Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 25/06/2024 của TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Ninh Giang (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 14/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Cẩm V xin ly hôn anh Nguyễn Văn V1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25/6/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG- TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quý Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Triệu Ngọc Vạn.
2. Ông Nguyễn Tất Trọng.
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư Tòa án nhân dân
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân n huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương
tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án thụ số:
37/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày
04 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 12/2024/QĐST- HNGĐ, ngày
21/6/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, sinh năm 1994; (Có mặt).
Nơi ĐKHKTT: Thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương;
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1989 (Có mặt)
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn C, xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm V
trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn V1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, được
UBND K, huyện N tổ chức đăng cấp giấy chứng nhận kết hôn o ngày
25/7/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng với bố mẹ chồng. Quá trình
chung sống, vchồng sống hạnh phúc chđược vài năm đầu, sau đó xảy ra nhiều
mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, không hợp nhau
trong cách sống sinh hoạt và phát triển kinh tế gia đình, dẫn đến tình cảm vợ chồng
ngày càng lạnh nhạt. Anh V1 dấu hiệu trầm cảm, nhiều khi mắng, chửi chị
không có do. Do quá chán nản nên chị đã bế con về nhà mẹ đẻ thôn B, T,
huyện N, tỉnh Hải Dương từ tháng 12/2022 đến nay. Vợ chồng sống ly thân kể từ
thời điểm chị bỏ về nhà mẹ đẻ đến nay, không ai quan tâm đến ai. Chị xác định
tình cảm vợ chồng đã hết, hôn nhân không còn hạnh phúc nên khởi kiện xin ly hôn
anh V1.
Về quan hệ con chung: Chvà anh V1 một con chung Nguyễn Tuệ N,
sinh ngày 06/5/2016. Hiện con chung đang do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn,
chị nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Tuệ N đến khi
con chung đ18 tuổi (thành niên). Chị tự nguyện không yêu cầu anh V1 phải cấp
dưỡng cho con.
Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn V1: Quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt hợp lệ
Thông báo về việc thụ vụ án, Thông báo vphiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy
triệu tập anh V1 đến làm việc, tham gia phiên họp song anh đều vắng mặt không
do. Anh chỉ mặt tại phiên tòa ngày 21/6/2024 nhưng đơn đề nghị hoãn
phiên tòa để thu thập tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án. Anh xác định về điều
kiện kết hôn và chung sống như chị V trình bày, anh xác định vợ chồng mâu thuẫn,
nguyên nhân mâu thuẫn do chị V quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác
nên anh nhất trí ly hôn.
Về quan hệ con chung: Anh xác định vợ chồng 01 con chung như chị V
trình bày. Anh đề nghị được nuôi con chung không yêu cầu chị V phải cấp
dưỡng cho con. Anh hiện đang làm tại công ty S địa chỉ: Cầu R, N, huyện N,
tỉnh Hải Dương với mức lương khoảng 7 đến 8 triệu đồng/tháng. Ngoài ra, anh làm
ca đêm từ 20 giờ tối đến 07 giờ 30 phút sáng thì lương khoảng 10 - 11 triệu
đồng/tháng. Ngoài ra anh được bố mẹ hỗ trợ chăm sóc con chung như chỗ ở và đưa
đón con chung đi học nên điều kiện chăm sóc con chung tốt hơn chị V.
Chính quyền địa phương K cung cấp: Chị Nguyễn Thị Cẩm V anh
Nguyễn Văn V1 kết hôn với nhau hợp pháp vào ngày 25/7/2015. Sau ngày cưới vợ
chồng sinh sống tại nhà bố mẹ anh V1. Quá trình chung sống vchồng không
mâu thuẫn gì lớn nhưng đến năm 2021 chị V đã tự ý bỏ đi, gia đình anh V1 không
hiểu do sao nên xác định quan điểm chỉ giữ người chứ không giữ kẻ đi nên
không đến tìm chị V về đoàn tụ. Do chị V đã bỏ đi nhiều năm nay nên anh V1 nghi
ngờ sự chung thủy của chị V. Mặt khác, anh V1 phải đi làm công ty, đi sớm về
muộn nên không đến Tòa án làm việc, mặc Tòa án đã triệu tập nhiều lần. Quan
điểm của anh V1 cũng không muốn vchồng đoàn tụ. Anh V1 gia đình muốn
được nuôi con chung sợ chị V không đảm bảo điều kiện nuôi con. Nay chị V
khởi kiện xin ly hôn, giải quyết việc nuôi con đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật. Vchồng chị V, anh V1 một con chung Nguyễn Tuệ N,
sinh ngày 06/5/2016, hiện nay con chung đang do chị V nuôi dưỡng. Đề nghị Toà
án dưỡng căn cứ vào thu nhập, điều kiện hai bên và quy định của pháp luật để giao
con chung cho người có thể đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc với điều kiện tốt nhất.
Bùi Thủy P (mẹ đẻ chị V) trình bày: xác định chị V, anh V1 kết hôn
đăng kết hôn tại UBND K, huyện N vào năm 2015. Quá trình chung
sống vợ chồng chị V, anh V1 xảy ra mâu thuẫn do chị V tâm sự với bà là vợ chồng
không hạnh phúc. Do mâu thuẫn chị V đã đưa theo con gái vsinh sống cùng với
vào khoảng cuối năm 2022 đến nay, trong thời gian hai mẹ con sinh sống cùng
gia đình thì chị V không quay trở về nhà chồng anh V1 cũng không một lần
sang thăm gặp, hỏi han vợ con. Bà nhận thấy chị V, anh V1 đã ly thân 02 năm nay,
không quan tâm đến nhau, mỗi người một cuộc sống riêng nên đề nghị Tòa án
căn cứ các quy định của pháp luật để giải quyết cho chị V ly hôn anh V1. Chị V,
anh V1 một con chung Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 06/5/2016. Hiện con chung
đang do chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện nay người htrợ cơm nước, đưa
đón cháu N đi học giúp chị V. Quan điểm của cháu N mong muốn được với mẹ
nên đề nghị Tòa án giao cháu N cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng, cam kết sẽ hỗ
trợ chị V trong việc giáo dục, nuôi dưỡng cháy N. Hiện bà đang sống một mình,
nhà cửa rộng rãi nên đảm bảo đủ điều kiện cho mẹ con chị V ở cùng bà.
Tại phiên tòa:
Chị V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đnghị Tòa án giải quyết cho chị
ly hôn anh V1; giao con chung là Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 06/5/2016 cho chị tiếp
tục nuôi dưỡng.
Anh V1 xác định tình cảm vợ chồng không biện pháp cải thiện để vợ
chồng đoàn tụ nên nhất tly hôn chị V; Anh đề nghị Tòa án giao con chung
Nguyễn Tuệ N, sinh ngày 06/5/2016 cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không yêu
cầu chị V phải cấp dưỡng cho con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang quan điểm xác định
việc Tòa án thụ lý, quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Cẩm
V đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Đnghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp
dụng các điều 55, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 227; Điều
228 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS); Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị
Nguyễn Thị Cẩm V anh Nguyễn Văn V1; giao con chung Nguyễn Tuệ N,
sinh ngày 06/5/2016 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của
chị Nguyễn Thị Cẩm V về việc không yêu cầu anh V1 phải cấp dưỡng cho con; chị
V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, ý kiến của đương sự trong phần tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Cẩm V anh Nguyễn Văn V1 đều trú
tại huyện N, tỉnh Hải Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của a án
nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28;
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm V anh Nguyễn Văn V1 kết
hôn với nhau trên sở tnguyện, được UBND xã K, huyện N, tỉnh Hải Dương
nơi sinh sống của anh V1 tổ chức đăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn, việc
kết hôn không vi phạm điều cấm của luật nên hôn nhân giữa chị V anh V1
hợp pháp.
Chị V khởi kiện xin ly hôn, anh V1 biết việc chị V khởi kiện xin ly hôn,
việc Tòa án triệu tập nhưng anh không đến làm việc, không bày tỏ quan điểm đối
với yêu cầu khởi kiện. Anh chỉ trình bày quan điểm tại phiên tòa đối với yêu cầu
khởi kiện của chị V. Do vchồng mâu thuẫn nên chị V bỏ về thôn B, T, huyện
N, tỉnh Hải Dương sinh sống, hai người ly thân, không gặp gỡ, quan tâm đến
nhau. Nay chị V khởi kiện xin ly hôn, tại phiên tòa anh V1 cũng xác định tình cảm
không còn nên nhất trí ly hôn. Điều đó, chứng tỏ hôn nhân đã lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được
nên để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các đương sự. HĐXX căn cứ Điều 55
Luật Hôn nhân gia đình cần ng nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn
Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn V1.
- Về quan hệ con chung: Chị V, anh V1 có một con chung là Nguyễn Tuệ N,
sinh ngày 06/5/2016. ChV và anh V1 đều đề nghị giao con chung cháu N cho
chị anh nuôi dưỡng và đều không yêu cầu bên không nuôi con phải cấp dưỡng
cho con. Căn cứ vào quy định của pháp luật, biên bản xác minh ngày 15/5/2024,
lời khai của Bùi Thủy P (mẹ đẻ chị V). Xét điều kiện nuôi con của cả hai bên
đương sự là ngang nhau. Mặt khác, con chung Nguyễn Tuệ N nguyện vọng
được với mẹ chị V, cháu N con gái rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng giáo
dục của người mẹ chị V. Hiện nay con chung cháu N đang cùng với chị V
tại nhà Bùi Thủy P (bà ngoại) nhà cửa rộng rãi nên đảm bảo đủ điều kiện cho
hai mẹ con chị V cùng bà. P người hỗ trợ chị V trong việc giáo dục, nuôi
dưỡng, chăm sóc cháu N nên HĐXX giao con chung là Nguyễn Tuệ N, sinh ngày
06/5/2016 cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V không
yêu cầu anh V1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Vquan hệ tài sản chung, vay nợ chung, công sức: Do không yêu cầu
nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V tự nguyện nộp cả án phí dân sự
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55; các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4
Điều 147, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn
Thị Cẩm V và anh Nguyễn Văn V1.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị Cẩm V tiếp tục trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Tuệ N, sinh ngày
06/5/2016 cho đến khi con đủ 18 tuổi (thành niên). Chấp nhận sự tự nguyện của
chị V về việc không yêu cầu anh V1 phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn V1 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai
được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Cẩm V phải chịu 150.000đ (Một trăm năm
mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn), được đối trừ với số tiền
300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Ninh Giang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
BLTU/23/0003519, ngày 26 tháng 02 năm 2024. Hoàn trả lại chị V số tiền 150.000
đồng.
4. Vquyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Cẩm V, anh Nguyễn Văn V1
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/6/2024).
Nơi nhận:
- VKSND huyện Ninh Giang;
- Chi cục THA dân sự huyện Ninh Giang;
- UBND xã K, huyện N;
- Đương sự;
- Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Quý Long
Tải về
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất