Bản án số 123/2026/HS-PT ngày 19/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 123/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 123/2026/HS-PT ngày 19/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Ngãi
Số hiệu: 123/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đánh bạc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TI
̉
NH QUẢNG NGÃI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Diễn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hành và Ông Vũ Văn Thuấn.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên
toà: Bà Đặng Thị Minh Hiếu - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 19 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng
Ngãi xét xử công khai vụ án hình sự phu
́
c thâ
̉
m thụ lý số: 161/2026/TLPT-HS
ngày 28 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo Phan Văn P và đồng phạm.
Do có kháng cáo của các bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T đố i
với bản án hình sự sơ thẩm số: 120/2026/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. PHAN VĂN PHÒNG, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1983 tại tỉnh Quảng
Ngãi; Thẻ căn cước công dân số: ************ cấp ngày 18 tháng 7 năm 2023,
nơi cấp: Cục C về TTXH - Bộ C1. Nơi thường trú: Thôn B, xã Đ, tỉnh Quảng
Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Không xác định mẹ là Phan
Thị T1; vợ là Trương Thị Hồng H (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 2009 và năm
2014; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 27 tháng 12 năm 2024 bị Công an huyện T xử phạt
1.250.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Nộp tiền phạt ngày 21 tháng 01
năm 2025.
Nhân thân: Ngày 27 tháng 7 năm 2026 bị Tòa án nhân dân khu vực 2 -
Quảng Ngãi xử phạt 09 tháng tù về tội đánh bạc (đối với hành vi thực hiện ngày
03 tháng 10 năm 2025).
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14 tháng 11 năm
2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 123/2026/HS-PT
Ngày: 19/9/2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
2. PHẠM DƯƠNG T, sinh ngày 22 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Quảng
Ngãi; Thẻ căn cước công dân số: ************ cấp ngày 23 tháng 01 năm
2024, nơi cấp: Cục C về TTXH - Bộ C1. Nơi thường trú: Thôn P, xã Đ, tỉnh
Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm S (chết) và bà
Bùi Thị T2; vợ con: Chưa có; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 21 tháng 01 năm 2025 bị Công an huyện T xử phạt
1.250.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Nộp tiền phạt ngày 23 tháng 01
năm 2025.
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12 tháng 11 năm 2025
đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ
án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, vụ án được
tóm tắt như sau:
Khoảng giờ 14 giờ 00 phút ngày 14/9/2025, Phạm Dương T điều khiển xe
mô tô biển kiểm soát 76P1-047.72 đến suối T thuộc xã Đ Bồng chơi. Một lúc
sau, T đi về và ghé vô quán của bà Bạch Thị N uống nước thì gặp Phan Văn P
và Võ Thanh T3 cũng đang ngồi uống nước tại đây. Sau đó, Nguyễn Thanh S1
điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76P-013.75 đến quán bà N uống nước. Tại
đây, P, T, T3 và S1 cùng thống nhất đánh bạc bằng hình thức bài tiến lên thắng
thua bằng tiền với tỷ lệ chung chi từng ván như sau: Người về út chung cho
người về nhất 40.000 đồng, người về ba chung cho người về nhì 20.000 đồng;
nếu bị chặt heo thì sẽ chung 40.000 đồng đối với heo đỏ, 20.000 đồng đối với
heo đen; người nào về nhất 02 ván liên tiếp thì sẽ bỏ ra 10.000 đồng để trả tiền
mua nước và bài. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, P mua 03 bộ bài Tây
loại 52 lá tại quán bà N để cả nhóm đánh bạc. Khi biết P, T, T3 và S1 chuẩn bị
đánh bạc thắng thua bằng tiền tại nhà ở của mình, bà N không có hành động
ngăn cản, phản đối mà trực tiếp lấy chiếu, mền để phục vụ cho việc đánh bạc,
đồng thời bán nước và bài cho các đối tượng. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày,
Công an xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện, lập biên bản về hành vi đánh bạc trái
phép của các đối tượng và thu giữ:
- Số tiền 50.000 đồng trên chiếu bạc.
- Số tiền trên người: Phan Văn P 2.800.000 đồng, Phạm Dương T 320.000
đồng, Nguyễn Thanh S1 410.000 đồng, Võ Minh T4 1.400.000 đồng.
- 03 bộ bài Tây loại 52 lá (trong đó có 01 bộ đã qua sử dụng), 01 cái mền
màu đỏ, 01 chiếu nhựa màu xanh.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 76P1-047.72 của Phạm Dương T và 01 xe mô
tô biển kiểm soát 76P1-013.75 của Nguyễn Thanh S1.
Quá trình điều tra xác định: Phòng dùng 800.000 đồng, T, S1 và T4 dùng
toàn bộ số tiền bị thu giữ trên người vào mục đích đánh bạc và 50.000 đồng thu
3
giữ trên chiếu bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là
2.980.000 đồng.
Trong các đối tượng trên, Phan Văn P và Phạm Dương T đã bị xử phạt
hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, đến thời điểm ngày 14/9/2025 chưa
được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 7 Luật phạt vi
phạm hành chính.
Tại bản cáo trạng số 52/CT-VKS-KV2 ngày 26 tháng 01 năm 2026, Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi truy tố: Phan Văn P và Phạm Dương
T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm
Tại bản án số 120/2026/HS-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Quảng Ngãi đã xét xử sơ thẩm và quyết định như sau: Tuyên bố
bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38
của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phan Văn P.
- Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều
38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Dương T.
- Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
- Điều 106; Điều 136; Điều 292; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
- Xử phạt bị cáo Phan Văn P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Dương T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng và biện pháp tư
pháp, án phí, quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp
luật.
3. Kháng cáo của các bị cáo:
Cùng ngày 03 tháng 8 năm 2026 bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương
T đều kháng cáo một phần bản án hình sự sơ thẩm số 120/2026/HS-ST ngày 31
tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi, cụ thể: Bị cáo
Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T xin Hội đồng xét xử phúc thẩm cho các bị
cáo được hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, khai nhận toàn
bộ hành vi phạm tội và thể hiện sự ăn ăn hối cải. Với lý do là lao động chính
trong gia đình, các bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, cho hưởng
án treo để có điều kiện đi làm chăm lo cho gia đình.
4
5. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Kháng cáo của các bị cáo hợp lệ, đúng thủ tục và thời hạn luật định. Cấp
sơ thẩm tuyên các bị cáo phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều
321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo P và bị cáo
T tuy có tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải) nhưng nhân thân
xấu (đang có tiền sự về hành vi đánh bạc vẫn tiếp tục vi phạm; bị cáo P sau đó
lại tiếp tục đánh bạc), cho thấy sự coi thường pháp luật. Mức án sơ thẩm (Phòng
09 tháng tù, T 06 tháng tù) là mức thấp nhất của khung hình phạt, đã tương xứng
và phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo không cung cấp thêm được các
tình tiết nào mới để chứng minh cho nội dung kháng cáo. Do đó, không có cơ sở
để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356
Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn P và
bị cáo Phạm Dương T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 120/2026/HS-ST
ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
Về án phí: Bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T phải chịu 200.000
đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và xin
được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào ca
́
c tài liệu trong hồ sơ vụ án,
kê
́
t qua
̉
tranh luâ
̣
n ta
̣
i phiên to
̀
a, Hội đồng xét xử phu
́
c thâ
̉
m nhận định
như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm
Dương T đảm bảo về thời hạn, nội dung và hình thức theo quy định ta
̣
i các Điều
331, 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Do đó, kháng cáo của các bị cáo
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo cùng người
tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Hội đồng xét xử phúc
thẩm xác định các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp
với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu,
chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đủ cơ sở kết luận: Phan Văn P và Phạm Dương T là những người có đầy đủ
năng lực trách nhiệm hình sự, vào chiều ngày 14/9/2025, Phan Văn P, Phạm
Dương T cùng với Võ Thanh T3, Nguyễn Thanh S1 đánh bạc bằng hình thức bài
tiến lên thắng thua bằng tiền tại nhà của bà Bạch Thị N với tổng số tiền sử dụng
vào mục đích đánh bạc là 2.980.000 đồng, đồng thời Phạm Dương T và Phan
5
Văn P là những người bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa
hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại
khoản 1 Điều 7 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, Tòa án nhân dân khu
vực 2 - Quảng Ngãi xét xử các bị cáo Phan Văn P và Phạm Dương T về tội
“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người,
đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T Hội
đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án
treo với lý do thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, là lao động chính trong gia
đình. Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét và áp dụng đầy
đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật
hình sự đối với bị cáo P; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị
cáo T). Trên cơ sở tính chất, mức độ hành vi và vai trò của từng bị cáo, Tòa án
cấp sơ thẩm xử phạt Phan Văn P 09 tháng tù và Phạm Dương T 06 tháng tù là
hoàn toàn tương xứng.
[4.1] Đối với bị cáo Phan Văn P:
Bị cáo từng bị Công an huyện T xử phạt hành chính 1.250.000 đồng về
hành vi đánh bạc vào ngày 27/12/2024 (đã chấp hành nộp phạt ngày
21/01/2025) nhưng đến ngày 14/9/2025 vẫn tiếp tục tái phạm, thể hiện ý thức
chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
Đối với việc bị cáo bị Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi xử phạt 09
tháng tù theo Bản án số 113/2026/HS-ST ngày 27/7/2026 về hành vi đánh bạc
ngày 03/10/2025: Do bị cáo đang kháng cáo và bản án chưa có hiệu lực pháp
luật, Hội đồng xét xử không coi đây là tiền án hay tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên,
việc bị cáo tiếp tục vi phạm pháp luật sau ngày 14/9/2025 là tình tiết cần đánh
giá thận trọng khi xem xét khả năng tự cải tạo. Việc từng bị xử lý hành chính
nhưng vẫn tiếp tục phạm tội cho thấy không có cơ sở chắc chắn để xác định bị
cáo có thể tự cải tạo tốt, do đó không có căn cứ cho hưởng án treo.
[4.2] Đối với bị cáo Phạm Dương T: Dù có các tình tiết giảm nhẹ tại điểm
i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và mức hình phạt 06 tháng tù đủ điều kiện
về thời hạn, nhưng bị cáo cũng đã từng bị Công an huyện T xử phạt hành chính
về hành vi đánh bạc vào ngày 21/01/2025 trước khi phạm tội ngày 14/9/2025.
Việc đã bị xử lý mà vẫn tái phạm thể hiện bị cáo chưa thực sự tự giác sửa chữa.
Do đó, việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để giáo dục
riêng và phòng ngừa chung.
Hoàn cảnh "lao động chính trong gia đình" đã được cấp sơ thẩm cân nhắc
và không phải là căn cứ đương nhiên để cho hưởng án treo. Ngoài ra, Quyết
định quân nhân xuất ngũ mà bị cáo T nộp bổ sung chỉ thể hiện việc hoàn thành
6
nghĩa vụ quân sự, không thuộc các tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ
luật hình sự nên không có cơ sở chấp nhận làm tình tiết giảm nhẹ mới.
Các bị cáo đều có nhân thân xấu về hành vi đánh bạc, việc cách ly khỏi xã
hội một thời gian là cần thiết, do không có tình tiết mới, Hội đồng xét xử phúc
thẩm không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phan Văn P và bị
cáo Phạm Dương T; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 120/2026/HS-ST
ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận
nên bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Lập luận trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận phần quan điểm luận tội
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã phát biểu tại phiên tòa.
[7] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ
luật Tố tụng hình sự;
2. Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Văn P và bị cáo
Phạm Dương T; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 120/2026/HS-ST ngày
31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ngãi.
3. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn P và Phạm Dương T phạm
tội “Đánh bạc”.
4. Về hình phạt:
4.1. Đối với bị cáo Phan Văn P: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản
1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan
Văn P 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị
cáo đi chấp hành án.
4.2. Đối với bị cáo Phạm Dương T: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s
khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo
Phạm Dương T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
bắt bị cáo đi chấp hành án.
5. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố
tụng hình sự 2015; khoản 2 Điều 21, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Văn P và bị cáo Phạm Dương T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000
đồng án phí hình sự phúc thẩm.
7
6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
19/9/2026)./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-Viện công tố và kiểm sát xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
phúc thẩm tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND khu vực 2;
- TAND khu vực 2
- Phòng THADS khu vực 2;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Quảng Ngãi;
- UBND xã Đông Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi;
- Công an xã Đông Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi;
- Các bị cáo;
- Lưu hồ sơ vu
̣
a
́
n. Nguyễn Công Diễn
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
8
Vũ Văn Thuấn Nguyễn Hành Nguyễn Công Diễn
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất