Bản án số 12/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2020/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 12/2020/DS-ST ngày 29/09/2020 của TAND huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Lệ Thủy (TAND tỉnh Quảng Bình)
Số hiệu: 12/2020/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà P yêu cầu chia thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIÃ VIỆT NAM
HUYỆN LỆ THỦY Độc lập -Tự do -Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 12/2020/DS- ST
Ngày: 29/9/2020
“Tranh chấp về thừa kế tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY-TỈNH QUẢNG BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mậu Hiệu
Ông Đào Văn Mẫu
-Thư phiên Tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quảng, Thư Tòa án nhân dân huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy
xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 12/2020/TLST-DS ngày
18/5/2020 về "Tranh chấp di sản thừa kế" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số 10/2020/QĐXXST-DS ngày 08/9/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số
13/2020/QĐST-DS ngày 21/9/2020 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Cái Thị P, địa chỉ: Thôn L, A, huyện L, tỉnh Quảng
Bình, có mặt.
2. Bị đơn: Cụ Nguyễn Thị M, địa chỉ: Thôn M, M, huyện L, tỉnh
Quảng Bình;
Người đại diện theo y quyền của cụ M là: Nguyễn Thị L, địa chỉ:
Đội 6, thôn Đ, P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, theo Giấy ủy quyền ngày
09/6/2020, có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hp pháp của bị đơn: Ông Phan Trọng H -
Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trgiúp pháp Nnước tỉnh Quảng Bình,
mặt.
3. Những người có quyền lợi liên quan:
- Khắc ThM, địa chỉ: Thôn M, M, huyện L, tỉnh Quảng nh,
mặt.
- Ông Cái Khắc P, địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình;
Người đại diện theo ủy quyền của ông P : Ông Ngọc L, địa chỉ: Tổ
dân phố X, thị trấn K, huyện L, tỉnh Quảng Bình theo giấy ủy quyền ngày
09/6/2020, có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông P: Bùi Thị X, Trợ
giúp viên, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình, có mặt.
2
- Nguyễn Thị Y cháu Khắc Ngọc P, sinh năm 2004 (con Y)
cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện L, tỉnh Quảng Bình, (Y vừa người
quyền lợi liên quan vừa là người đại diện theo pháp luật của cháu P), vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 21/4/2020, bản tự khai ngày 19/6/2020 và các
biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Cái Thị P đều trình
bày: Bố của cụ Cái C, sinh năm 1928 mẹ cụ Nguyễn Thị M, sinh
năm 1928, bố mẹ sinh ra được 4 người con: Con thứ nhất Khắc Thị M, sinh
năm 1950, con thứ hai Khắc Văn T(mất năm 2006), con thứ ba là bà(Cái Thị P,
sinh năm 1962), con thCái Khắc P, sinh năm 1963. Năm 2001, bố mất
không đlại di chúc. Tài sản của bố mgồm: 01 thửa đất số 266, tờ bản đồ
số 9, diện tích 1440m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 850056
Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy cấp ngày 12/01/1992 mang tên Nguyễn Thị
M; trên thửa đất một ngôi nhà cấp 4 đã cũ, nay yêu cầu Tòa án chia thừa
kế theo pháp luật, về kỷ phần thừa kế về nhà được thừa kế từ bố đlại,
không nhận nhường quyền hưởng thừa kế cho mcụ Nguyễn Thị M,
bà xin nhận kỷ phần thừa kế về đất được hưởng thừa kế từ bố.
* Ý kiến đại diện của bị đơn Nguyễn Thị L người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Phan Trọng H trình bày thống nhất: Việc P
khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Cái C, cụ M hoàn toàn nhất trí: Cụ
M thừa nhận cụ và cụ Cái C là vợ chồng, sinh ra được 4 người con như Cái Thị
P trình bày; tài sản chung của cụ cụ Cái C thửa đất theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên cmột ngôi nhà cấp 4 cùng các công trình phụ
như Cái Thị P trình bày. Cụ C chết không để lại di chúc. Nay Cái Thị P kiện
yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ Cái C, cụ nhất trí.
Về phần nhà di sản thừa kế của cụ i C đề nghị chia 5 phần, cụ M xin
nhận hiện vật;
Về phần đất của cụ Cái C đlại, cM nhất trí chia theo yêu cầu của
nguyên đơn, phần của cụ được hưởng cụ không nhận nhường quyền ởng
thừa kế về đất cho Cái Thị P.
Về di sản thừa kế về đất từ Khắc Văn T, cụ M từ chối nhận nhường
quyền hưởng cho cháu Khắc Ngọc P.
* Ý kiến của người có quyền lợi liên quan bà Khắc Thị M, người đại diện
cho Cái Khắc P ông Ngọc L người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho Cái Khắc P Bùi Thị X trình bày thống nhất như sau: Nhất trí về việc
khởi kiện chia thừa kế của Cái Thị P;
Về phần nhà được hưởng từ cụ Cái C, M, ông P nhường quyền hưởng
thừa kế cho mẹ (cụ M);
Về phần đất được hưởng từ cụ Cái C, M, ông P nhường lại quyền
hưởng thừa kế cho bà Cái Thị P;
* Người có quyền lợi liên quan cũng là người đại diện hợp pháp cho cháu
Khắc Ngọc P Nguyễn Thị Y (vợ ông Khắc Văn T) vắng mặt tại phiên tòa
nhưng qua các Tờ trình ngày 28/5/2020 ngày 13/7/2020, bà Y đều trình bày,
phản đối về yêu cầu chia thừa kế của Cái Thị P, sau khi chồng
3
Khắc Văn T(Khắc Ngọc T) mất thì mẹ cụ Nguyễn Thị M khẳng định nhà
và đất cho con trai bà là Khắc Ngọc P, sinh năm 2004 là cháu nội độc nhất, điều
đó mọi người trong gia đình ai cũng biết. Do đó lời nói của cụ là di chúc miệng.
Bà Cái Thị P lúc nào cũng nói từ chối nhận thừa kế, để lại cho mẹ và chị em mà
hiện nay bà Cái ThP yêu cầu chia thừa kế thì yêu cầu chia theo pháp luật,
phần thừa kế về nhà ở, và Khắc Ngọc P không nhận, phần thừa kế về đất,
giao phần của bà cho con trai là Khắc Ngọc P được hưởng.
Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ theo biên bản ngày 26/8/2020
Thông báo kết quả đo đạc số 15/VPĐKĐĐ ngày 17/9/2020 của Văn phòng
đăng ký đất đai Chi nhánh huyện Lệ Thủy, thửa đất số 266, tờ bản đồ số 9, diện
tích 1440m
2
, trong đó đất 250m
2
, đất màu 600m
2
, đất vườn 590m
2
, theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị M, theo hiện trạng sử
dụng đất trên bản đồ địa chính lập năm 2014, thửa đất có số 324, tờ bản đồ số 8,
diện tích 1529,2m
2
; Nhà ở gắn liền với đất diện tích 136m
2
, công trình phụ gồm
mái che lợp tôn diện tích 65m
2
, đường đi lát gạch xi măng 42m
2
, 2 trụ cổng
xây. Văn phòng đăng đất đai đã xác nhận diện tích thực tế tăng so với diện
tích tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 89,2m
2
, nhưng hình thể không
thay đổi, các hộ liền kề đã làm hàng rào ranh giới bằng tường xây không ai
tranh chấp, diện tích tăng thêm do phương pháp đo của các lần đo, đủ điều
kiện cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Nguyễn Thị M.
Theo biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản ngày 26/8/2020,
xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai có kết quả theo đơn giá: Đất ở 372.000
đồng/m
2
; đất trồng cây hàng năm khác đơn giá 26.000 đồng/m
2
:
Đất 250m
2
x 372.000 đồng/m
2
= 93.000.000 đồng; đất trồng cây hàng
năm khác 1279,2m
2
x 26.000 đồng/m
2
= 33.259.200 đồng. Giá trị đất là:
126.259.200 đồng;
Về nhà và công trình phụ có giá trị : 117.886.400 đồng.
Nguyên đơn P, đại diện bị đơn L, người có quyền lợi liên quan
M, đại diện của ông P ông L cũng như những người bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của bị đơn, người quyền lợi liên quan mặt đều nhất trí đề
nghị chia theo diện tích Văn phòng đăng đất đai chi nhánh huyện Lệ
Thủy đã đo đạc và xác nhận.
Tại phiên tòa, các đồng thừa kế đại diện cho Cụ Nguyễn Thị M,
Khắc Thị M đại diện của ông Cái Khắc P đều cùng quan điểm nhường phần
thừa kế về đất của mình cho Cái Thị P được hưởng, không phải giao lại giá
trị. Riêng đại diện của cụ M không nhận thừa kế về đất của Khắc Văn T
nhường quyền hưởng thừa kế cho cháu Khắc Ngọc P; những người trong hàng
thừa kế của cụ Cái C là cụ Nguyễn Thị M, bà Cái Thị P, Khắc Thị M và ông
Cái Khắc P đều thống nhất chia phần thừa kế đất cho Khắc Văn T được chuyển
tiếp cho cháu Khắc Ngọc P với mặt tiền đường tông phía Bắc rộng 4,5m,
phía Nam cuối đất 4,5m diện tích i ra nhiều hơn so với phần được hưởng
theo luật cũng được vì nếu chia theo phần bằng nhau mỗi phần 152,9m
2
, với
kích thước cạnh mặt tiền toàn bộ 19,1m chia đều thì mỗi phần khích thước cạnh
không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
4
Về ngôi nhà công trình phụ của cụ Cái C trong khối tài sản chung của
Cụ C, cụ M: Khắc Thị M, Cái Thị P, ông Cái Khắc P không nhận
nhường quyền hưởng thừa kế về nhà cho mẹ cụ Nguyễn Thị M; bà Nguyễn
Thị Y trình bày qua tờ trình, bà và cháu P từ chối nhận thừa kế về nhà.
Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông
Phan Trọng H, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của P đồng thời phân tích điều
kiện, hoàn cảnh của cụ M từ khi ông Cái C qua đời đến nay và đnghị Tòa án
xử chia thừa kế theo pháp luật, phần ndi sản thừa kế của cụ Cái C được
các con nhường quyền hưởng thừa kế cụ M xin được nhận, về phần đất cụ được
thừa kế từ cụ Cái C đề nghị Tòa chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của cụ
P là nhường quyền hưởng thừa kế cho bà P; phần thừa kế của cụ từ di sản v
đất của ông Khắc n T, cụ nhường quyền hưởng cho cháu Khắc Ngọc P. Nếu
chia di sản thừa kế về đất của cụ Cái C thì mỗi kỷ phần kích thước cạnh
không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cụ M thống
nhất như các đồng thừa kế khác chia kỷ phần vđất cho cháu P số đo mặt
tiền đường tông(phía Bắc) 4,5m, cuối đất (phía Nam) 4,5m, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Cái Khắc P:
Bùi ThX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cái Thị P. Phần
thừa kế về nhà, ông P nhường lại cho mcMừng, phần thừa kế về đất, ông
P nhường quyền hưởng cho Cái Thị P, ông P cũng thống nhất ncác đồng
thừa kế khác chia kỷ phần về đất cho cháu P số đo mặt tiền đường tông
(phía Bắc) 4,5m, cuối đất (phía Nam) 4,5m, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
chấp nhận.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong
quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa
việc chấp hành pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn, những người
quyền lợi liên quan những người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của
đương stừ khi thụ vụ án đến trước khi nghị án được đảm bảo đúng pháp
luật tố tụng. Riêng người có quyền lợi liên quan cũng người đại diện hp
pháp cho cháu Khắc Ngọc P là Nguyễn Thị Y vắng mặt tại phiên tòa lần thứ
hai cũng như trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án nhưng đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đúng quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan điểm về
việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 26, Điều
35 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 609, 613, 618, 620, 623, 650, 651, 652,
660 của Bộ luât Dân sự n 2015, xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cái
Thị P vviệc chia di sản thừa kế của cCái C ½ thửa đất số 324, tờ bản đồ
số 8, diện tích 1529,2m
2
½ ngôi nhà cùng công trình phụ nằm trên đất. Hàng
thừa kế thứ nhất của cụ Cái C gồm: Cụ M, M, ông T, bà P, ông P, (ông T
chết năm 2006 nên kỷ phần thừa kế của ông T được chia cho hàng thừa kế thứ
nhất của ông T là cụ M, bà Y cháu P); di sản thừa kế về phần nhà chia cho 4
đồng thừa kế, vì bà Y, cháu P từ chối nhận thừa kế về nhà; di sản thừa kế về đất
chia cho 5 đồng thừa kế; chấp nhận sự tự nguyện của bà M, bà P, ông P nhường
quyền thừa kế về nhà cho mẹ (là cụ M) được hưởng; chấp nhận sự tự nguyện
5
của cụ M, M, P, ông P nhường phần thừa kế về đất của mình cho P
được hưởng thống nhất chia thừa kế về đất cho ông T với kích thước cạnh
mặt tiền đường tông mặt sau cuối đất (mỗi cạnh) 4,5m; chấp nhận tự
nguyện của cụ M và bà Y nhường quyền thừa kế về đất cho cháu P; chi phí xem
xét thẩm định định giá tài sản P tự nguyện chịu toàn bộ nên không đề
nghị xem xét; án phí và quyền kháng cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn những người quyền
lợi liên quan, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Cái C về nhà và đất tại thôn M,
M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, các đương sự và tài sản tranh chấp đều địa
chỉ trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nên Hội đồng xét xử xác định
quan hệ tranh chấp trong vụ án “Tranh chấp về thừa kế tài sản” thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình theo
khoản 5 Điều 26, Điều 35 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên tòa
người quyền lợi liên quan cũng người đại diện hợp pháp cho người
dưới 18 tuổi (cháu Khắc Ngọc P) Nguyễn Thị Y đã được triệu tập hợp lệ
nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án
vắng mặt người quyền lợi liên quan đại diện hợp pháp của người
quyền lợi liên quan theo điểm b khoản 2 Điều 227 khoản 3 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về yêu cầu của nguyên đơn Cái Thị P chia thừa kế theo pp
luật di sản thừa kế của cụ Cái C trong khối tài sản chung của cụ Cái C cụ
Nguyễn Thị M, gồm: 01 thửa đất diện tích 1440m
2
theo giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị M, nay theo kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ và đo đạc thực tế của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Lệ Thủy,
thửa đất diện tích 1529,2m
2
nên P yêu cầu chia diện tích đất thực tế
1529,2m
2
nhà cấp 4, công trình phụ trên thửa đất theo giá đã được Hội
đồng định giá xác định. Hội đồng xét xử thấy, cụ Cái C và cụ Nguyễn Thị M
vợ chồng, sinh ra được bốn người con Khắc Thị M, sinh năm 1950, Khắc
Văn T, sinh năm 1959, Cái Thị P, sinh năm 1962, i Khắc P, sinh năm 1963.
Tài sản chung của cụ Cái C cụ Nguyễn Thị M một ngôi nhà cấp 4 cùng
công trình phụ làm trên thửa đất số số 266, tờ bản đồ số 9, diện tích 1440m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Lệ Thủy
cấp ngày 12/01/1992 mang tên Nguyễn Thị M. Nay theo bản đđịa chính lập
năm 2014, thửa đất số 324, tờ bản đồ số 8 theo kết quả đo đạc hiện trạng
là: 1529,2m
2
, trong đó 250m
2
đất ở, 1279,2m
2
đất trồng cây hàng năm khác. So
với diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích thực tế theo
bản đồ mới tăng thêm 89,2m
2
nhưng hình thể không thay đổi, các hộ liền kề
đã làm hàng rào ranh giới bằng tường xây không ai tranh chấp, đã được
UBND M Văn phòng đăng đất đai Chi nhánh Lệ Thủy xác nhận đủ
điều kiện cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho cụ M. Do đó yêu
6
cầu chia thừa kế nhà diện tích đất theo hiện trạng của Cái Thị P căn
cứ cần chấp nhận.
[2.2]. Về hàng thừa kế:
Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Cái C gồm: Cụ Nguyễn Thị M, Khắc
Thị M, ông Khắc Văn T, Cái Thị P ông Cái Khắc P (các con đều xác
nhận là con ruột của cụ Cái C và cụ Nguyễn Thị M)
Hàng thừa kế thứ nhất của ông Khắc Văn T là: Cụ Nguyễn Thị M,
Nguyễn Thị Y và cháu Khắc Ngọc P.
[2.3]
Di sản thừa kế của Cụ Cái C là: ½ trong khối i sản chung của vợ
chồng cụ Cái C và cụ Nguyễn Thị M, gồm:
- Đất 250m
2
giá trị: 93.000.000 đồng : 2 = 125m
2
giá trị: 46.500.000
đồng;
- Đất trồng cây hàng năm khác 1279,2m
2
giá trị: 33.259.200 đồng : 2 =
639,6 m
2
giá trị: 16.629. 600 đồng. Tổng diện tích đất: 764.6m
2
giá trị:
63.129.600 đồng
- Nhà ở và công trình phụ nhà bếp, mái hiên, sân và cổng giá trị:
117.886.400 đồng : 2 = 58.943.200 đồng.
Về đất 764,6m
2
lra chia 5 phần theo hàng thừa kế trên, mỗi phần
764.6 : 5 = 152,9m
2
, tuy nhiên theo trình bày của các đồng thừa kế đại diện
cho Cụ Nguyễn Thị M, Khắc Thị M ông Cái Khắc P đều cùng quan điểm
nhường phần thừa kế về đất của mình cho Cái Thị P được hưởng. Riêng c
M không nhận thừa kế về đất của Khắc n T mà nhường quyền hưởng thừa kế
cho cháu Khắc Ngọc P; những người trong hàng thừa kế của cụ Cái C cụ
Nguyễn Thị M, Cái Thị P, Khắc Thị Mvà ông Cái Khắc P đều thống nhất
chia phần thừa kế đất cho Khắc Văn T(nay chuyển tiếp cho cháu P) với mặt tiền
đường bê tông phía Bắc rộng 4,5m, phía Nam cuối đất 4,5m, diện tích có dôi ra
nhiều hơn so với kỷ phần được chia cũng được, Nguyễn Thị Y vắng mặt
nhưng có ý kiến qua tờ trình gửi cho Tòa án, bà nhường phần thừa kế về đất của
mình cho con Khắc Ngọc P được hưởng, xét thấy, các đồng thừa kế tự nguyện
định đoạt như trên là có căn cứ, phù hợp với pháp luật cần chấp nhận.
Như vậy, tổng diện tích đất của cụ Cái C để lại 764,6m
2
, chấp nhận sự
tự nguyện trên, chia phần thừa kế cho Khắc Văn T chuyển tiếp cho con trai
Khắc Ngọc P được quyền sử dụng diện tích đất 190,4m
2
(được chia trong tổng
diện tích đất của cụ Cái C 764,6m
2
); trong đó đất 25m
2
x 372.000 đồng/m
2
=
9.300.000 đồng; đất trồng cây hàng năm khác 165,4m
2
x 26.000 đồng/m
2
=
4.300.000 đồng. Tổng giá trị: 13.600.000 đồng.
Phần còn lại 574,2m
2
lra chia 4 phần thừa kế bằng nhau cho cM,
P, bà M, ông P mỗi người được hưởng một phần bằng nhau nhưng cần chấp
nhận sự thỏa thuận trên để chia cho P được quyền sử dụng phần đất toàn bộ
là: 574,2m
2
, trong đó đất 100m
2
x 372.000 đồng/m
2
= 37.200.000 đồng; đất
trồng cây hàng năm khác 474,2m
2
x 26.000 đồng/m
2
= 12.329.200 đồng. Tổng
giá trị: 49.529.200 đồng.
Về nhà công trình phụ di sản thừa kế của cụ Cái C giá trị:
58.943.200 đồng, Y cháu P từ chối nhận thừa kế về nhà nên chia theo
pháp luật 4 phần gồm: Cụ M, M, P, ông P mỗi người một phần
7
14.735.800 đồng nhưng M, P ông P đều nhường quyền hưởng thừa kế
của mình về nhà cho cụ M, không buộc giao giá trị, cụ M đồng ý nhận, đây
sự tự nguyện thỏa thuận của các đồng thừa kế nên cần chấp nhận để giao cho cụ
M được nhận toàn bdi sản thừa kế về nhà của cụ i C giá trị: 58.943.200
đồng là có căn cứ.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản Cái ThP đã
nộp, tòa án đã chi 2.900.000 đồng, nay P tự nguyện chịu toàn bộ nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn Cái Thị P phải chịu án phí dân sự thẩm
giá ngạch tương ứng với phần giá trị di sản được chia và hưởng; cụ Nguyễn Thị
M người cao tuổi, cháu Khắc Ngọc P trẻ em nên được miễn án phí phù
hợp với Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 5 Điều 26, Điều 35, Điều 39, điểm b khoản 2
Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 459, 609, 610,
611, 612, 613, 614, 620, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 66 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Cái Thị P về việc chia
di sản thừa kế theo quy định của pháp luật nhà quyền sử dụng đất tại
thửa 266, tờ bản đồ số 9, diện tích 1440m
2
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cấp ngày 12/01/1992 mang tên Nguyễn Thị M nay được đo đạc thực tế theo
bản đồ địa chính lập năm 2014, thửa đất số 324, tờ bản đồ số 8, diện tích
1529,2m
2
.
- Công nhận stự nguyện thỏa thuận tặng cho kỷ phần thừa kế về đất
giữa nguyên đơn Cái ThP với bị đơn cụ Nguyễn Thị M những người
quyền lợi liên quan bà Khắc Thị M, ông Cái Khắc P; Giữa cụ Nguyễn Thị M và
cháu Khắc ngọc P.
- Công nhận thỏa thuận tặng cho k phần thừa kế về nhà giữa bị đơn cụ
Nguyễn Thị M với nguyên đơn Cái ThP những người quyền lợi liên
quan bà Khắc Thị M, ông Cái Khắc P.
- Chấp nhận sự tự nguyện của người quyền lợi liên quan cũng
người đại diện hợp pháp của người quyền lợi liên quan Nguyễn Thị Y về
việc hai mẹ con từ chối nhận thừa kế về nhà, Y tặng cho kỷ phần thừa kế
về đất cho con Khắc Ngọc P.
1. Chia cho cụ Nguyễn Thị M được quyền sở hữu và sử dụng ½ ngôi nhà
công trình phụ di sản của cụ Cái C để lại gtrị: 58.943.200 đồng ½
ngôi nhà công trình phụ tài sản của cụ trong khối tài sản chung (vợ chồng
cụ C, cụ M) giá trị: 58.943.200 đồng. Tổng toàn bộ một ngôi nhà cấp 4
công trình phụ giá trị: 117.886.400 đồng, nằm trên diện tích đất 764,6m
2
(trong
đó 125m
2
đất giá trị 46.500.000 đồng, 639,6m
2
đất trồng cây hàng năm giá trị
16.629.600 đồng) giá trị: 63.129.600 đồng, theo thửa đất số 324, tờ bản đồ số
08 tại thôn M, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Bình, cụ thể như sau:
8
Phía Đông giáp phần đất cháu Khắc Ngọc P(từ điểm 5 đến điểm 11) số
đo: 42,77m;
Phía Tây giáp thửa đất của ông Mai Văn D(từ điểm 6 đến điểm 7 đến
điểm 8 đến điểm 9 đến điểm 10 theo thứ tự) số đo: 23,97m + 1,69m + 1,35m +
16,34m;
Phía Nam giáp thửa đất Hoàng Thị H(từ điểm 10 đến điểm 11) số
đo: 5,97m;
Phía Bắc giáp đường bê tông(từ điểm 5 đến điểm 6) có số đo: 23,80m;
2. Chia cho Cái Thị P được quyền sử dụng 574,2m
2
đất (trong đó
100m
2
đất giá trị 37.200.000 đồng 474,2m
2
đất trồng cây hàng năm khác
giá trị 12.329.200 đồng) giá trị: 49.529.200 đồng, cụ thể:
Phía Đông giáp với các thửa đất của ông Đoàn Kim P, thửa của
Nguyễn Thị H, thửa của bà Dương Thị L, thửa của ông Nguyễn Thế S, thửa của
ông Mai Văn Q(từ điểm 2 đến điểm 3), có số đo: 46,92m;
Phía Tây giáp phần đất của Khắc Ngọc P (từ điểm 1 đến điểm 4) số
đo: 43,68m;
Phía Nam giáp thửa đất của bà Hoàng Thị H(từ điểm 1 đến điểm 2) số
đo: 11,53m;
Phía Bắc giáp đường bê tông(từ điểm 3 đến điểm 4) có số đo: 14,60m.
3. Chia cho cháu Khắc Ngọc P được quyền sử dụng diện tích đất
190,4m
2
(trong đó 25 m
2
đất giá trị 9.300.000 đồng 165,4m
2
đất trồng cây
hàng năm khác giá trị 4.300.000 đồng) gtrị: 13.600.000 đồng. Do cháu P
người dưới 18 tuổi nên giao cho người đại diện theo pháp luật Nguyễn Thị
Y(mẹ đẻ) quản lý, cụ thể:
Phía Đông giáp phần đất của Cái Thị P(từ điểm 1 đến điểm 4) số đo:
43,68m
Phía Tây giáp với phần đất của cụ Nguyễn Thị M (từ điểm 5 đến điểm
11)có số đo: 42,77m;
Phía Nam giáp thửa đất của Hoàng Thị H (từ điểm 1 đến điểm 11)có
số đo: 4,50m;
Phía Bắc giáp đường tông(từ điểm 4 đến điểm 5) số đo 4,50m(
điểm 5 mép ngoài trụ cổng của cụ M).
(Tất cả theo sơ đồ phân chia tài sản thừa kế kèm theo bản án).
Căn cứ khoản 2 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Bà Cái Thị P phải chịu án
phí n sthẩm 2.476.460 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
7.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy theo
biên lai thu tiền số 0006036 ngày 13/5/2020. P được trả lại 4.523.540 đồng
tiền tạm ứng án phí còn thừa; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Nguyễn Thị M
và cháu Khắc Ngọc P.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dận sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi
9
hành án hoặc bị ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn người quyền lợi liên quan mặt quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 29/9/2020; người
quyền lợi liên quan đại diện hợp pháp của người quyền lợi liên quan
vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng
Bình xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận
: THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
(Đã ký )
- VKSND huyện Lệ Thủy;
- Tòa án ND tỉnh Quảng Bình;
- Chi cục THADS huyện Lệ Thủy;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu VP.
Trương Thị Nhàn
Tải về
Bản án số 12/2020/DS-ST Bản án số 12/2020/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất