Bản án số 119/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 119/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 119/2026/DS-PT ngày 04/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 119/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị H kiện chị Vương Thị T về hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 119/2026/DS-PT Bản án số 119/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 119/2026/DS-PT Bản án số 119/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 119/2026/DS-PT
Ngày: 04 - 9 - 2026
V/v tranh chấp hợp
đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Thẩm phán:
+ Ông Vũ Hà Nam;
+ Bà Trần Thị Sâm.
- Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Thanh Huyền, bà Bùi Thị Thùy Linh – đều
là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: bà Phạm Thị Thanh Mơ -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 04/9/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ lý số 61/2026/TLPT-DS ngày 28/7/2026 về “Tranh chấp hợp
đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của Toà án
nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 101/2026/QĐ-PT ngày
17/8/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Lê Thị H, sinh năm 1965. Số Căn cước ************
cấp ngày 06/01/2025. Địa chỉ: 7 (nay là 9), xã H, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
2. Bị đơn: chị Vương Thị T, sinh năm 1983. Số Căn cước công dân
************ cấp ngày 29/3/2018. Nơi thường trú: số D Ô19 H, phường N, tỉnh
Ninh Bình. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại K3 – Trại giam N thuộc Bộ C.
(Vắng mặt)
*. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: chị Vương Thùy L, sinh năm 1997.
Số Căn cước công dân ************. Địa chỉ: A (nay là N), xã H, tỉnh Ninh
Bình. Là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn (văn bản ủy quyền không đề
ngày tháng năm, gửi qua dịch vụ bưu chính vào ngày 23/3/2026). (Có mặt)
2
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đức H1, sinh năm
1962. Số Căn cước công dân ************. Địa chỉ: 7 (nay là 9), xã H, tỉnh
Ninh Bình. (Có mặt)
4. Người kháng cáo: người đại diện hợp pháp của bị đơn (chị Vương Thùy
L).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại Đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê
Thị H trình bày:
Bà H và ông Nguyễn Đức H1 (chồng bà H) có quan hệ quen biết với chị
Vương Thị T. Do chị Vương Thị T cần tiền để làm ăn và đáo nợ Ngân hàng nên
bà H đã nhiều lần cho chị T vay tiền, việc vay mượn đều trong thời gian ngắn, vay
rồi trả, các khoản vay trước ngày 30/12/2022 hai bên đã tất toán. Đến ngày
30/12/2022, bà H tiếp tục cho chị T vay tổng số tiền là4.550.000.000 đồng. Khi
cho vay, bà H chuyển tiền bằng 2 phương thức: chuyển khoản và tiền mặt, chủ
yếu là chuyển tiền mặt cho chị Vương Thị T. Sau khi tra soát các sao kê giao dịch
của chị Vương Thị T tại các Ngân hàng thời điểm từ ngày 30/12/2022 đến hết
ngày 03/01/2023 thể hiện tại Ngân hàng M chị Vương Thị T đã nhận được tổng
số tiền chuyển khoản từ bà Lê Thị H là 925.000.000 đồng trong ngày 30/12/2022.
Các ngày khác và các tài khoản Ngân hàng khác không phát sinh, số tiền còn lại
bà H chuyển cho chị T bằng tiền mặt. Sau khi nhận tiền, chị Vương Thị T có lập
02 giấy nhận nợ viết tay đều ghi ngày 30/12/2022. Giấy vay viết tay thứ nhất ghi
ngày 30/12/2022, xác nhận chị T vay nợ bà H số tiền 3.050.000.000 đồng, thời
hạn trả nợ là ngày 03/01/2023, mục đích vay để đáo hạn Ngân hàng, không ghi
lãi suất của khoản vay trên hợp đồng. Giấy vay viết tay thứ hai ghi ngày
30/12/2022, xác nhận chị T vay nợ bà H số tiền 1.500.000.000 đồng, thời hạn trả
nợ vay là 01 ngày, không ghi lãi suất khoản vay trên hợp đồng.
Khoản vay 3.050.000.000 đồng chị T vay trước đó, sau đó chị T vay tiếp
khoản vay 1.500.000.000 đồng. Mặc dù, hai khoản vay không ghi lãi suất trên
giấy nhưng hai bên có thoả thuận lãi suất của khoản vay là 1./ngày/triệutương
đương với 54%/nămvà chỉ tính trong thời hạn trả nợ đối với từng giấy viết tay.
Toàn bộ số tiền 4.550.000.000 đồng bà H đã giao cho chị Vương Thị T vay bằng
cả hình thức giao tiền mặt và hình thức chuyển khoản. Việc giao tiền cho chị
Vương Thị T được thực hiện luôn trong ngày 30/12/2022 và chị T viết giấy vay
để xác nhận công nợ. Hiện tại, chị Vương Thị T chưa trả cho vợ chồng bà H bất
kỳ khoản tiền lãi nào. Nguồn gốc số tiền cho chị Vương Thị T vay là tài sản chung
của bà H và ông Nguyễn Đức H1.
Để tạo lòng tin cho bà H, chị Vương Thị T đã giao cho bà H 02 Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, cụ thể: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD
844638 đối với thửa đất số 327, tờ bản đồ số 7, diện tích 98m
2
tại địa chỉ: xã H,
tỉnh Ninh Bình đứng tên chị Vương Thị T và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với thửa đất tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định cũ đứng tên ông
Cao Quang H2.
3
Về việc trả nợ: qua sao kê tài khoản Ngân hàng của bà H và chị T, bà H xác
nhận chị T đã chuyển khoản trả nợ vào tài khoản của bà H số tiền như sau: ngày
30/12/2022, chị T chuyển khoản 03 lần là số tiền 9.150.000 đồng, 4.575.000 đồng,
150.000.000 đồng. Ngày 03/01/2023, chị T chuyển khoản số tiền là 32.800.000
đồng và chuyển số tiền 400.000.000 đồng thông qua tài khoản của người khác.
Ngày 23/7/2024, gia đình chị Vương Thị T đã trả thêm cho bà H số tiền là
500.000.000 đồng khi xử lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông
Cao Quang H2. Ngày 01/5/2026, chị L người đại diện theo uỷ quyền của chị T
chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng của bà H số tiền 5.000.000 đồng. Nay
tổng số tiền chị Vương Thị T đã chuyển trả cho bà H là 1.101.525.000 đồng. Bà
H xác định toàn bộ số tiền chị T đã chuyển trả là số tiền nợ gốc, còn tiền lãi hai
bên đã thoả thuận chị T chưa trả cho bà H đồng nào. Nay bà H xác định số tiền
nợ gốc chị T chưa trả là 3.488.475.000 đồng. Bà H yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà
án giải quyết: buộc chị Vương Thị T phải có nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng bà H
số tiền là: 3.488.475.000 đồng, bà H không yêu cầu chị Vương Thị T phải trả lãi.
Nếu sau bản án có hiệu lực pháp luật mà chị T chậm trả thì bà H yêu cầu chị T
phải trả lãi chậm trả theo quy định của pháp luật. Đối với thửa đất số 327, tờ bản
đồ số 7, diện tích 98m
2
tại địa chỉ xã H, tỉnh Ninh Bình, đất được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số DD 844638 mang tên chị Vương Thị T (bà H đang
giữ), nay chị T không đồng ý chuyển nhượng cho vợ chồng bà H để trừ nợ nên bà
H rút yêu cầu chị Vương Thị T chuyển nhượng cho vợ chồng bà H thửa đất trên
để trừ nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là chị Vương Thị T và người đại diện hợp
pháp của chị Vương Thị T trình bày:
Chị T và bà H có quan hệ quen biết xã hội và nhiều lần hợp tác làm ăn nên
rất tin tưởng nhau. Chị T đã nhiều lần vay tiền của bà H để đầu tư kinh doanh và
đều thanh toán đầy đủ. Lần cuối cùng trước khi bị bắt giam, ngày 30/12/2002, chị
T đã vay tiền bà H theo 02 giấy vay nợ gồm: 01 giấy vay ghi số tiền vay là
3.050.000.000 đồng và 01 giấy vay ghi số tiền là 1.500.000.000 đồng. Tổng cộng
số tiền là 4.550.000.000 đồng, hai giấy vay có thời hạn vay khác nhau và có lãi
suất theo thoả thuận. Chị T thừa nhận hai giấy vay nợ đều do chị T viết nhưng
theo trí nhớ của chị T bản chất 02 giấy vay nợ này như sau: chị T vay của bà H số
tiền 1.500.000.000 đồng trước khoản vay 3.050.000.000 đồng. Hai bên không có
giao dịch bằng tiền mặt mà chủ yếu giao dịch bằng chuyển khoản. Chị T dùng tài
khoản của 04 Ngân hàng là Ngân hàng mại cổ phần Q Ngân hàng M1, Ngân
hàng thương mại cổ phần H3, Ngân hàng thương mại cổ phần L1; còn chị H giao
dịch bằng Ngân hàng M2. Chị T đề nghị Toà án sao kê giao dịch 04 tài khoản của
chị T tại 04 Ngân hàng để xem xét khoản tiền nợ của chị T vì chị T nhớ khoản nợ
3.050.000.000 đồng đã bao gồm khoản nợ 1.500.000.000 đồng, cụ thể chị T vay
của bà H số tiền 1.500.000.000 đồng trước, sau đó chị T vay thêm bà H một số
tiền và đã nhận chuyển khoản từ bà H trong ngày 30/12/2022 số tiền là
925.000.000 đồng. Chị T viết giấy nhận nợ với bà H và cũng không thu hồi giấy
vay trước đó là 1.500.000.000 đồng. Hai bên viết giấy vay không thể hiện lãi suất
4
nhưng tự thoả thuận miệng với nhau 1.500 đồng/triệu/ngày. Chị T không có tài
liệu gì cung cấp chứng minh nhưng bản chất sự việc chị T vay nợ bà H số tiền
3.050.000.000 đồng.
Về việc thanh toán nợ: chị T đã trả tiền nợ gốc cho bà H các lần như sau:
trước khi bị bắt chị T đã trả cho bà H số tiền khoảng 500.000.000 đồng, nay sao
kê Ngân hàng cụ thể trả số tiền chuyển khoản thông qua tài khoản của anh Trần
Văn T1 400.000.000 đồng (chị Vương Thị T có chuyển tiền cho anh Trần Văn T1
vào sáng ngày 03/01/2023 nội dung ghi: “Lê Thị H chuyển tiền” với số tiền
400.000.000 đồng và số tiền 150.000.000 đồng chị T chuyển cho bà H vào tài
khoản bà H vào ngày 30/12/2022. Tổng số tiền gốc chị T đã trả cho bà H trước
khi bị bắt là 550.000.000 đồng. Sau đó, gia đình thu xếp chuyển trả cho bà H tiếp
số tiền 500.000.000 đồng từ việc xử lý tài sản theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông H2. Ngày 01/5/2026, chị L đã thay mặt chị T chuyển khoản trả
nợ cho bà H số tiền 5.000.000đồng. Tổng cộng số tiền đã trả nợ là 1.055.000.000
đồng.
Đối với số tiền chị T đã chuyển lẻ cho bà H vào ngày 30/12/2022 và ngày
03/01/2023 gồm: ngày 31/12/2022, chị T chuyển khoản các số tiền là: 9.150.000
đồng và 4.575.000 đồng được xác định là tiền lãi của khoản tiền gốc
3.050.000.000 đồng. Ngày 03/01/2023, chị T chuyển khoản số tiền là 32.800.000
đồng cũng xác định là khoản trả lãi các ngày tiếp theo. Tổng cộng số tiền trả lãi
là 46.525.000 đồng. Tuy nhiên, hiện tại không có tài liệu chứng cứ nào chứng
minh về việc các bên có thoả thuận về lãi suất và chị T cũng chỉ ghi là chuyển
khoản không ghi rõ là trả lãi hay trả gốc.
Nay xác định khoản nợ của chị T như sau: nợ gốc giữa hai bên là
3.050.000.000 đồng (bao gồm cả số tiền nợ gốc theo giấy vay 1.500.000.000
đồng). Hiện nay, tổng số tiền nợ gốc chị Vương Thị T đã trả là: 1.055.000.000
đồng. Đối với các giao dịch chuyển khoản: 9.150.000 đồng (lãi của các khoản vay
trước đó) và 4.575.000 đồng (lãi của khoản tiền gốc 3.050.000.000 đồng) là tiền
trả lãi ngày 30/12/2022 và số tiền 32.800.000 đồng là khoản tiền trả lãi những
ngày tiếp theo. Chị T không yêu cầu tính lại lãi, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Chị T không nhất trí sang tên thửa đất số 327, tờ bản đồ số 7, diện tích 98m
2
tại địa chỉ xã H, tỉnh Ninh Bình, đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mang tên chị Vương Thị T cho bà H và ông H1.
Số tiền nợ gốc còn lại chị T sẽ có trách nhiệm trả cho vợ chồng bà H, xin
được trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi tất toán khoản vay. Chị T
nhất trí việc bà H không yêu cầu chị T thanh toán tiền lãi.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông
Nguyễn Đức H1 trình bày:
Ông H1 thừa nhận lời trình bày của bà Lê Thị H về việc vay nợ, trả nợ giữa
bà H, chị T là đúng. Ông xác định nguồn gốc tiền bà H cho chị T vay là tài sản
chung của vợ chồng. Ông H1 biết chị T là người không đàng hoàng, đã ngăn cản
5
bà H cho vay nhưng bà H không nghe đã tự ý lấy tài sản chung của vợ chồng cho
vay. Nay ông H1 có quan điểm: yêu cầu chị Vương Thị T phải có nghĩa vụ trả nợ
cho vợ chồng ông H1 số tiền là 3.488.475.000 đồng, bà H không yêu cầu chị
Vương Thị T phải trả lãi ông cũng nhất trí. Nếu bản án có hiệu lực pháp luật mà
chị T chậm trả tiền thì vợ chồng ông yêu cầu chị T phải trả lãi chậm trả theo quy
định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST ngày 11/6/2026, Toà án nhân
dân khu vực 7 – Ninh Bình đã quyết định: căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118,
Điều 119, Điều 357, Điều 398, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật
Dân sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H. Buộc chị Vương Thị T phải trả cho bà
Lê Thị H và ông Nguyễn Đức H1 số tiền vay là 3.448.475.000 đồng.Đình chỉ
yêu cầu của bà Lê Thị H về việc yêu cầu chị Vương Thị T chuyển nhượng cho
vợ chồng bà Lê Thị H thửa đất số 327, tờ bản đồ số 7, diện tích 98m
2
tại địa chỉ:
xã H, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên chị
Vương Thị T. Ngoài ra, bản án còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí, quyền
kháng cáo cho các bên đương sự, quyền, nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 26/6/2026, chị Vương Thùy L là người đại diện hợp pháp của bị đơn
có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: đề nghị Toà án cấp phúc thẩm
xem xét lại phần quyết định về nghĩa vụ thanh toán của chị Vương Thị T; tiến
hành thu thập bổ sung các chứng cứ cần thiết bao gồm: sao kê đầy đủ các giao
dịch giữa các bên, xác minh việc giao nhận các khoản tiền mặt mà nguyên đơn
cho rằng đã giao cho bị đơn, đối chất giữa các bên để làm rõ quá trình hình thành
các khoản vay và việc thanh toán. Lý do kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm
rõ bản chất của 2 Giấy vay tiền, xác định số tiền phải thanh toán chưa phản ánh
đầy đủ các chứng cứ khách quan, chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về quá trình giao
nhận tiền, chưa tiến hành đối chất để làm rõ các tình tiết còn mâu thuẫn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà H, ông H1 có quan điểm: không đồng ý yêu cầu kháng cáo của người
đại diện hợp pháp của bị đơn.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn có quan điểm: giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến của Viện
kiểm sát như sau: trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã thực hiện đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản
1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội. Không chấp nhận kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn. Giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của Tòa án
6
nhân dân khu vực B. Về án phí dân sự phúc thẩm: chị Vương Thị T phải chịu
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng.
[1.1] Đơn kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn làm trong thời
hạn pháp luật quy định và đúng hình thức, nội dung nên được xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, chị Vương Thị T vắng mặt nhưng đã có văn
bản uỷ quyền cho chị Vương Thùy L. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm.
Đơn kháng cáo của bị đơn có nội dung kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự về phạm vi xét xử phúc thẩm, Hội đồng
xét xử phúc thẩm xem xét phần bản án sơ thẩm theo nội dung đơn kháng cáo của
người đại diện hợp pháp của bị đơn.
[2] Về nội dung kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn.
Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, chị Vương Thị T thừa
nhận: tổng cộng 02 Giấy vay tiền là do chị viết. Lãi suất thoả thuận miệng là 1.500
đồng/triệu/ngày. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tình tiết nêu
trên là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
Tại Bản tự khai, chị T trình bày: chị có vay của chị H theo Giấy vay tiền
ngày 30/12/2022 với số tiền là 3.050.000.000 đồng và 1.500.000.000 đồng. Tổng
cộng 02 Giấy vay tiền là 4.550.000.000 đồng. Tuy nhiên, chị băn khoăn liệu bà H
có gộp lại cả khoản vay cũ và thiết lập giấy vay mới mà chưa huỷ giấy vay
1.500.000.000 đồng đã được lập trước hay không. Chị đề nghị Toà án tiến hành
sao kê giao dịch 04 tài khoản Ngân hàng của chị từ ngày 29/12/2022 đến ngày
04/01/2023.
Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập các tài khoản của chị T tại Ngân
hàng TMCP M2 – Chi nhánh N1, Ngân hàng TMCP L1 – Chi nhánh N1 – Phòng
G, Ngân hàng TMCP H3 – Chi nhánh N1, Ngân hàng TMCP T2 thể hiện: số tiền
bà H chuyển tiền qua tài khoản của chị T vào ngày 30/12/2022 là 925.000.000
đồng.
Căn cứ vào 02 Giấy vay tiền do chị T viết có nội dung rõ ràng, không thể
hiện khoản vay đã được nhập gộp cả khoản vay trước.
Do đó, Hội đồng xét xử xác định khoản vay 3.050.000.000 đồng, thời hạn
trả nợ vào ngày 03/01/2023 và khoản vay 1.500.000.000 đồng, thời hạn trả nợ 01
ngày là hai khoản vay độc lập.
Xét giao kết hợp đồng vay tài sản ngày 30/12/2022 giữa bà H với chị T là
hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, mục đích và nội dung của giao dịch dân
7
sự không vi phạm điều cấm của pháp luật nên việc giao kết 02 hợp đồng vay tài
sản cùng ngày 30/12/2022 giữa nguyên đơn và bị đơn có hiệu lực pháp luật. Các
bên đương sự phải thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã cam kết.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Toà án cấp sơ thẩm thu thập
thì Toà án cấp sơ thẩm đã xác định tổng số tiền chị T vay của bà H theo 2 Giấy
vay tiền cùng ngày 30/12/2022 là 4.550.000.000 đồng là có căn cứ.
Về quá trình thực hiện hợp đồng: tại phiên tòa, các bên đương sự đều thừa
nhận thống nhất, chị T đã chuyển trả cho bà H tổng số tiền là 1.101.525.000 đồng.
Các giao dịch thanh toán, chị T không ghi rõ trả gốc hay lãi. Hiện nay bà H
không yêu cầu chị T trả tiền lãi, chỉ yêu cầu Toà án đối trừ tổng số tiền chị T đã
trả tính vào nợ gốc, số nợ gốc còn lại thì chị T phải trả cho bà H là đảm bảo quyền
lợi của chị T.
Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập tài khoản của chị T tại 04 Ngân
hàng nêu trên. Tại phiên tòa, chị L thừa nhận không có tài liệu, chứng cứ gì chứng
minh khoản vay 3.050.000.000 đồng được gộp cả khoản vay 1.500.000.000 đồng.
Tại Bản tự khai, chị T thừa nhận chữ viết trong 02 Giấy vay tiền cùng ngày
30/12/2022 là chữ của chị T viết, Toà án cấp sơ thẩm đã làm rõ số tiền vay gốc,
số tiền gốc đã thanh toán một phần.
Do số tiền gốc bà H cho chị T vay có nguồn gốc là tài sản chung của vợ
chồng bà H ông H1. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định số tiền gốc chị T phải
trả cho bà H, ông H1 là 3.448.475.000 đồng (4.550.000.000 đồng – 1.101.525.000
đồng = 3.448.475.000 đồng) là đúng pháp luật.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy các tài liệu, chứng cứ đã được Toà án
cấp sơ thẩm thu thập đầy đủ. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của người
đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tiến hành thu thập bổ
sung các tài liệu, chứng cứ như trình bày trong đơn kháng cáo. Tại phiên toà phúc
thẩm, phía người đại diện hợp pháp của bị đơn không xuất trình tài liệu, chứng cứ
gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử không chấp
nhận các căn cứ kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn. Hội đồng xét
xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị đơn;
giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về số tiền gốc mà chị T phải thanh
toán cho bà H, ông H1 và án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp
nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
8
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện hợp pháp của bị
đơn.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2026/DS-ST ngày 11/6/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực B.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm.
Chị Vương Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0000046 ngày 02/7/2026 của Thi hành án dân
sự tỉnh Ninh Bình (do chị Vương Thùy L nộp thay chị Vương Thị T). Chị Vương
Thị T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 36 của Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
04/9/2026).
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Phòng Giám đốc, Kiểm tra,
Thanh tra và Thi hành án;
- TAND khu vực 7 – Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, Tòa DS, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thị Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 119/2026/DS-PT Bản án số 119/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 119/2026/DS-PT Bản án số 119/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất