Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 14/2024/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 14/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TAND huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Bông (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
| Số hiệu: | 14/2024/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/06/2024 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P chung sống với nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 14/02/2011. Chung sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chị P có tính hay chơi cờ bạc nên xảy ra mâu thuẫn gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Anh Tuấn xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13 – 6 – 2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Hồi.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thường; Ông Rmah In.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nga – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông
Bông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa: Ông
Lê Thanh Niềm – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 176/2023/TLST-HNGĐ ngày
26 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa
vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024; Quyết định hoãn phiên
tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Ngô Xuân T, sinh năm 1985 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm Đồng T, xã Đồng T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn B, xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 05/10/2023, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ đã
xuất trình nguyên đơn anh Ngô Xuân T, trình bày:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P chung sống với
nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng T, huyện

2
Yên T, tỉnh Nghệ An. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được
06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị
P có tính hay chơi cờ bạc nên thường hay cãi nhau, anh T khuyên nhủ nhưng chị P
không nghe. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay. Anh
T xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục
đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải
quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P.
[2] Về con chung: Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P có 02 người con chung,
cháu tên Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010; Ngô Thị P1, sinh ngày 22/9/2013.
Khi ly hôn, anh T có nguyện vọng được chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Ngô Xuân
T1. Giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng.
Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 cháu Ngô Xuân T1 khai: Cháu là con của mẹ
Nguyễn Thị P và ba Ngô Xuân T. Hiện tại cha mẹ đã không còn ở với nhau nữa và
đang làm thủ tục ly hôn, khi cha mẹ cháu ly hôn không ở với nhau nữa, cháu muốn
được trực tiếp ở với ba Ngô Xuân T.
Tại bản tự khai ngày 26/10/2023 cháu Ngô Thị P1 khai: Cháu là con của mẹ
Nguyễn Thị P và ba Ngô Xuân T. Cháu vẫn biết ba và mẹ đang làm thủ tục ly hôn,
khi cha mẹ cháu ly hôn không ở với nhau nữa, cháu muốn được trực tiếp ở với mẹ P
và ông bà ngoại. Vì từ nhỏ cháu được ông ngoại là Nguyễn Xuân A và bà ngoại là
Nguyễn Thị N chăm sóc và nuôi dưỡng, mặc dù mẹ không ở gần nhưng mẹ vẫn thường
xuyên gọi điện thoại và quan tâm cháu và có gửi tiền về cho ông bà ngoại.
[3] Về cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị P không hợp tác nên không thể làm việc được.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương: Chị Nguyễn Thị P hiện vẫn còn đăng
ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Khuê Ngọc Đ, huyện Krông B, chủ hộ là ông
Nguyễn Xuân A là cha chị P, mẹ là bà Nguyễn Thị N. Hiện nay chị Nguyễn Thị P
không có mặt tại địa phương, đang đi làm xa ở Phú Quốc nhưng không rõ địa chỉ, chị
P vẫn thường xuyên về thăm con gái và gia đình, mới đây chị P có về tại Công an xã
Khuê Ngọc Đ làm căn cước công dân.
Tòa án đã niêm yết Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ tại chính quyền địa phương và nơi cư trú của bị đơn.
3
Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị P đều vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa
giải được.
Tại bản tự khai ngày 25/3/2024 ông Nguyễn Xuân A, khai: tôi là cha ruột của
Nguyễn Thị P, là bố vợ của Ngô Xuân T. Việc ly hôn thì do vợ chồng quyết định, vì
thực tế các con đã không còn ở với 08 năm rồi. Cháu ngoại Ngô Thị P1 đang ở với
gia đình tôi từ lúc hơn một tuổi đến bây giờ. Do con gái đi làm ăn xa nên gửi cháu P1
cho gia đình tôi nuôi dưỡng, có gửi tiền về cho tôi để nuôi cháu P1 ăn học. Tòa án đã
gửi các văn bản cho tôi để tôi giao cho con tôi, sau khi nhận được các văn bản của
Tòa án tôi có gọi cho con gái thông báo nội dung và nói con về để giải quyết ly hôn
nhưng con gái nói đi làm ăn xa không về được.
Qua xác minh tại ban tự quản thôn B, xã Khuê Ngọc Đ: Chị P có đăng ký hộ
khẩu tại thôn B nhưng hiện không có mặt ở địa phương, vừa rồi có về nhà để làm căn
cước công dân, ban tự quản được biết hiện cháu cháu Ngô thị P1 đang trực tiếp ở với
gia đình ông Nguyễn Xuân A.
Tại phiên tòa hôm nay, anh Ngô Xuân T vẫn giữ nguyên quan điểm là xin được
ly hôn với chị Nguyễn Thị P vì vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm
2017 đến nay nên không có khả năng đoàn tụ. Về con chung: anh T vẫn giữ quan
điểm có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngô Xuân T1 và gia cháu
Ngô Thị P1 cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, vì anh T là người nuôi cháu T1 và chị P
nuôi cháu P1 từ lúc không còn chung sống với nhau đến nay. Anh T không yêu cầu
chị P phải cấp dưỡng để nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị P vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông trình bày quan điểm đối
với việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Quá trình thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý cho đến khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã giải quyết đúng trình tự, thủ tục của
Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành tốt
các quy định của pháp luật về phiên toà sơ thẩm. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp
lệ, các thủ tục tố tụng đã niêm yết đầy đủ, tại phiên tòa hôm nay đã được mở lần thứ
hai nên việc HĐXX vẫn tiến hành xét xử là bảo đảm đúng thủ tục theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn thực hiện quyền khởi kiện, cung cấp đủ tài liệu, chứng

4
cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bị đơn không hợp tác, cố
tình vắng mặt.
Qua chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đương sự cung cấp và tòa án thu thập
được công khai tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận tại phiên tòa thì có đủ cơ sở xác
định anh T và chị P đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay, mâu
thuẫn gia đình của anh T và chị P đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không có
hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn là hoàn toàn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ Điều 51, 56, 81,
82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 227 và 228 BLTTDS; Nghị quyết 326 ngày
30/12/2016 của UBTVQH. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P. Về con chung: giao
cháu Ngô Xuân T1 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P
trực tiếp nuôi dưỡng.
Các vấn đề khác đương sự không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Anh Ngô Xuân T phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày và xác
nhận của đương sự trước phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX xét thấy:
[1] Về thẩm quyền: Vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa anh Ngô Xuân
T với chị Nguyễn Thị P, do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Krông Bông nên thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông theo quy định tại
khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng
dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Krông Bông thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị P vắng mặt lần thứ hai, quyết định hoãn
phiên tòa đã được tống đạt, tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt chị Nguyễn
Thị P là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P chung sống với
nhau từ năm 2009, đến năm 2011 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng

5
T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 14/02/2011.
Chung sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ
chồng bất đồng quan điểm sống nên thường hay cãi nhau, chị P có tính hay chơi cờ
bạc nên xảy ra mâu thuẫn gia đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ
năm 2017 đến nay. Anh Tuấn xác định vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống
chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Krông Bông giải quyết cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị
Nguyễn Thị P.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niên yết Thông báo về việc thụ lý vụ án;
Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ tại nơi cư trú và tại chính quyền địa phương thôn B, xã Khuê Ngọc Đ. Qua xác
minh tại chính quyền địa phương, chị Nguyễn Thị P vẫn có hộ khẩu tại địa phương
và không có nơi cư trú nào khác, đi làm ở Phú Quốc nhưng không rõ địa chỉ, chị P
vẫn thường xuyên về nhà thăm con và cha mẹ, mới đây chị P có về công an xã Khuê
Ngọc Đ làm căn cước công dân. Các văn bản tố tụng đã được giao cho ông Nguyễn
Xuân A là bố của chị P, ông A cũng đã thông báo cho chị P nội dung các văn bản và
có nói chị P về để giải quyết ly hôn nhưng chị P nói không về được. Anh T cũng trình
bày quá trình tòa án giải quyết vụ án thì anh T cũng nhiều lần liên lạc bằng điện thoại
cho chị P nhưng chị P nói là không về được, anh T tự giải quyết. Như vậy, chị Nguyễn
Thị P đã được ông A, anh T và Tòa án thông báo nội dung vụ án và yêu cầu về tòa án
để làm việc nhưng chị P không chấp hành, chị P đã biết được việc anh T đang yêu
cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với chị nhưng chị P đều vắng mặt không có lý do, cố
tình trốn tránh không hợp tác làm việc, chị P tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Qua lời trình bày của đương sự và biên bản xác minh tại ban tự quản thôn và
chính quyền địa phương, HĐXX xét thấy giữa anh T và chị P thực tế có xảy ra mâu
thuẫn gia đình, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng bất đồng quan
điểm sống, chị P có tính hay chơi cờ bạc nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn gia
đình. Vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2017 đến nay, vợ chồng
không còn quan tâm chăm sóc nhau, nay anh T yêu cầu giải quyết ly hôn. Căn cứ vào
chứng cứ nêu trên để khẳng định giữa anh T và chị P mâu thuẫn gia đình đã đến mức
trầm trọng. Anh T và chị P không còn chung với nhau đã lâu, không còn có sự thương
yêu, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vi phạm thực hiện nghĩa vụ vợ chồng với nhau,
cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không
6
còn khả năng đoàn tụ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của anh T cần được HĐXX chấp
nhận, cho anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P là phù hợp theo quy
định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P có 02 người con chung,
cháu tên Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010; Ngô Thị P1, sinh ngày 22/9/2013.
Khi ly hôn, anh Ngô Xuân T có nguyện vọng muốn được trực tiếp nuôi dưỡng
cháu Ngô Xuân T1, giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng. Tại phiên
tòa anh T cũng giữ nguyên ý kiến, đây cũng là ý kiến về nguyện vọng của cháu Ngô
Xuân T1 khi cha mẹ ly hôn thì muốn được ở với ba, cháu P1 muốn được ở với mẹ.
Xét nguyện vọng của cháu T1, cháu P1 và nguyện vọng của anh T là chính đáng, kể
từ khi sống ly thân đến nay thì anh T là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, cháu P1
do chị P nuôi dưỡng nhưng do phải đi làm xa nên gửi cho ông bà ngoại trực tiếp nuôi
dưỡng nên HĐXX cần chấp nhận giao con chung là Ngô Xuân T1 cho anh T trực tiếp
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao cháu Ngô Thị P1 cho chị P trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi duõng và giáo dục là phù hợp với quy định của pháp
luật.
Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu nên HĐXX
không đặt ra để giải quyết.
3. Về án phí: Anh phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 48; Điều 144, Điều 147; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228;
Điều 241; 266; 267; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Xuân T đối
với bị đơn chị Nguyễn Thị P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Xuân T được ly hôn với chị Nguyễn Thị P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 20, ngày 14/02/2011 do Ủy ban nhân dân xã Đồng T,

7
huyện Yên T, tỉnh Nghệ An cấp cho anh Ngô Xuân T và chị Nguyễn Thị P hết hiệu
lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao cháu Ngô Xuân T1, sinh ngày 04/01/2010 cho anh Ngô
Xuân T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ngô
Xuân T1 đủ tròn 18 tuổi. Giao cháu Ngô Thị P1, sinh ngày 22/9/2013 cho chị Nguyễn
Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Ngô
Thị P1 đủ tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con vẫn được thực hiện mọi quyền
và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật như; có quyền thăm nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở thực hiện quyền
này.
Để đảm bảo quyền lợi chung của con chưa đủ tuổi thành niên, các bên có quyền
xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con do các bên tự thỏa
thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật.
[3] Về án phí: Anh Ngô Xuân T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ mà
anh T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0003437 ngày 23/10/2023 tại Chi cục
thi hành án dân sự huyện Krông Bông. Anh T đã nộp đủ.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản
án trong hạn là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn vắng mặt tại
phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận
được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đắk Lắk;
- VKSND H. Krông Bông;
- Các đương sự;
- UBND xã Đồng T,
H. Yên T, T. Nghệ An;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Chu Văn Hồi
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm