Bản án số 1451/2026/DS-PT ngày 14/10/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1451/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1451/2026/DS-PT ngày 14/10/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 1451/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/10/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Văn Hưng khởi kiện yêu cầu Lê Quốc Hưng trả tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1451/2026/DS-PT Bản án số 1451/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1451/2026/DS-PT Bản án số 1451/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1451/2026/DS-PT
Ngày 14 - 10 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tôn Thị Thanh Thúy
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
Bà Nguyễn Thị Trang Thư
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Thẩm tra viên của Tòa án nhân
dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Dương Thanh Giềng - Kiểm sát viên
Trong ngày 14 tháng 10 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 1564/2026/TLPT-DS ngày
11 tháng 9 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 496/2026/DS-ST, ngày 13 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1826/2026/QĐ-PT,
ngày 14 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Cao Văn H, sinh năm 1972. Căn cước công dân:
************. Địa chỉ: Số A khu V, phường T, thành phố Cần Thơ ( mặt).
Người đại diện hợp pháp (theo văn bản ủy quyền ngày 12/9/2026):
1. Ông Trần Văn Á, sinh năm 1990 (có mặt).
2. Ông Thái Nguyễn Minh H1, sinh năm 2004 (vắng mặt).
3. Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2004 (vắng mặt).
4. Ông Nguyễn Thế A, sinh năm 2003 (vắng mặt).
5. Bà Hồ Thị Mỹ Hằng N, sinh năm 2004 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số I, đường H, Khu V, Phường A, thành phố Cần Thơ.
2
-Bị đơn:
1. Ông Lê Quốc H2, sinh năm 1980. Căn cước công dân: ************.
Địa chỉ: Số B đường số D, Khu dân cư L, khu vực T, phường H, thành phố Cần
Thơ (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Lê Quốc H2 (theo văn bản ủy quyền ngày
22/7/2026):
1. Ông Đào Thanh N1, sinh năm 1998 (vắng mặt).
2. Ông Lê Minh H3, sinh năm 1998 (có mặt)
Cùng địa chỉ liên hệ: Tổ E, ấp T, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bà Lê Thúy V, sinh năm 1997. Căn cước công dân: ************. Địa
chỉ: Số C đường N, phường N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thúy V: Ông Trịnh Hoàng K, sinh năm
1981. Căn cước công dân: ************. Địa chỉ thường trú: Ấp D, xã Đ, tỉnh
Cà Mau. Địa chỉ liên hệ: Số E đường N, Khu dân cư I, phường T, thành phố Cần
Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 21/3/2026), (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Kha Phương T1, sinh năm
2001. Căn cước công dân: ************. Địa chỉ: Số A tổ E Khu V, phường T,
thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Bị đơn Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nội dung vụ án được tóm
tắt như sau:
Nguyên đơn ông Cao Văn H trình bày: Ngày 09/11/2023 ông với vợ chồng
ông H2, bà V ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 463, tờ bản đồ
số 17 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số BB 725044, số vào sổ CH 000430 UBND quận B cấp ngày
05/7/2010. Hợp đồng được công chứng, chứng thực theo luật định, đã hoàn thành
thủ tục, sang tên mình. Sau đó biết được bà T1 tranh chấp với ông H2, bà V liên
quan đến thửa đất này do chuyển nhượng giả cách hợp đồng vay tiền. Ông là
người bị thiệt hại vì đã nhận chuyển nhượng sau cùng từ ông H2, bà V với số tiền
1.200.000.000 đồng nên khởi kiện yêu cầu ông H2, bà V liên đới trả số tiền vay
trên và tiền lãi từ ngày ký hợp đồng chuyển nhượng 09/11/2023 đến ngày xét xử.
Tại biên bản hòa giải ngày 21/11/2025 (bút lục 27), ông H yêu cầu mức lãi suất
02% từ ngày 09/11/2023 đến ngày nộp đơn khởi kiện 22/9/2025 (Theo giấy xác
nhậnđơn khởi kiện ngày 22/9/2025, bút lục 39) là 528.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lê Quốc H2 trình: Vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án,
không ghi nhận được lời khai.
Bị đơn bà Lê Thúy V có người đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Hoàng K
trình bày: Bà V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H vì thời điểm vay tiền,
3
ký hợp đồng ông bà đã ly thân nên đó là khoản vay cá nhân ông H2. Quyền sử
dụng đất đứng tên riêng ông H2, bà V bị ông H2 lôi kéo, ép buộc ký tên hợp đồng
chuyển nhượng. Bà không tham gia thỏa thuận, mua bán - trao đổi, không nhận
tiền của ông H nên không có nghĩa vụ phải liên đới trả số tiền mà ông H2 đã vay.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kha Phương T1 trình bày: Vụ án
tranh chấp giữa bà với ông H2 đã được Tòa án hai cấp xét xử có hiệu lực thi hành,
tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với ông H2 và
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H2, bà V với ông H. Theo
bản án tuyên thì bà phải trả cho ông H2 420.120.000 đồng, ông H phải trả lại bản
gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà nhưng đến nay bà chưa làm đơn
yêu cầu thi hành án. Trong vụ kiện này, tranh chấp giữa ông H với ông H2, bà V
về tiền vay, không liên quan đến bà nên bà không có ý kiến.
Theo bản án sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân
dân quận Cái Răng (cũ) có trong hồ sơ vụ án đã tuyên: “Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa bà T1 với ông H2 và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ông H2, bà V với ông H vô hiệu; Buộc bà T1 trả cho ông H2
420.120.000 đồng; Buộc ông H trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho bà T1 để bà T1 liên hệ cơ quan có thẩm quyền đăng ký, chỉnh lý quyền sử
dụng đất cho mình. Trường hợp, ông H không giao bản gốc Giấy chứng nhận cho
bà T1 thì kiến nghị UBND hủy Giấy chứng nhận để cấp lại cho bà T1 theo nội
dung quyết định của bản án; Tách số tiền mà ông H trả cho ông H2 liên quan đến
hợp đồng chuyển nhượng mà các ông đã ký kết với nhau thành vụ án khác khi có
yêu cầu. Ngoài ra, bản án sơ thẩm trên còn tuyên về chi phí xem xét, thẩm định
tại chỗ, định giá tài sản và thu thập chứng cứ, về án phí, quyền kháng cáo và
quyền yêu cầu thi hành án”. Sau khi xét xử sơ thẩm ông H kháng cáo, yêu cầu
cấp phúc thẩm sửa án theo hướng: Buộc bà T1 giữ lại 420.100.000 đồng chờ ông
khởi kiện ông khởi kiện ông H2, bà V. Sau khi ông nộp đơn thi hành án thì bà T1
mới nộp tiền vào cơ quan thi hành án, sau đó ông sẽ trả lại bản gốc Giấy chứng
nhận cho bà T1 và tại bản án phúc thẩm số 159/2025/DS-PT ngày 04/4/2025 của
Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, đã tuyên: “Không chấp nhận kháng cáo của
ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa
án nhân dân quận Cái Răng (cũ".
Tại phiên tòa ngày 11/6/2026, ông H trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện về tiền vay gốc, đối với tiền lãi yêu cầu mức lãi suất 1.67%/tháng (tương
đương 20%/năm) tính từ ngày 09/11/2023 đến ngày xét xử. Quá trình thực hiện
hợp đồng vay ông đã nhận tiền lãi 03 tháng (từ ngày 13/6/2023 đến ngày
30/8/2023) là 93.600.000 đồng (tương đương mức lãi suất 3%/tháng) và xuất trình
bản gốc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2023 (nội dung
ông H nhận chuyển nhượng thửa 463, tờ bản đồ 17, giá 1.000.000 đồng), Biên
nhận ngày 13/6/2023 (nội dung ông H2 ký, nhận nợ 1.000.000.000 đồng, đồng
thời cầm cố thửa đất 463), Xác nhận nợ ngày 14/6/2023 (viết tay bằng mực màu
xanh tại trang 4 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2023,
có chữ ký và chữ viết tên của ông H2, bà V. Nội dung ông H2, bà V nhận thêm
4
200.000.000 đồng. Tổng số tiền đã nhận 1.200.000.000 đồng), Giấy xác nhận nợ
tiền lãi ngày 08/11/2023 (do ông H2, bà V ký, cam kết trả lãi 58.000.000 đồng
trước ngày 13/11/2023), Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
09/11/2023 Văn phòng C, quyển số 08/2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
09/11/2023 (Nội dung ông H nhận chuyển nhượng thửa đất 463 với giá
1.200.000.000 đồng).
Đối với cam kết trả lãi 58.000.000 đồng trước ngày 13/11/2023 trong Giấy
xác nhận nợ tiền lãi ngày 08/11/2023 đến nay ông H2, bà V không thực hiện.
Ông H2 vắng mặt. Đại diện ủy quyền của bà V vẫn giữ nguyên lời khai thể
hiện tại Bản tự khai ngày 23/4/2026. Ông H2 vay/nhận tiền với tư cách vay/nhận
riêng, làm ăn riêng với ông H. Bà V ký tên vào các hợp đồng chuyển nhượng ngày
13/6/2023 và ngày 09/11/2023 một cách không tự nguyện, do bị ép buộc chứ
không có nhận tiền. Toàn bộ số nợ trên là nợ cá nhân ông H.
Đối với xác nhận nợ ngày 14/6/2023 thì chữ ký mang tên Lê Thúy V và chữ
viết họ tên Lê Thúy V nhận nợ 200.000.000 đồng không phải của bà V, đồng thời
có yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết tên Lê Thúy V.
Phiên tòa ngày 13/7/2026, ông H và đại diện hợp pháp của bà V thống nhất
Kết luận giám định số 2804/KL-KTHS ngày 15/6/2026 của Phòng K1 Công an
thành phố C kết luận: Chữ ký mang tên Lê Thúy V không phải do cùng một người
ký ra; Chữ viết họ tên Lê Thúy V không phải do cùng một người ký ra. Không
yêu cầu giám định bổ sung, giám định lại.
Ông H giữ nguyên yêu cầu ông H2, bà V liên đới trả tiền vay gốc
1.200.000.000 đồng và lãi suất 20%/năm từ ngày 01/9/2023 đến ngày xét xử
13/7/2026 là 689.376.000 đồng (đã làm tròn).
Đại diện ủy quyền của bà V giữ nguyên lời khai đã thể hiện tại Bản tự khai,
tại phiên tòa ngày 11/6/2026: “Không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
H về việc bà phải liên đới với ông H2 trả tiền vay, toàn bộ số tiền nợ trên là nợ
riêng của ông H2”.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 496/2026/DS-ST, ngày 13 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, đã quyết định như sau:
Áp dụng Khoản 3 Điều 26, các Điều 35, 39, khoản 2 Điều 92, các Điều 93,
94, 95, 108, 147, 161, 162, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 288, 357,
463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Cao Văn H đối với ông Lê
Quốc H2 và bà Lê Thúy V về trả nợ vay gốc và nợ lãi. Buộc ông Lê Quốc H2 và
bà Lê Thúy V liên đới trả cho ông Cao Văn H tiền vay gốc 1.200.000.000 đồng
và tiền lãi 647.064.000 đồng. Tổng số tiền phải trả là 1.847.064.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng, quyền
kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án, hướng dẫn thi hành án theo quy định pháp
luật.
5
Ngày 22/7/2026 ông Lê Quốc H2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ được xét xử vào ngày 13/07/2026 yêu cầu
Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết Sửa bản án sơ thẩm ngày 13/07/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ theo hướng: không buộc bà Lê Thúy V có nghĩa
vụ trả tiền cho ông Cao Văn H. Với lý do, cấp sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ, toàn
diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, dẫn đến việc xác định không đúng chủ
thể có nghĩa vụ hoàn trả số tiền tranh chấp, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền
và lợi ích hợp pháp của bà Lê Thúy V. Thực tế thể hiện toàn bộ quá trình thỏa
thuận, giao dịch, nhận tiền, sử dụng tiền, thanh toán lãi và phát sinh nghĩa vụ đều
do một mình ông trực tiếp thực hiện với ông Cao Văn H. Quan hệ vay mượn tiền
hoàn toàn được xác lập giữa cá nhân ông và ông Cao Văn H, bà Lê Thúy V không
tham gia đàm phán, không trực tiếp nhận bất kỳ khoản tiền nào từ ông H, cũng
không sử dụng, quản lý hay hưởng bất kỳ lợi ích vật chất nào từ khoản tiền này.
Việc bà Lê Thúy V cùng ký tên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất chỉ xuất phát từ yêu cầu về mặt hình thức do quyền sử dụng đất được hình
thành trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng
tên cá nhân ông. Việc ký tên của bà V nhằm bảo đảm điều kiện pháp lý của hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hoàn toàn không thể hiện là bà V cùng
xác lập quan hệ vay tài sản hoặc cùng nhận tiền từ ông Cao Văn H. chỉ yêu cầu
bà V ký tên, chứ bà V hoàn toàn không biết gì cả và nội dung này đã được làm rõ
trong các bản án đã có hiệu lực pháp luật trước đây. Cụ thể, Bản án dân sự sơ
thẩm số 179/2024 ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng và Bản án
dân sự phúc thẩm số 159/2025/DS-PT ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ đều xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu
và đồng thời thể hiện rõ quan hệ vay tiền chỉ phát sinh giữa cá nhân ông với ông
Cao Văn H. Chính ông Cao Văn H trong quá trình giải quyết các vụ án trước cũng
đã thừa nhận việc cho vay đối với cá nhân ông, không phải đối với bà Lê Thúy V.
Đây là các tình tiết đã được xác định trong các bản án trước chưa được Tòa án sơ
thẩm xem xét, đánh giá đầy đủ khi giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu. Theo
nguyên tắc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu, nghĩa vụ hoàn trả chỉ
đặt ra đối với chủ thể đã thực tế nhận tài sản hoặc hưởng lợi từ giao dịch. Trong
vụ án này, người trực tiếp nhận toàn bộ số tiền từ ông Cao Văn H là ông, bà Lê
Thúy V không nhận tiền, không quản lý, không sử dụng và cũng không được
hưởng bất kỳ lợi ích vật chất nào từ khoản tiền mà ông H đã giao. Vì vậy, việc
buộc bà V phải liên đới hoàn trả toàn bộ số tiền hơn 1,8 tỷ đồng là không phù hợp
bản chất của quan hệ pháp luật, không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ
án và không bảo đảm nguyên tắc các bên hoàn trả lại những gì đã nhận. Bản thân
ông xác nhận nghĩa vụ phát sinh từ việc vay tiền là nghĩa vụ của riêng ông. Nếu
có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Cao Văn H thì người phải thực hiện nghĩa vụ đó là
ông, không phải bà Lê Thúy V. Việc buộc bà V cùng chịu trách nhiệm trả nợ trong
khi không có căn cứ chứng minh bà là người vay, người nhận tiền hoặc cùng xác
lập quan hệ vay tài sản là làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của bà V.
6
Ngày 22/7/2026 bà Lê Thúy V kháng cáo toàn bộ bản án Dân sự sơ thẩm
số 496/2026/DS-ST ngày 13/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ
đối với vụ kiện nêu trên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa bản án sơ
thẩm số 496/2026/DS-ST ngày 13/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần
Thơ theo hướng: Không buộc bà phải trả lại số tiền vay, tiền lãi hàng tháng cho
nguyên đơn ông Cao Văn H mà nghĩa vụ này phải do nguyên đơn ông H, ông H2.
Với các lý do:
Thứ nhất, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định giao dịch 02 giao dịch là hợp đồng
mua bán và hợp đồng vay tài sản. Bà chỉ là người bị yêu cầu phải ký kết các hợp
đồng liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Còn những vấn đề
khác liên quan đến việc vay mượn tiền của ông Cao Văn H với ông Lê Quốc H2
bà hoàn toàn không biết.
Thứ hai, giao dịch bị Tòa án quận C (cũ) và Tòa án TP Cần Thơ (cũ) tuyên
vô hiệu chính là các giao dịch liên quan việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
đó ông Lê Quốc H2 và Cao Văn H thỏa thuận cùng nhau thực hiện. Do Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân ông H2 nhưng do được hình
thành trong thời kỳ hôn nhân nên tôi phải tham gia ký tên. Lời khai của ông Cao
Văn H trong 02 bản án trước đây của Tòa án quận Cái Răng và Tòa án TP Cần
Thơ rằng: “ông H thực hiện việc cho vay với cá nhân ông H2” đã không được Tòa
án khu vực 3 - Cần Thơ xem xét, đối chiếu. Lời thừa nhận của ông H trong 02 bản
án trước đây xác định được rằng thời điểm bà cùng ông H2 ký hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với ông H thì bà không nhận tiền hay bất kỳ lợi ích vật
chất nào khác.
Thứ ba, Ông Cao Văn H không chứng minh được việc giao tiền hoặc vật
chất cho bà nhưng Tòa án khu vực 3 - Cần Thơ vẫn buộc bà có nghĩa vụ cùng ông
H2 trả cho ông H số tiền hơn 1,8 tỷ đồng là vô cùng oan trái và gây thiệt hại
nghiêm trọng cho bà. Điều này càng mâu thuẫn nghiêm trọng hơn đối với việc
giải quyết hậu quả của việc vô hiệu hợp đồng. Bởi bà không có nhận tiền từ ông
Cao Văn H sao Tòa án khu vực 3 - Cần Thơ lại buộc bà phải đứng ra trả nợ thay
cho ông Lê Quốc H2.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc
thẩm không buộc bà Lê Thúy V cùng chịu trách nhiệm liên đới trả nợ vay và lại
cho ông H người đại diện ông H2, bà V cho rằng khoảng nợ này là khoảng vay
riêng của ông H không phải nợ chung vợ chồng vì tại thời điểm vay tiền ông H2,
bà V đã sống ly thân với nhau, do chưa ly hôn nên khi lập hợp đồng chuyển
nhượng ông H yêu cầu bà V ký, bà V cũng không nhận tiền vay từ ông H, còn
đối với tờ biên nhận về lãi là do phía ông H gây áp lực. Đối với khoảng tiền lãi
về thời gian, mức lãi suất và số tiền nợ thì tiền lãi chỉ có 643.096.000 đồng, chứ
không phải 647.064.000 đồng nên yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo
của các bị đơn và sửa bản án sơ thẩm về lãi suất.
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với yêu
7
cầu kháng cáo của các bị đơn về trách nhiệm liên đới giữa ông H2, bà V có trách
nhiệm trả nợ cho ông H và đồng ý khoản lãi theo bản án sơ thẩm sửa lại
647.064.000 đồng.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần
Thơ trình bày: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ
án ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Về quan điểm giải quyết vụ án
sau khi phân tích và đánh giá chứng cứ sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng
khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của các bị
đơn. ữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 496/2026/DS-ST, ngày 13 tháng 7 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng
cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu đề nghị của Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Người kháng cáo, nội dung và hình thức đơn kháng cáo, thời
hạn kháng cáo do ông Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V nộp cho Tòa án nhân dân
Khu vực 3 - Cần Thơ là đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên kháng cáo là hợp lệ và đúng theo luật định nên
Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét kháng cáo theo đúng quy định pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm bà
Kha Phương T1 vắng mặt. Xét thấy, bà Kha Phương T1 đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, việc vắng mặt bà T1 không ảnh
hưởng đến việc xét xử vụ án do bà T1 không liên quan đến kháng cáo nên căn cứ
khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T1.
[3] Xét kháng cáo của ông Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V về việc không buộc
bà V có nghĩa vụ liên đới trả nợ cho ông Cao Văn H. Ông Lê Quốc H2 và bà Lê
Thúy V cho rằng bà V chỉ là người bị yêu cầu ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất chứ không có vay tiền ông H, bà V cũng không có nhận tiền vay từ
ông H. Xét thấy, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ngày
13/6/2023, ông H và ông H2 lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối
với thửa đất số 463, tờ bản đồ số 17. Đồng thời, ông H2 lập Biên nhận xác nhận
đã nhận của ông H số tiền 1.000.000.000 đồng và cầm cố thửa đất để bảo đảm
khoản tiền đã nhận. Ngày 14/6/2023 ông H2 tiếp tục nhận thêm số tiền
200.000.000 đồng nên tổng số tiền 1.200.000.000 đồng nên đến ngày 09/11/2023,
ông H2 và bà V cùng ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H,
giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 1.200.000.000 đồng. Mặc dù, Kết luận
giám định số 2804/KL-KTHS ngày 15/6/2026 xác định chữ ký và chữ viết mang
tên Lê Thúy V tại phần xác nhận nhận thêm 200.000.000 đồng ngày 14/6/2023
không phải do bà V ký, viết ra. Tuy nhiên, bà V thừa nhận có ký Hợp đồng chuyển
8
nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/6/2023, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 09/11/2023 và các hợp đồng này trực tiếp liên quan đến khoản tiền
1.200.000.000 đồng mà ông H đã giao và liên quan đến quyền sử dụng đất là đối
tượng của hợp đồng. Ngoài ra, giấy xác nhận nợ tiền lãi ngày 08/11/2023 cũng có
chữ ký của ông H2 và bà V, thể hiện việc các bên xác nhận khoản tiền lãi phải
thanh toán cho ông H, tại thời điểm này thì giữa ông H2 và bà V vẫn còn tồn tại
quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa
thuận xác lập là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng; tại khoản 2 Điều 27 Luật
này quy định vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại
Điều 37. Mặc dù, ông H2 là người trực tiếp nhận tiền từ ông H, nhưng bà V đã
cùng tham gia xác lập các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với
khoản tiền 1.200.000.000 đồng và ký xác nhận về nghĩa vụ tiền lãi. Như vậy, có
căn cứ xác định bà V biết và cùng tham gia vào quá trình thực hiện giao dịch có
liên quan trực tiếp đến khoản tiền đang tranh chấp.
[4] Đối với việc bà V cho rằng bà chỉ ký các hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất do bị ông H2 ép buộc, không nhận tiền, không biết việc vay tiền và
thời điểm này bà và ông H đã ly thân nên khoảng vay là của riêng ông H2. Xét
thấy, bà V có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, trực tiếp ký các hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; sau đó tiếp tục ký Giấy xác nhận nợ tiền lãi ngày
08/11/2023, bà V cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh
mình không tự nguyện ký các văn bản nói trên. Đồng thời, tại thời điểm xác lập
các giao dịch ngày 13/6/2023, ngày 09/11/2023 và ngày 08/11/2023, ông H2 và
bà V vẫn là vợ chồng hợp pháp nên cấp sơ thẩm xác định khoảng nợ trên là của
ông H2, bà V là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[5] Đối với việc bà V cho rằng Bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DS-ST
ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng và Bản án dân sự phúc thẩm
số 159/2025/DS-PT ngày 04/4/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã
xác định quan hệ vay tiền chỉ phát sinh giữa ông H và cá nhân ông H2. Xét thấy:
Các bản án nêu trên giải quyết tranh chấp liên quan đến hiệu lực của các hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hậu quả của giao dịch vô hiệu; đồng thời
phần quyết định đã tách số tiền ông H giao cho ông H2 liên quan đến hợp đồng
chuyển nhượng thành vụ án khác khi có yêu cầu. Vì vậy, việc các bản án trước
ghi nhận lời trình bày của các đương sự về quá trình giao dịch giữa ông H và ông
H2 nên chưa xác định trách nhiệm tài sản của bà V. Nay ông H khởi kiện yêu cầu
xem xét hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng và yêu cầu về khoản tiền
1.200.000.000 đồng được giải quyết bằng một vụ án độc lập nên Hội đồng xét xử
sơ thẩm xem xét trách nhiệm của bà V là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[6] Về tiền lãi: Ông H yêu cầu tính lãi trên khoản tiền 1.200.000.000 đồng
theo mức 20%/năm từ ngày 01/9/2023 đến ngày xét xử. Xét thấy, mức lãi suất
ông H yêu cầu không vượt quá mức lãi suất tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều
468 Bộ luật Dân sự; cấp sơ thẩm đã xem xét thời gian, mức lãi suất và số tiền lãi
cụ thể, xác định tiền lãi là 647.064.000 đồng, tại phiên tòa phúc thẩm các đương
9
sự thống nhất số tiền lãi là 643.096.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận tiền
lãi là 643.096.000 đồng. Như nhận định trên thì bà V có nghĩa vụ cùng ông H2
trả tiền vay nên phải có nghĩa vụ liên đới trả lãi theo quy định pháp luật.
[7] Từ những phân tích trên, thấy rằng Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc ông
H2, bà V có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 1.200.000.000 đồng và tiền lãi phát
sinhcho ông H là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Ông H2, bà V kháng cáo
nhưng không cung cấp được chứng cứ mới để Hội đồng xét xử xem xét nên Hội
đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận
[8] Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm 496/2026/DS-ST, ngày
13 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ về trách nhiệm
trả nợ và sửa một phần bản án sơ thẩm về lãi suất theo sự thỏa thuận của các
đương sự là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị đơn không được chấp
nhận, bản án sơ thẩm bị sửa về lãi suất theo thỏa thuận của các đương sự nên các
bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm và án phí sơ thẩm cũng được điều chỉnh cho
phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên
Hội đồng xét xử không xem xét và có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp kháng cáo của các bị đơn Lê Quốc H2 và Lê Thúy V về
nghĩa vụ liên đới trả tiền và ghi nhận sự thỏa thuận của bị đơn và nguyên đơn về
sự thống nhất tiền lãi.
2. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 496/2026/DS-ST, ngày 13 tháng
7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cần Thơ, như sau:
Buộc ông Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V liên đới trả cho ông Cao Văn H
tiền vay gốc 1.200.000.000 đồng và tiền lãi 643.096.000 đồng. Tổng số tiền phải
trả là 1.843.096.000 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, ông Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V còn phải trả khoản tiền lãi
10
đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Về chi phí giám định chữ ký, chữ viết: Buộc ông Cao Văn H hoàn trả cho
bà Lê Thúy V số tiền 2.402.000 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Lê Quốc H2, bà Lê Thúy V chịu án
phí dân sự sơ thẩm 67.292.800 đồng; hoàn trả cho ông Cao Văn H 31.920.000
đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007066 ngày 23/10/2025
của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
3. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Quốc H2 và bà Lê Thúy V mỗi
ngườiphải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào
số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà V và ông H2 mỗi người nộp 300.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001367 ngày 23/7/2026; 0001491 ngày
27/7/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
4. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự năm 2025 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 36 và
Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu yêu cầu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 3 - Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 3 - Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu: HS-VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Tôn Thị Thanh Thúy
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1451/2026/DS-PT Bản án số 1451/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1451/2026/DS-PT Bản án số 1451/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất