Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Krông Bông (TAND tỉnh Đắk Lắk)
Số hiệu: 14/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/06/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P chung sống với nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 14/02/2011. Chung sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chị P có tính hay chơi cờ bạc nên xảy ra mâu thuẫn gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Anh Tuấn xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK
Bn án s: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13 6 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chp v nuôi
con.
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
C CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LK
- Thành phn Hội đồng xét x thẩm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
Các Hi thm nhân dân: Ông Nguyễn Thường; Ông Rmah In.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Th Nga Thư ký Tòa án nhân dân huyn Krông
Bông.
- Đại din Vin kim sát nhân dân huyn Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông
Lê Thanh Nim Kim sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, ti tr s Tòa án nhân dân huyn Krông Bông, xét
x thẩm công khai v án hôn nhân gia đình th s 176/2023/TLST-HNGĐ ngày
26 tháng 10 năm 2023 v việc “Ly hôn, tranh chp v nuôi contheo Quyết định đưa
v án ra xét x s 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024; Quyết định hoãn phiên
tòa s 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2024, gia các đương sự:
Nguyên đơn: Anh N Xuân T, sinh năm 1985 (có mt)
Địa chỉ: Xóm Đồng T, Đồng T, huyn Yên T, tnh Ngh An.
B đơn: Ch Nguyn Th P, sinh năm 1989
Đa ch: Thôn B, xã Khuê Ngọc Đ, huyn Krông B, tỉnh Đk Lk. (vng mt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khi kin ngày 05/10/2023, bn t khai các tài liu chng c đã
xut trình nguyên đơn anh Ngô Xuân T, trình bày:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Xuân T chị Nguyễn Thị P chung sống với
nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND Đồng T, huyện
2
Yên T, tỉnh Nghệ An. Sau khi đăng kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được
06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ch
P tính hay chơi cờ bạc nên thường hay cãi nhau, anh T khuyên nhủ nhưng chị P
không nghe. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Anh
T xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục
đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải
quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P.
[2] V con chung: Anh Ngô Xuân T ch Nguyn Th P 02 người con chung,
cháu tên Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010; Ngô Th P1, sinh ngày 22/9/2013.
Khi ly hôn, anh T nguyn vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Ngô Xuân
T1. Giao cháu Ngô Th P1 cho ch P trc tiếp nuôi dưỡng.
Ti bn t khai ngày 26/10/2023 cháu Ngô Xuân T1 khai: Cháu con ca m
Nguyn Th P ba Ngô Xuân T. Hin ti cha m đã không còn vi nhau na
đang làm thủ tc ly hôn, khi cha m cháu ly hôn không vi nhau na, cháu mun
đưc trc tiếp vi ba Ngô Xuân T.
Ti bn t khai ngày 26/10/2023 cháu Ngô Th P1 khai: Cháu con ca m
Nguyn Th P ba Ngô Xuân T. Cháu vn biết ba m đang làm thủ tc ly hôn,
khi cha m cháu ly hôn không vi nhau na, cháu mun đưc trc tiếp vi m P
ông ngoi. t nh cháu được ông ngoi Nguyn Xuân A ngoi
Nguyn Th N chăm sóc nuôi dưỡng, mc m không gần nhưng mẹ vẫn thường
xuyên gọi điện thoi và quan tâm cháu và có gi tin v cho ông bà ngoi.
[3] V cấp dưỡng: Anh T không yêu cu gii quyết.
[4] V tài sn chung và n chung: Anh T không yêu cu Tòa án gii quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P không hợp tác nên không thể làm việc được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương: Chị Nguyễn Thị P hiện vẫn còn đăng
hộ khẩu thường trú tại thôn B, Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, chủ hộ ông
Nguyễn Xuân A cha chị P, mNguyễn Thị N. Hiện nay chị Nguyễn Thị P
không mặt tại địa phương, đang đi làm xa Phú Quốc nhưng không địa chỉ, chị
P vẫn thường xuyên về thăm con gái và gia đình, mới đây chị Pvề tại Công an xã
Khuê Ngọc Đ m căn cước công dân.
Tòa án đã niêm yết Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ tại chính quyền địa phương nơi trú của bđơn.
3
Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị P đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa
giải được.
Ti bn t khai ngày 25/3/2024 ông Nguyn Xuân A, khai: tôi cha rut ca
Nguyn Th P, là b v ca Ngô Xuân T. Vic ly hôn thì do v chng quyết định, vì
thc tế các con đã không còn với 08 năm rồi. Cháu ngoi Ngô Th P1 đang vi
gia đình tôi từ lúc hơn một tuổi đến bây gi. Do con gái đi làm ăn xa nên gi cháu P1
cho gia đình tôi nuôi ng, có gi tin v cho tôi để nuôi cháu P1 ăn học. Tòa án đã
gửi các văn bản cho tôi để tôi giao cho con tôi, sau khi nhận được các văn bản ca
Tòa án tôigi cho con gái thông báo ni dung và nói con v để gii quyết ly hôn
nhưng con gái nói đi làm ăn xa không về đưc.
Qua xác minh ti ban t qun thôn B, Khuê Ngọc Đ: Ch P đăng hộ
khu ti thôn B nhưng hiện không có mt địa phương, vừa ri có v nđ m căn
c công dân, ban t quản được biết hin cháu cháu Ngô th P1 đang trực tiếp vi
gia đình ông Nguyễn Xuân A.
Ti phiên tòa hôm nay, anh Ngô Xuân T vn gi nguyên quan điểm là xin được
ly hôn vi ch Nguyn Th P vì v chồng đã không n chung sng vi nhau t năm
2017 đến nay nên không kh năng đoàn tụ. V con chung: anh T vn gi quan
đim nguyn vng mun đưc trc tiếp nuôi ng cháu Ngô Xuân T1 gia cháu
Ngô Th P1 cho m trc tiếp nuôi dưỡng, anh T ngưi nuôi cháu T1 ch P
nuôi cháu P1 t lúc không còn chung sng với nhau đến nay. Anh T không yêu cu
ch P phi cấp dưỡng để nuôi con.
V tài sn chung và n chung: Anh T không yêu cu Tòa án gii quyết.
Ch Nguyn Th P vng mt ti phiên tòa ln th hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông ng trình bày quan đim đối
với việc giải quyết vụ án như sau:
V t tng: Quá trình thu thp chng c ca v án t khi th lý cho đến khi
quyết định đưa vụ án ra xét x, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình t, th tc ca
B lut t tng dân s. Ti phiên tòa, Hội đng xét x đương sự đã chấp hành tt
các quy định ca pháp lut về phiên toà sơ thẩm. B đơn đã được Tòa án triu tp hp
l, các th tc t tụng đã niêm yết đầy đủ, tại phiên tòa hôm nay đã đưc m ln th
hai nên việc HĐXX vn tiến hành xét x là bảo đảm đúng thủ tục theo quy đnh ca
B lut t tng dân s.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng
4
cứ chứng minh cho quyền lợi ích hợp pháp của mình, bị đơn không hợp tác, cố
tình vắng mặt.
Qua chng c trong h vụ án do đương sự cung cp và tòa án thu thp
đưc công khai ti phiên tòa, qua kết qu tranh lun tại phiên tòa thì có đ sở xác
định anh T và ch P đã không còn chung sống vi nhau t năm 2017 đến nay, mâu
thuẫn gia đình của anh T và ch P đã đến mc trm trng, cuc sng chung không có
hnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cu khi kin ca nguyên
đơn hoàn toàn có căn cứ, đề ngh Hội đồng xét x xem xét, căn c Điu 51, 56, 81,
82, 83 Lut hôn nhân gia đình; Điều 227 228 BLTTDS; Ngh quyết 326 ngày
30/12/2016 ca UBTVQH. Đ ngh HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với ch Nguyn Th P. Về con chung: giao
cháu Ngô Xuân T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Ngô Th P1 cho ch P
trc tiếp nuôi dưỡng.
Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
V án phí: Anh Ngô Xuân T phi chịu án phí thẩm theo quy định ca pháp
lut.
Căn cứ vào các chng c tài liu trong h vụ án, li trình bày xác
nhn của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cu các tài liu có trong h sơ vụ án được thm tra ti phiên tòa
và căn cứ vào kết qu tranh tng ti phiên tòa, HĐXX xét thy:
[1] V thm quyn: V án “Ly hôn, tranh chấp v nuôi con” giữa anh Ngô Xuân
T vi ch Nguyn Th P, do b đơn nơi trú ti huyn Krông Bông nên thuc
thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân dân huyn Krông Bông theo quy định ti
khon 1 Điu 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 B lut t tng
dân s, do đó Tòa án nhân dân huyn Krông Bông thv án là đúng thẩm quyn.
Tại phiên tòa hôm nay, ch Nguyn Th P vắng mặt lần thứ hai, quyết định hoãn
phiên tòa đã được tống đạt, tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt ch Nguyn
Th P là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] V ni dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Xuân T chị Nguyễn Thị P chung sống vi
nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND Đồng
5
T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 14/02/2011.
Chung sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ
chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chị P tính hay chơi cờ
bạc nên xảy ra mâu thuẫn gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ
năm 2017 đến nay. Anh Tuấn xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống
chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị
Nguyễn Thị P.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niên yết Thông báo về việc thụ vụ án;
Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ tại nơi trú tại chính quyền địa phương thôn B, Khuê Ngọc Đ. Qua xác
minh tại chính quyền địa phương, chị Nguyễn Thị P vẫn hộ khẩu tại địa phương
không nơi trú nào khác, đi làm Phú Quốc nhưng không địa chỉ, chị P
vẫn thường xuyên về nhà thăm con và cha mẹ, mới đây chị P có về công an xã Khuê
Ngọc Đ m căn cước công dân. Các văn bản tố tụng đã được giao cho ông Nguyễn
Xuân A là bố của chị P, ông A cũng đã thông báo cho chị P nội dung các văn bản và
nói chị P về để giải quyết ly hôn nhưng chị P nói không vđược. Anh T cũng trình
bày quá trình tòa án giải quyết vụ án thì anh T cũng nhiều lần liên lạc bằng điện thoại
cho chị P nhưng chị P nói không về được, anh T tự giải quyết. Nvậy, chNguyễn
Thị P đã được ông A, anh T và Tòa án thông báo ni dung v án và yêu cu v tòa án
để làm việc nhưng ch P không chp hành, ch P đã biết được vic anh T đang yêu
cu Tòa án gii quyết xin ly hôn vi ch nhưng chị P đều vắng mặt không có lý do, c
tình trn tránh không hp tác làm vic, chị P t t b quyn tham gia t tụng để bo
v quyn và li ích hp pháp ca mình.
Qua lời trình bày của đương sự biên bản xác minh tại ban tự quản thôn
chính quyền địa phương, HĐXX xét thấy giữa anh T và chị P thực tế có xảy ra mâu
thuẫn gia đình, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan
điểm sống, chị P tính hay chơi cờ bạc nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gia
đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay, vợ chồng
không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay anh T yêu cầu giải quyết ly hôn. Căn cứ vào
chứng cứ nêu trên để khẳng định giữa anh TchP mâu thuẫn gia đình đã đến mức
trầm trọng. Anh T chị P không còn chung với nhau đã lâu, không còn sự thương
yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vi phạm thực hiện nghĩa vụ vợ chồng với nhau,
cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được không
6
còn khnăng đoàn tụ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh T cần được HĐXX chấp
nhận, cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P là phù hợp theo quy
định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
V con chung: Anh Ngô Xuân T ch Nguyn Th P 02 ngưi con chung,
cháu tên Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010; Ngô Th P1, sinh ngày 22/9/2013.
Khi ly hôn, anh Ngô Xuân T nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng
cháu Ngô Xuân T1, giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên
tòa anh T cũng giữ nguyên ý kiến, đây cũng là ý kiến về nguyện vọng của cháu Ngô
Xuân T1 khi cha mly hôn thì muốn được với ba, cháu P1 muốn được với mẹ.
Xét nguyện vọng của cháu T1, cháu P1 và nguyện vọng của anh T là chính đáng, kể
từ khi sống ly thân đến nay thì anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, cháu P1
do chị P nuôi dưỡng nhưng do phải đi làm xa nên gửi cho ông bà ngoại trực tiếp nuôi
dưỡng nên HĐXX cần chấp nhận giao con chung Ngô Xuân T1 cho anh T trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi duõng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp
luật.
V cấp dưỡng, tài sn chung n chung: Anh T không yêu cu nên HĐXX
không đặt ra để gii quyết.
3. Về án phí: Anh phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 48; Điều 144, Điều 147; Điều 220; đim b khoản 2 Điều 227; khon 3 Điu 228;
Điều 241; 266; 267; Điều 271 và Điều 273 ca B lut t tng dân s;
- Áp dng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dng đim a khoản 5 Điều 27 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc hội quy định v án phí và l phí Tòa án.
Tuyên x: Chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn anh Ngô Xuân T đối
vi b đơn chị Nguyn Th P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1] V quan h hôn nhân: Anh Ngô Xuân T đưc ly hôn vi ch Nguyn Th P.
Giy chng nhn kết hôn s 20, ngày 14/02/2011 do Ủy ban nhân dân Đồng T,
7
huyn Yên T, tnh Ngh An cp cho anh Ngô Xuân T ch Nguyn Th P hết hiu
lc k t ngày bn án này có hiu lc pháp lut.
[2] V con chung: Giao cháu Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010 cho anh N
Xuân T trc tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ngô
Xuân T1 đủ tròn 18 tui. Giao cháu Ngô Th P1, sinh ngày 22/9/2013 cho ch Nguyn
Th P trc tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưng giáo dục cho đến khi cháu Ngô
Th P1 đủ tròn 18 tui.
Sau khi ly hôn, người không trc tiếp nuôi con vẫn được thc hin mi quyn
và nghĩa vụ đối vi con chung theo quy định ca pháp luật như; có quyền thăm nom,
chăm sóc, nuôi ng, giáo dc con chung, không ai đưc cn tr thc hin quyn
này.
Để đảm bo quyn li chung của con chưa đ tui thành niên, các bên có quyn
xin thay đổi người trc tiếp nuôi con và mc cấp dưỡng nuôi con do các bên t tha
thun. Nếu không tha thuận được thì yêu cu Tòa án gii quyết theo quy đnh ca
pháp lut.
[3] V án phí: Anh Ngô Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đng)
tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng đưc khu tr vào s tiền 300.000đ mà
anh T đã nộp tm ng án phí theo biên lai s 0003437 ngày 23/10/2023 ti Chi cc
thi hành án dân s huyn Krông Bông. Anh T đã nộp đủ.
4. Quyn kháng cáo: Nguyên đơn có mt ti phiên tòa quyn kháng cáo bn
án trong hạn mười lăm ngày, k t ngày tuyên án sơ thẩm; b đơn vắng mt ti
phiên a đưc quyn kháng cáo bn án trong hn ời lăm ngày, k t ngày nhn
đưc bn sao bn án hoc bn án đưc niêm yết công khai./.
Nơi nhn:
- TAND tỉnh Đắk Lk;
- VKSND H. Krông Bông;
- Các đương sự;
- UBNDĐồng T,
H. Yên T, T. Ngh An;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X SƠ THẨM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Chu Văn Hồi
Tải về
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất