Bản án số 66/2026/HNGĐ-ST ngày 13/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 66/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 66/2026/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 66/2026/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 66/2026/HNGĐ-ST ngày 13/04/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An, tỉnh Nghệ An |
| Số hiệu: | 66/2026/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | LH |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – N
Bản án số: 66/2026/ HNGĐ-ST
Ngày: 13.4.2026.
V/v “Tranh chấp Hôn nhân & gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - N
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Phú.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh
và Ông Phan Văn Hưng.
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân Khu
vực 6, N.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 - N tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Phương Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 6 - N mở
phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2025/TLST- HNGĐ
ngày 20 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp Hôn nhân & gia đình”. Theo
quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2026/QĐST- HNGĐ ngày 12 tháng 03
năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 26a/2026/QĐST - HNGĐ ngày 27
tháng 3 năm 2026 giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Xóm
Hòa Sơn, xã Y, tỉnh N, Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Duy T; Sinh năm: 1997; Nơi cư trú: Xóm Hòa
Sơn, xã Y, tỉnh N. Nơi ở hiện nay: Đang sinh sống và làm việc tại Nước ngoài
(không rõ địa chỉ cụ thể). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Duy T đăng ký kết hôn tại
UBND xã Văn Thành, huyện Y (Nay là xã Y), tỉnh N vào ngày 17/10/2017.
Hôn nhân có tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian ngắn chung
sống khoảng 7 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình
không hợp, bất đồng quan điểm sống vợ chồng không có tiếng nói chung nên
mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Chồng đi làm ăn xa có chơi bời, nghiện
nghập. Vợ và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhiều lần nhưng không thay đổi
khiến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hoà giải được. Nay bà xác
định tình cảm vợ chồng không còn nữa, hôn nhân đã bế tắc trầm trọng không
2
thể kéo dài, thực tế vợ chồng đã số ly thân từ khi ông Thắng đi nước ngoài lao
động đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải
quyết cho bà được ly hôn với ông Thắng để sớm ổn định cuộc sống.
2. Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng
Thái Hậu, sinh ngày 12/11/2017 và cháu Nguyễn THảo Nhi, sinh ngày
13/10/2020. Ly hôn bà Hoa đề nghị giao cho bà Hoa được trực tiếp chăm sóc,
nuôi dưỡng cả hai con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Hoa không yêu cầu ông Thắng cấp dưỡng
nuôi con.
3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà Hoa không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Nội dung đề nghị xem xét giải quyết khác: Do mâu thuẫn vợ chồng đã
trầm trọng và cũng do tình cảm vợ chồng không còn nên bà đề nghị Tòa án xem
xét không tiến hành hòa giải.
Ý kiến của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Duy T
vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì về việc ly hôn. Toà án đã tống
đạt hợp lệ nhiều lần các văn bản tố tụng cho bị đơn trực tiếp có mặt tại Toà án
để giải quyết vụ án nhưng do bị đơn đang ở Nước ngoài, gia đình người thân
không cung cấp được địa chỉ nơi ở cụ thể của bị đơn. Toà án đã nhiều lần liên
hệ trực tiếp với chính quyền địa phương và gia đình ông Thắng để xác minh,
tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn và yêu cầu bị đơn trực tiếp làm việc hoặc
gửi bản tự khai trình bày ý kiến, nguyện vọng của mình về nội dung xin ly hôn
của nguyên đơn cho Tòa án biết. Các văn bản tố tụng gửi cho bị đơn được Tòa
án tống đạt cho thân nhân và niêm yết công khai theo đúng qui định của pháp
luật.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ để giải quyết vụ
án. Sau khi xác minh thông tin của bị đơn thông qua người thân thì ông Nguyễn
Duy Điện là bố đẻ của bị đơn có cung cấp một số thông tin như: Việc con dâu
xin ly hôn thì Thắng và gia đình đã biết; gia đình đã nhận được thông báo thụ lý
vụ án về việc Hoa xin ly hôn Thắng và các văn bản khác của Toà án. Gia đình
đã thông tin cho Thắng biết nhưng Thắng đã trao đổi với gia đình về nguyện
vọng là mong muốn được đoàn tụ. Còn về nội dung yêu cầu người thân cung
cấp địa chỉ nơi cư trú, làm việc hiện nay của bị đơn gia đình chỉ biết Thắng
thường xuyên liên lạc với gia đình và chỉ biết hiện nay đang làm việc tại Đài
Loan còn địa chỉ cụ thể thì không biết rõ nên rất mong Toà án xem xét tạo điều
kiện giúp đỡ để các cháu đoàn, nếu không được được thì đề nghị giải quyết vụ
án theo qui định pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các cháu. Ông Điện gọi
điện thoại mạng cho Thắng trực tiếp trình bày với Toà án và nguyện vọng của
Thắng là không muốn ly hôn nhưng nếu Hoa cự tuyệt thì đành chấp nhận. Ông
Thắng cũng mong muốn Toà án chờ ông về để giải quyết nhưng khoảng tháng
8 hoặc tháng 9/2026 mới về được. Thẩm phán đã giải thích qui định pháp luật
cho ông Thắng hiểu và ông Thắng đề nghị Toà án giải quyết theo qui định của
pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án đến ngày xét xử ông Thắng không có ý kiến
trình bày bằng văn bản gửi cho Toà án hoặc có mặt tại Toà án mặc dù Toà án

3
đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng đầy đủ hợp lệ cho bị
đơn.
Tại các văn bản xác minh từ chính quyền địa phương và thân nhân của bị
đơn của bị đơn cho biết: Bị đơn Nguyễn Duy T có nơi cư trú trước khi xuất
cảnh tại xóm Hoà Sơn, xã Y, tỉnh N hiện bị đơn không có mặt tại địa phương,
ông Thắng hiện đang ở nước ngoài, không rõ địa chỉ cụ thể và bị đơn chỉ liên
lạc thường xuyên về với gia đình qua điện thoại.
Tại công văn số 669/QLXNC - Đ1 ngày 11/02/2026 của Phòng quản lý
xuất nhập cảnh - Công an tỉnh N cho biết ông Thắng xuất cảnh ngày 16/9/2025
qua của khẩu Sân bay Quốc tế Nội Bài hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến
trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký, nguyên đơn đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đúng pháp luật. Quá trình
giải quyết vụ án ông Thắng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng không tham gia các buổi làm việc, quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã
thực hiện chưa đầy đủ và đúng các quyền và nghĩa vụ của mình được qui định
tại các điều 70, 72 và 227 của Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ điều 228 của
Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt bị đơn là
đúng qui định.
Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng các điều 28, điều 35, điều
39, khoản 4 điều 147, khoản 4, điều 207, điều 227, khoản 1 điều 228, điều 271,
điều 273, điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, điều 56, điều 81, điều
82, điều 83 và điều 84 và Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 4 Nghị quyết
01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ
việc về Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa
án xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hoa được ly hôn với ông Thắng.
Về con chung: Giao cả hai con chung cảu vợ chồng cho bà Hoa được
trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Thắng. Ông
Thắng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí bà Hoa phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ
sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Vụ án Hôn nhân và Gia đình tuy không có tranh chấp về
tài sản chung, nợ chung. Nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ, tài
liệu nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định
tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự.
4
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình là
loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại thời điểm Nguyên
đơn xin ly hôn bị đơn cư trú tại xóm Hoà Sơn, xã Y, tỉnh N và hiện đang ở
nước ngoài. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 6 - N theo quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về thủ tục hòa giải: Do nguyên đơn bà Hoa đã có đơn yêu cầu Tòa án
không tiến hành hòa giải đoàn tụ và hoà giải các quan hệ khác nên vụ án thuộc
trường hợp không hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn
không có mặt nhưng thông qua người thân bị đơn đã có ý kiến, nguyện vọng về
việc giải quyết vụ án. Toà án đã thực hiện việc niêm yết, tống đạt các văn bản
tố tụng cho bị đơn đầy đủ và hợp lệ. Vì vậy căn cứ khoản 1,3 Điều 228, của Bộ
luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt bị đơn. Như
vậy, thấy đã có đủ căn cứ xác định bị đơn là ông Nguyễn Duy T; Sinh năm:
1997; Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm Hoà Sơn, xã Y, tỉnh N tại thời điểm
Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đang ở nước ngoài và có liên hệ với thân nhân và
không có yêu cầu phản tố gửi cho Tòa án để giải quyết tranh chấp theo đúng
qui định nên Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục
chung.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Xuân
H và ông Nguyễn Duy T là hôn nhân hợp pháp, vợ chồng kết hôn trên cơ sở tự
nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 17/10/2017. Hôn nhân có tìm hiểu và hoàn
toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống vợ chồng không
có tiếng nói chung nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay bà xác định tình
cảm vợ chồng không còn nữa, hôn nhân đã bế tắc trầm trọng không thể kéo dài,
thực tế vợ chồng đã số ly thân, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề
nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Thắng để sớm ổn định cuộc
sống.
Như vậy, thực tế vợ chồng đã sống ly thân, thấy vợ chồng mỗi người sinh
sống một nơi không còn quan tâm gắn kết gia đình với nhau nữa, bản thân bà Hoa
đã dứt khoát ly hôn nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời
sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ
chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn để xử cho bà Nguyễn Thị Xuân H
được ly hôn với ông Nguyễn Duy T theo qui định tại điều 56 Luật hôn nhân & gia
đình.
[3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hoàng Thái Hậu,
sinh ngày 12/11/2017 và cháu Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 13/10/2020. Ly hôn
bà Hoa đề nghị giao cho bà Hoa được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con
chung. Xét thấy, việc yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của
bà Hoa có cơ sở chấp nhận do hiện bị đơn đang ở nước ngoài nên không có điều
kiện trực tiếp nuôi con chung bằng bà Hoa được nên Hội đồng xét xử thấy cần
giao con chung của vợ chồng cho bà Hoa trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng thì sẽ

5
đảm bảo quyền lợi, thuận lợi và tốt hơn cho các cháu.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà Hoa không yêu cầu ông Thắng phải cấp
dưỡng nuôi con nên toà không xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Hoa và ông Thắng đều không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
[5] Về án phí: Bà Hoa phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm trong
vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm
a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Trung vụ
Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ
thẩm theo qui định tại các điều 271, 273 và điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các điều 28, điều 35, điều 39, khoản 4 điều 147, khoản 4,
điều 207, điều 227, khoản 1 điều 228, điều 271, điều 273 và điều 479 Bộ luật tố
tụng dân sự; Các điều 51, điều 56, điều 81, điều 82, điều 83, điều 84, điều 123
và điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-
HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng
dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ việc về Hôn
nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Xuân H.
1.1.Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Xuân H được ly hôn với ông Nguyễn Duy T.
1.2.Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là Nguyễn Hoàng Thái
Hậu, sinh ngày 12/11/2017 và cháu Nguyễn Thảo Nhi, sinh ngày 13/10/2020
cho bà Nguyễn Thị Xuân H được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc,
giáo dục sau khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác
theo qui định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung
cùng bà Hoa cho ông Nguyễn Duy T.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm
nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo
quy định của pháp luật các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người
trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Bà Nguyễn Thị Xuân H và
ông Nguyễn Duy T đều không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
2.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Xuân H phải chịu 300.000 đồng án phí ly
hôn sơ thẩm. Án phí của bà Hoa được khấu trừ theo biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số 0001410 ngày 16/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh N.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Xuân H có mặt có quyền kháng
cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Duy T vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh N
6
trong hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống
đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tỉnh N;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N;
- Sở Tư pháp tỉnh N;
- Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 – N;
- THADS tỉnh N (phòng THADS Khu vực
6 – N);
- UBND xã Y, tỉnh N
- Đương sự;
- Lưu HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Ngô Văn Phú
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 4/2026/HNGĐ-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm