.000 đồng trong vòng 7 ngày kể từ ngày 05/5/2022 ông T phải góp
vốn đủ stiền 1.244.110.000 đồng, tương đương 50% trị giá tài sản. Trong thời
gian 18 tháng kể từ ngày ông T góp tiền đợt 2, bên nhận góp vốn hợp đồng
chuyển nhượng tại Phòng công chứng bên B góp tiếp 50% stiền còn lại
1.244.110.000 đồng bằng hình thức thông qua giải ngân tại ngân hàng vào tài
khoản của bên A. Sau khi đăng bộ sang tên cho bên B, bên A bàn giao giấy
chứng nhận cho ngân hàng hoặc bên B....Thời hạn bàn giao nền đất trong 10
ngày kể từ ngày giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra tại mục 6.2.2
Điều 6 của hợp đồng quy định về vi phạm hợp đồng như sau: “... Bên A được
quyền gia hạn trong thời gian 30 ngày nhưng phải chịu lãi suất 1%/tháng/số
tiền bên B đã góp. Hết thời gian gia hạn, bên B được quyền đơn phương chấm
dứt hợp đồng yêu cầu bên A thanh toán lãi suất sau thời gian quy định tại
khoản 6.2.1 Điều 6 cho đến khi yêu cầu chấm dứt hợp đồng của bên B
phạt vi phạm hợp đồng bằng 20%/số tiền bên B đã góp”.
Thực hiện hợp đồng, ngày 13/5/2022 ông T đã chuyển số tiền đợt 2
1.114.110.000 đồng vào tài khoản của Phước và Phước giấy xác
nhận chuyển khoản, xác nhận nhận của ông T 1.114.110.000 đồng, thu đợt 2
hợp đồng góp vốn chuyển nhượng quyền sdụng đất dự án KDC B. Tổng số
tiền ông T đã đặt cọc thanh toán 1.214.110.000 đồng. Do Phước không
triển khai thực hiện dự án, quá thời hạn 18 tháng công ty không hợp đồng
giao đất theo thỏa thuận nên ông T đề nghị hủy hợp đồng, yêu cầu Phước
hoàn trả tiền, Phước đồng ý nhưng hai bên chỉ thỏa thuận trao đổi qua điện
thoại, không văn bản. Ngày 3 đã chuyển tiền vào tài khoản trả cho ông T số
tiền 800.000.000 đồng, số còn lại bà Phước không hoàn trả.
Do bà Nguyễn Thị P vi phạm nghĩa vụ cam kết nên ông T yêu cầu hủy Hợp
đồng góp vốn đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 37/KDC-
BC/HĐGV ngày 13/5/2022; Yêu cầu Phước hoàn trả số tiền 444.110.000
đồng và thanh toán tiền lãi cụ thể như sau:
+ Từ ngày 13/11/2023 đến ngày 29/3/2024: 1.244.110.000 đồng x 4,5
tháng x 1% = 55.984.950 đồng;
+ Từ ngày 01/4/2024 đến ngày 30/9/2025: 444.110.000 đồng x 17 tháng x
1% = 75.498.700 đồng.
Tổng số tiền lãi 131.483.650 đồng.
3
Ngoài ra do Phước vi phạm hợp đồng nên yêu cầu Phước phải bồi
thường số tiền 248.822.000 đồng, tương đương 20%/trên tổng số tiền góp vốn
theo quy định tại điểm b, mục 6.1.2 Điều 6 của hợp đồng.
Số tiền ông T đặt cọc cho Công ty Đ ngày 05/5/2022, công ty đã chuyển
cho bà Phước nên công ty không còn liên quan.
Bị đơn Nguyễn Thị P đã được Tòa án đã tống đạt thông báo thụ vụ
án, đồng thời triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thay đổi về số
tiền bồi thường thiệt hại. Bị đơn đã được triệu tập hợp lđến lần thứ hai nhưng
vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án, Tòa án đã thực hiện các trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015, đảm bảo cho các đương sự các quyền nghĩa vụ
khi tham gia tố tụng.
Về nội dung: căn cứ Hợp đồng góp vốn số 37/KDC-BC/HĐGV ngày
13/5/2022 do Nguyễn Thị P kết với ông Nguyễn Thanh T sở xác
định hai bên xác lập giao dịch góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, thỏa thuận trong thời hạn 18 tháng kể từ ngày bên góp vốn góp đủ 50% trị
giá phần vốn góp bên nhận góp vốn skết hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất theo quy định. Ngày 13/5/2022, nguyên đơn đã góp 1.244.110.000
đồng cho bị đơn, bằng 50% trị giá hợp đồng đúng theo thỏa thuận nhưng do bị
đơn vi phạm về thời hạn kết hợp đồng chuyển nhượng giao đất nên ngày
30/3/2024 bị đơn hoàn trả cho nguyên đơn 800.000.000 đồng. Do bị đơn vi
phạm hợp đồng nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, hủy Hợp đồng góp vốn số 37/KDC-BC/HĐGV ngày 13/5/2022. B
đơn trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền góp vốn 444.110.000 đồng,
thanh toán 131.483.650 đồng tiền lãi và bồi thường 88.822.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hván được thẩm
tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan
điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự được xác định “Tranh chấp
hợp đồng góp vốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại Khoản
3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án.
4
[1.2] Thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp phát sinh từ giao dịch góp vốn
(đặt cọc) chuyển nhượng quyền sử dụng đất đất tọa lạc tại phường T n vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ
Chí Minh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về thủ tục xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Tòa
án đã xác minh về tình trạng cư trú và tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối
với bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt. Xét thấy bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham
gia phiên tòa ngày 08/9/2025 nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xphải hoãn
phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, Tòa án tiếp tục triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ
hai tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ Khoản 2 Điều 227
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung: Nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng góp vốn; yêu cầu bị
đơn hoàn trả số tiền 444.110.000 đồng, một phần trong tổng số tiền
1.244.110.000 đồng nguyên đơn đã giao cho bị đơn để nhận chuyển nhượng nền
đất số 37-KDC B diện tích 50,78 m
2
, trị giá 2.488.220.000 đồng thanh
toán tiền lãi, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.
[2.1] Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không tham gia phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, không giao nộp
chng c chứng minh vviệc đã hoàn trả đầy đủ tiền góp vốn cho nguyên đơn.
Tòa án cũng không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.2] Xét, căn cứ lời khai của nguyên đơn phù hợp với Hợp đồng góp vốn
số 37/KDC-BC/HĐGV do bà Nguyễn Thị P kết với ông Nguyễn Thanh T
ngày 13/5/2022 có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn có giao dịch ký kết hợp
đồng góp vốn nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất. Nội dung hợp đồng
Giấy xác nhận chuyển khoản ngày 13/5/2022 do nguyên đơn cung cấp thể hiện
nguyên đơn đã góp số tiền 1.244.110.000 đồng đúng với thỏa thuận về phương
thức thời gian thanh toán quy định tại hợp đồng. Như vậy có sở xác định
nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ góp vốn theo Điều 2 của hợp đồng.
Theo nguyên đơn do đã quá thời hạn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất bàn giao đất nhưng dự án không được triển khai nên không thể tiếp
tục thực hiện hợp đồng. vậy nguyên đơn đề nghị hủy bỏ hợp đồng, phía bị
đơn cam kết hoàn trả tiền nhưng không thực hiện đầy đủ gây thiệt hại đến quyền
lợi của nguyên đơn. Tại Điều 2 hợp đồng quy định thời hạn kết hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất 18 tháng kể t ngày bên B góp vốn đợt 2. Căn cứ Giấy xác nhận chuyển
khoản do Nguyễn Thị P ký sxác định nguyên đơn đã thực hiện đúng
nghĩa vụ của bên mua, góp vốn đợt 2 đầy đủ vào ngày 13/5/2022, quá thời hạn
bị đơn không kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bàn giao
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn bị đơn đã vi phạm hợp
đồng nên nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng góp vốn số 37/KDC-BC/HĐGV
5
ngày 13/5/2022, hoàn trả tiền góp vốn, thanh toán tiền lãi và bồi thường thiệt hại
là có cơ sở chấp nhận.
Nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã hoàn trả 800.000.000 đồng vào ngày
30/3/2024 nên bị đơn còn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 444.110.000
đồng; phải chịu lãi suất 1%/tháng trên số tiền nguyên đơn góp vốn tính từ ngày
nguyên đơn góp vốn cho đến khi bị đơn hoàn trả tiền góp vốn cho nguyên đơn
bồi thường thiệt hại (phạt vi phạm hợp đồng) bằng 20%/ số tiền nguyên đơn
góp vốn theo quy định tại mục 6.2.2 Điều 6 của Hợp đồng góp vốn ngày
13/5/2022.
Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý giảm số tiền bồi thường thiệt hại, chỉ yêu
cầu phạt vi phạm hợp đồng bằng 20% trên số tiền bị đơn chưa thanh toán là phù
hợp và lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì vậy b đơn trách
nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T s tiền 444.110.000 đồng, thanh toán
131.483.650 đồng tiền lãi (từ ngày 13/5/2022 đến ngày 29/3/2024 1.244.110.000
đồng x 4,5 tháng x 1% = 55.984.950 đồng; từ ngày 01/4/2024 đến ngày
30/9/2025: 444.110.000 đồng x 17 tháng x 1% = 75.498.700 đồng) và bồi
thường thiệt hại 88.822.000 đồng (444.110.000 đồng x 20%).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp, đúng
quy định nên được chấp nhận.
[3] n phí dân sự thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị
đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 147 Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều
39; Khoản 1 Điều 147; Khoản 1, Khoản 2 Điều 269; Điều 271 Khoản 1 Điều
273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 385; 423 và Điều 425 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T đối với
Nguyễn Thị P về việc “Tranh chấp hợp đồng góp vốn chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”;
Hủy Hợp đồng góp vốn đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
số 37/KDC-BC/HĐGV ngày 13/5/2022;
Nguyễn Thị P trách nhiệm hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh T s tin
444.110.000 đồng; thanh toán 131.483.650 đồng tiền lãi; bồi thường thiệt hại
6
88.822.000 đồng, tổng cộng 664.415.650 (sáu trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm
mười lăm ngàn sáu trăm năm mươi) đồng.
Về tiền lãi: Nguyễn Thị P phải chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa
thanh toán tính từ ngày 01/10/2025 cho đến khi thanh toán toàn bộ số tiền cho
ông T theo mức lãi suất thỏa thuận 1%/tháng.
2. n phí dân sự sơ thẩm:
Nguyễn Thị P phải chịu 30.576.626 (ba mươi triệu năm trăm bảy mươi
sáu ngàn sáu trăm hai mươi sáu) đồng, nộp tại Thi hành án dân sự Thành phố H.
Ông Nguyễn Thanh T được nhận lại 17.766.860 (mười bảy triệu bảy trăm
sáu mươi sáu ngàn m trăm sáu mươi) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai
thu số 0067358 ngày 19/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sthành phố Thủ
Đức, nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị:
Đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh quyền
kháng nghị trong thời hạn 15 ngày; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh có quyền kháng nghị trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi nh án
hoặc bị cưỡng chế thi hánh án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND TP. HCM; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TP. HCM;
- VKSND KV2 - TP . HCM;
- THADS TP. HCM;
- Đương sự;
- Lưu: VP, Hồ sơ.
Cao Thị Hiền Lũy
Tải về
Bản án số 1418/2025/DS-ST Bản án số 1418/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 1418/2025/DS-ST Bản án số 1418/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất