Bản án số 1533/2026/DS-PT ngày 04/11/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1533/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1533/2026/DS-PT ngày 04/11/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1533/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/11/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1533/2026/DS-PT Bản án số 1533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1533/2026/DS-PT Bản án số 1533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 1533/2026/DS-PT
Ngày: 04/11/2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
và nợhợp đồng góp hụi”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng.
Ông Nguyễn Văn Toàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Lâm Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1776/2026/QĐ-PT ngày 07 tháng 10 năm
2026 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”. Do bản án dân
sự sơ thẩm số 153/2026/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân
Khu vực 12 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1977/2026/QĐ-PT ngày
07 tháng 10 năm 2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Tô Thị L, sinh năm: 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (Nay là Khu vực L, phường
L, thành phố Cần Thơ).
*Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phúc D, sinh
năm: 1983. Địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (Nay là Khu vực L,
phường L, thành phố Cần Thơ) (vắng mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Bạch R, sinh năm: 1971 (có mặt).
Bà Trần Thị B, sinh năm: 1972 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khu V, phường L, thành phố Cần Thơ (Nay là Khu vực L,
phường L, thành phố Cần Thơ).
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Bạch R và bà Trần Thị B là bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình tố tụng phía nguyên
đơn có người đại diện theo uỷ quyền ông Nguyễn Phúc D trình bày: Trước đây bà
L làm chủ hụi nên phía bị đơn ông R và bà B có tham gia chơi hụi do bà L làm
chủ, trong quá trình chơi hụi ông R và bà B còn nợ tiền hụi tính đến ngày
26/02/2026 ông R và bà B còn nợ tổng số tiền hụi là 34.970.000 đồng. Ngoài ra
vợ chồng ông R có vay các khoản tiền như sau: Ngày 25/05/2015 vợ chồng ông
R và bà B có vay của bà L số tiền 4.000.000 đồng tính đến tháng 10/2023 ông R
và bà B còn nợ 6.315.000 đồng (bao gồm nợ gốc 4.000.000 đồngvà lãi 2.315.000
đồng), đối với phần lãi từ tháng 10/2023 đến tháng 10/2025 là 24 tháng lãi suất
1,6%/tháng với lãi suất là 2.424.000 đồng. Như vậy tổng tiền bao gồm nợ gốc và
lãi 8.739.000 đồng. Ngày 19/8/2017 vợ chồng ông R và bà B có vay của bà L
10.000.000 đồng tính đến tháng 10/2023 thì vợ chồng ông R và bà B chỉ đóng lãi
được 1.500.000 đồng, còn nợ tiền lãi từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2025 là 100
tháng với mức lãi suất 1,6%/tháng, như vậy tổng tiền lãi 16.000.000 đồng trừ
1.500.000 đồng tiền lãi ông R và bà B đã đóng thì ông R và bà B còn nợ tiền lãi
là 14.500.000 đồng. Như vậy tổng nợ gốc và lãi là 24.500.000 đồng (trong đó nợ
gốc 10.000.000 đồng, nợ lãi 14.500.000 đồng). Tại toà sơ thẩm phía nguyên đơn
yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền tổng số tiền 66.577.000 đồng tiền nợ hụi và nợ vay.
Trong đó nợ gốc tiền hụi là 34.970.000 đồng; nợ gốc tiền vay 4.000.000 đồng,
tiền lãi của khoản vay 4.000.000 đồng là 3.107.000 đồng; nợ gốc tiền vay
10.000.000 đồng, tiền lãi của khoản vay 10.000.000 đồng là 14.500.000 đồng.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Bạch R và bà Trần Thị B
thống nhất trình bày: Nay bà L khởi kiện yêu cầu ông R và bà B trả 34.970.000
đồng tiền hụi thì bà B và ông R thống nhất trả khoản tiền nợ hụi 34.970.000 đồng
cho bà L. Đối với khoản tiền vay 4.000.000 đồng thì ông R và bà B thống nhất
tính đến tháng 10/2023 thì ông R và bà B còn nợ tổng tiền 6.315.000 đồng (trong
đó nợ gốc 4.000.000 đồng và lãi là 2.315.000 đồng) nên ông R và bà B thống nhất
trả cho bà L 6.315.000 đồng. Đối với tiền lãi từ tháng 10/2023 đến nay thì hàng
tháng ông R và bà B trả lãi đầy đủ cho bà Lê M tháng đóng lãi 37.000 đồng nhưng
ông R và bà B không có chứng gì để chứng minh đã đóng lãi cho bà L. Đối với
khoản vay 10.000.000 đồng bà L trình bày thì ông R và bà B không có vay mà bà
L tự ý vay, cấn trừ vào tiền hụi. Nên ông R và bà B chỉ đồng ý trả số tiền gốc
10.000.000 đồng, không đồng ý trả lãi. Tại phiên toà sơ thẩm, ông Nguyễn Bạch
R và bà Trần Thị B thống nhất trả cho bà Tô Thị Lê N gốc tiền hụi là 34.970.000
đồng; nợ gốc tiền vay 4.000.000 đồng, tiền lãi của khoản vay 4.000.000 đồng là
3.107.000 đồng; nợ gốc tiền mượn để trả tiền hụi là 10.000.000 đồng. Riêng đối
với khoản tiền lãi của 10.000.000 đồng là 14.500.000 đồng thì bà Trần Thị B xin
lãi, ông Nguyễn Bạch R không đồng ý trả lãi do không có vay.
- Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân Khu vực
12 - Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số 153/2026/DS-ST ngày 17
tháng 7 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
3
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Tô Thị L về việc yêu cầu
bị đơn ông Nguyễn Bạch R, bà Trần Thị B trả tiền vay và tiền nợ hụi.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Bạch R, bà Trần Thị B trả cho bà Tô Thị L tổng
số tiền 66.577.000 đồng tiền nợ hụi và nợ vay. Trong đó nợ gốc tiền hụi là
34.970.000 đồng; nợ gốc tiền vay 4.000.000 đồng, tiền lãi của khoản vay
4.000.000 đồng là 3.107.000 đồng; nợ gốc tiền vay 10.000.000 đồng, tiền lãi của
khoản vay 10.000.000 đồng là 14.500.000 đồng là tất nợ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự
theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị đơn có đơn kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị đơn ông R vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm, không chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc
bị đơn trả khoản vay 4.000.000 đồng, khoản vay 10.000.000 đồng và lãi suất.
Nguyên đơn yêu cầu bác kháng cáo của bị đơn, tuy nhiên nguyên đơn đồng
ý giảm một phần lãi suất của khoản vay 10.000.000 đồng cho bị đơn, chỉ yêu cầu
bị đơn trả số tiền lãi là 12.923.000đồng.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi
xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn kháng
cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng
như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy
đủ toàn diện ý kiến cũng như chứng cứ các bên cung cấp và trình bày. Bị đơn bà
B có kháng cáo nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp
dụng khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với
kháng cáo của bị đơn bà B. Đối với kháng cáo của bị đơn ông R, do ông R không
cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nhưng tại
phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện giảm tiền lãi suất của khoản vay
10.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị đơn trả lãi suất là 12.923.000 đồng nên đề nghị
Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều
308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông
R, sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại Tòa phúc thẩm; Căn cứ vào
kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên
và những người tham gia tố tụng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số
tiền vay và tiền hụi nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi” là phù hợp.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, phía bị đơn ông R, bà B có đơn kháng cáo trong
thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn ông
R có mặt. Đối với bị đơn bà B vắng mặt không rõ lý do. Tuy nhiên, do bà B có
đơn kháng cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần
Thị B.
[4] Nhận thấy, tại phiên tòa sơ thẩm, ông R và bà B thừa nhận, đồng ý trả
cho nguyên đơn số tiền nợ hụi 34.970.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm bảy
mươi ngàn đồng), nợ gốc khoản vay 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), lãi
3.107.000 đồng (Ba triệu một trăm lẻ bảy ngàn đồng) và nợ gốc khoản vay
10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Đối với lãi suất của khoản vay 10.000.000
đồng (Mười triệu đồng), ông R không đồng ý trả vì cho rằng không vay tiền, còn
bà B đề nghị được miễn lãi.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông R về việc không đồng ý trả các
khoản vay 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và 10.000.000 đồng (Mười triệu
đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, ông R thừa nhận chữ
ký, chữ viết trong bản tự khai ngày 26/02/2026 (bút lục 17, 19) là do ông R viết
và ký tên. Nội dung bản tự khai thể hiện ông R và bà B đồng ý trả nợ hụi
34.970.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng) và khoản
vay 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng). Đồng thời, tại biên bản hòa giải ngày
21/4/2026, ông R và bà B cũng thừa nhận khoản vay 10.000.000 đồng (Mười triệu
đồng), chỉ không đồng ý trả lãi. Như vậy, lời trình bày của ông R tại phiên tòa
phúc thẩm không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được ông xác nhận trong
quá trình giải quyết vụ án. Do đó, cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả các khoản nợ gốc
và lãi là có căn cứ; việc xác định lãi suất phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật
Dân sự năm 2015. Ông R kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng
minh nên không có cơ sở chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn tự
nguyện giảm tiền lãi đối với khoản vay 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), chỉ
yêu cầu bị đơn trả tiền lãi 12.923.000 đồng (Mười hai triệu chín trăm hai mươi ba
ngàn đồng). Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn và không trái
pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
5
[7] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông R không được chấp
nhận nên bị đơn ông R phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 29
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
-Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
* Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị B.
2. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Bạch R.
3. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 153/2026/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 12 - Cần Thơ theo hướng nguyên đơn tự nguyện
giảm số tiền lãi suất cho bị đơn cụ thể như sau:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Bạch R, bà Trần Thị B trả cho bà Tô Thị L số tiền
hụi là 34.970.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm bảy mươi ngàn đồng);
Buộc bị đơn ông Nguyễn Bạch R, bà Trần Thị B trả cho bà Tô Thị L số tiền
vay 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và lãi suất là 3.107.000 đồng (Ba triệu một
trăm lẻ bảy ngàn đồng);
Buộc bị đơn ông Nguyễn Bạch R, bà Trần Thị B trả cho bà Tô Thị L số tiền
vay 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) và lãi suất là 12.923.000 đồng (Mười hai
triệu chín trăm hai mươi ba ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải nộp 3.250.000 đồng (Ba triệu hai
trăm năm mươi ngàn đồng). Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã
nộp 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0002435 ngày 03/02/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải nộp 300.000 đồng, chuyển tiền
tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001565 ngày 28/7/2026
tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ thành án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
6
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36 và
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 12 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 12 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
7
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1533/2026/DS-PT Bản án số 1533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1533/2026/DS-PT Bản án số 1533/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất