Bản án số 673/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 673/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 673/2026/DS-PT ngày 07/09/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 673/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 673/2026/DS-PT Bản án số 673/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 673/2026/DS-PT Bản án số 673/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Bản án số: 673/2026/DS- PT
Ngày: 07 - 9 - 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn An
- Thẩm phán: Bà Đỗ Thị Nhung
Ông Vũ Hồng Luyến
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đồng Nai
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trần Minh Nhựt - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19, 27 tháng 8 và 07 tháng 9 năm 2026, tại Tòa án nhân dân
thành phố Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
543/2026/TLPT-DS ngày 21 tháng 7 năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 614/2026/QĐXXPT-DS ngày
22/7/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn Đ, sinh năm 1983. “có mặt”
Địa chỉ: Tổ 5, ấp Phú Điền 1, xã Phú Hòa, thành phố Đồng Nai.
- Bị đơn:
1. Bà Trần Thị Q, sinh năm 1971; “vắng mặt”
2. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963; “có đơn xin xét xử vắng mặt”
Địa chỉ: tổ 2, khu phố Ngọc Lâm 1, phường Tân Phú, thành phố Đồng Nai.
Nơi ở hiện tại: khu phố Trà Cổ 12, phường Tân Phú, thành phố Đồng Nai.
3. Chị Nguyễn Thị Kiều O, sinh năm 1997; “vắng mặt”
4. Anh Đặng Quốc A, sinh năm 1995; “vắng mặt”
Địa chỉ: tổ 2, khu phố Ngọc Lâm 1, phường Tân Phú, thành phố Đồng Nai.
Nơi ở hiện tại: khu phố Trà Cổ 12, phường Tân Phú, thành phố Đồng Nai.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Q, chị O, anh Quốc A:
Bà Phạm Thị Thanh N, sinh năm 2000; “có mặt”
2
Địa chỉ: số 80, đường Song Hành, khu đô thị Lakeview city, Phường Bình
Trưng, Thành phố Hồ chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị H, sinh năm 1969;
trú: Ấp Phú Điền 3, xã Phú Hòa, thành phố Đồng Nai. “có mặt”
Người kháng cáo: bị đơn bà Trần Thị Q, bà Nguyễn Thị Kiều O, ông Đặng
Quốc A và ông Nguyễn Văn M
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/12/2025, lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phan Văn Đ trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ông đã trực tiếp vay tiền giúp cho vợ
chồng bà Q, ông M và chị O, anh Quốc A nhiều lần. Do thời gian đã lâu nên ông
không nhớ rõ ngày tháng năm và số tiền của từng lần vay. Khi vay các bên có viết
“Giấy vay tiền” của từng lần vay, ông và bà Trần Thị H (là người ông vay tiền
dùm) cùng bà Q ký tên xác nhận nợ. Ông đã chuyển khoản đầy đủ các khoản tiền
qua tài khoản của chị O.
Từ khi vay đến tháng 8/2025, bà Q và chị O có thanh toán tiền lãi cho ông
mặc dù không đầy đủ, ông không nhớ rõ cụ thể bà Q và chị O đã thanh toán được
bao nhiêu tiền lãi, còn tiền gốc thì chưa thanh toán. Đến ngày 18/8/2025, bà Q và
chị O có lập Giấy xác nhận vay tiền với ông và bà H. Bà Quý và chị O cam kết sẽ
thanh toán lãi vào ngày 20 hàng tháng và thanh toán gốc khi ông yêu cầu. Đến cuối
tháng 8/2025 do có nhu cầu nên ông có báo cho bà Q và chị O yêu cầu trả tiền gốc
nhưng bà Q và chị O vẫn không chịu thanh toán tiền gốc, lãi cho ông.
Đến tháng 9/2025, ông khởi kiện bà Q, chị O, anh Quốc A và ông M ra Tòa
án nhân dân Khu vực 8 - Đồng Nai yêu cầu trả nợ. Tại Tòa án, bà Q, chị O, anh
Quốc A thống nhất chuyển toàn bộ số nợ của ông với tổng số tiền gốc là
2.824.400.000 đồng và cam kết sẽ thanh toán đầy đủ số nợ gốc trên làm nhiều lần
bắt đầu từ tháng 4/2026 (âm lịch), thỏa thuận lãi hàng tháng theo mức lãi 2%/tháng
(56.480.000đ) nên ông và bà H đã rút đơn khởi kiện. Tại thời điểm trên, bà Q, chị
O, anh Quốc A có ký "Giấy vay tiền" ngày 29/10/2025 và đồng ý là ông M có
trách nhiệm cùng thanh toán nợ. Tuy nhiên, do ông M đang bị bệnh nặng nên bà Q
xin không đưa cho ông M ký. Do bà Q vay tiền để kinh doanh sâu riêng, phục vụ
kinh tế chung gia đình, là nợ chung. Do đó, "Giấy vay tiền" ngày 29/10/2025 có
ghi tên ông M là người vay cùng vời bà Q, chị O và anh Quốc A. Tuy nhiên, sau
khi ông rút đơn khởi kiện thì bà Q, ông M và chị O, anh Quốc A mới thanh toán
cho ông số tiền lãi là 40.000.000đ thì không tiếp tục thanh toán tiếp. Ông có liên hệ
yêu cầu thanh toán thì bà Q cứ khất lần, không chịu thanh toán. Sau khi ông khởi
kiện, bà Q, ông M và chị O, anh A thanh toán tiếp cho ông số tiền lãi còn thiếu của
tháng 11/2025 là 16.480.000đ, còn tháng 12/2025 thì chưa thanh toán. Ông kết hôn
với bà Lệ Nhật Thùy P, sinh năm: 1984, địa chỉ: ấp Phú Điền 1, xã Phú Hòa, tỉnh
Đồng Nai và đang trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, số tiền ông cho bà Q, ông M
và chị O, anh A vay là tài sản riêng của ông, không liên quan đến vợ ông.
Nay ông yêu cầu bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, chị Nguyễn Thị Kiều
O và anh Đặng Quốc A có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền gốc là
2.824.400.000 đồng và tiền lãi tính từ tháng 01/2026 đến thời điểm xét xử theo quy
định pháp luật.
3
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn anh Đặng Quốc A
trình do bà Phạm Thị Thanh N làm đại diện trình bày:
Ông Đặng Quốc A và bà Nguyễn Thị Kiều O là vợ chồng theo Giấy chứng
nhận kết hôn số 136 ngày 18/11/2016. Ông Quốc Anh và bà O thừa nhận có nhận
chuyển nhượng thửa đất số 299, tờ bản đồ số 7, diện tích: 461,3m2, toạ lạc tại xã
Phú Điên, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 982079, số vào sổ cấp
GCN: CS 10174 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
27/7/2020 đứng tên vợ chồng ông Nguyễn Văn V, bà Trương Thị H do ông Đ đại
diện chủ đất. Ông Đức đứng ra vay giúp cho bà O, ông Quốc A biết số tiền vay
750.000.000 đồng để trả tiền cho chủ đất là ông Vinh, bà Hoàng. Bà Oanh, ông
Quốc A đã được cấp giấy CNQSDĐ, phía ông Vinh, bà Hoàng cũng không yêu
cầu ông bà O, ông Quốc A thanh toán thêm bất kỳ khoản tiền nào khác.
Ngày 18/8/2025, ông Đ đi cùng với bà H đến gặp bà O và bà Q yêu cầu ký
vào Giấy xác nhận vay tiền với bà H do ông Đ soạn có nội dung bà O, bà Q vay
của bà H số tiền 750.000.000 đồng nợ gốc, 200.000.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là
950.000.000 đồng, lãi suất 2%/tháng. Vì tin rằng ông Đ đã vay tiền đề trả tiền
chuyển nhượng cho ông Vinh chủ đất thay bà O nên bà O mới tin tưởng ký xác
nhận với bà Huệ theo yêu cầu của ông Đ. Thực tế, không có việc giao nhận tiền
giữa các bên.
Cùng ngày 18/8/2025, ông Đ cũng soạn sẵn Giấy xác nhận vay tiền với bà
O, bà Q. Ông Đức xác nhận nợ gốc còn lại là 1.200.000.000 đồng, tiền lãi ông Đ tự
tính là 600.000.000 đồng. Sau đó, ông Đ cộng cả gốc và lãi lại thành
1.800.000.000 đồng. Ông Đức yêu cầu cá nhân bà O và bà Q phải nhận nợ số tiền
1.800.000.000 đồng, lãi suất 2,4% tháng. Đối với khoản vay này, cá nhân bà O, bà
Q tự mình đứng ra vay để sử dụng kinh doanh riêng chứ không nói cho ông Quốc
A biết.
Do đó, ông Đặng Quốc A không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc yêu cầu ông Đặng Quốc A liên đới thanh toán số tiền nợ gốc là
2.824.400.000 đồng và tiền lãi suất theo quy định.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn chị Nguyễn Thị
Kiều O do bà Phạm Thị Thanh N làm đại diện trình bày:
Bà Oanh thống nhất với trình bày của ông Quốc A. Do biết bà Q và bà O
đang kinh doanh sầu riêng, cần thêm vốn nên ông Đ đã đồng ý cho bà Q, bà O vay
tiền. Các lần cho vay ông Đ đều chuyển khoản trực tiếp qua số tài khoản ngân
hàng 99799999968 của bà Nguyễn Thị Kiều O mở tại Ngân hàng TMCP Việt Nam
Thịnh Vượng (VPBank). Bà Oanh đã chuyển trả cho ông Đ nhiều lần và số tiền nợ
gốc còn lại là 1.200.000.000 đồng.
Ngày 18/8/2025, ông Đ soạn sẵn Giấy xác nhận vay tiền với bà O, bà Q có
nội dung xác nhận nợ gốc còn lại là 1.200.000.000 đồng, tiền lãi ông Đ tự tính là
600.000.000 đông. Sau đó, ông Đ cộng cả gốc và lãi lại thành 1.800.000.000 đồng.
Ông Đức yêu cầu bà O, bà Q phải nhận nợ số tiền 1.800.000.000 đồng, lãi suất
2,4%/ tháng tương ứng 43.200.000 đồng/tháng. Do bà O, bà Q tin tưởng ông Đ
tính lãi đúng quy định pháp luật và có lợi cho phía bị đơn nên mới ký xác nhận nợ.
Trên thực tế, số tiền nợ gốc bà O, bà Q còn nợ ông Đ là 1.200.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Kiều O không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu ông Đặng Quốc A, bà Nguyễn Thị
4
Kiều O và bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M liên đới thanh toán số tiền nợ gốc là
2.824.400.000 đồng. Về lãi suất, ông Đ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lãi với mức
2%/tháng cũng trái quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn đã chuyển tiền lãi
cho nguyên đơn nên đề nghị Tòa án khấu trừ trực tiếp vào số tiền nợ gốc.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Thị Q, do
bà Phạm Thị Thanh N làm đại diện trình bày:
Bà thống nhất với trình bày của anh Quốc A và chị O, do biết bà Q và bà
O đang kinh doanh sầu riêng, cần thêm vốn nên ông Đ đã đồng ý cho bà Q, bà O
vay tiền. Ngày 18/8/2025, ông Đ soạn sẵn Giấy xác nhận vay tiền với bà O, bà Q
có nội dung xác nhận nợ gốc còn lại là 1.200.000.000 đồng, tiền lãi ông Đ tự tính
là 600.000.000 đồng. Sau đó, ông Đ cộng cả gốc và lãi lại thành 1.800.000.000
đồng. Ông Đức yêu cầu bà O, bà Q phải nhận nợ số tiền 1.800.000.000 đồng, lãi
suất 2,4%/ tháng tương ứng 43.200.000 đồng/tháng. Do bà O, bà Q tin tưởng ông
Đ tính lãi đúng quy định pháp luật nên mới ký xác nhận nợ. Trên thực tế, số tiền
nợ gốc bà O, bà Q còn nợ ông Đ là 1.200.000.000 đồng.
Bà Trần Thị Q không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn ông Phan Văn Đ về việc yêu cầu ông Đặng Quốc A, bà Nguyễn Thị Kiều O
và bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M liên đới thanh toán số tiền nợ gốc là
2.824.400.000 đồng, lãi suất 2%/tháng, vì thực tế, bị đơn chỉ còn nợ nguyên đơn
số tiền nợ gốc là 1.200.000.000 đồng chứ không phải 1.800.000.000 đồng theo
Giấy xác nhận vay tiền ngày 18/8/2025. Không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn
về việc ông Nguyễn Văn M chồng bà Q phải có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng bà
O, bà Q vì đây là khoản vay riêng của cá nhân bà Q và bà O sử dụng mục đích
kinh doanh riêng.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn M
trình bày:
Quá trình vay mượn giữa bà Trần Thị H, ông Phan Văn Đ với bà Trần Thị
Q, bà Nguyên Thị Kiều Oanh ông không tham gia, không ký tên, không nhận
tiền và không xác nhận bất kỳ khoản nợ nào đối với ông Đ. Việc bà Q vay tiền là
sử dụng vào mục đích kinh doanh riêng của bà Q không nhằm phục vụ nhu cầu
thiết yếu của gia đình. Do đó, đây là nợ riêng của cá nhân bà Q, không liên quan
đến ông nên ông không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn
Đ về việc yêu cầu ông liên đới thanh toán số tiền nợ gốc là 2.824.400.000 đồng
và tiền lãi.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS – ST, Ngày: 02 - 6 – 2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đồng Nai đã quyết định:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ đối với bà Trần
Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kiều O và anh Đặng Quốc A về việc
“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
- Buộc bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kiều O và anh
Đặng Quốc A có nghĩa vụ có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Phan Văn Đ số
tiền gốc là 2.814.384.000 đồng (Hai tỷ tám trăm mười bốn triệu ba trăm tám mươi
bốn nghìn đồng) và tiền lãi là 234.400.000 đồng (Hai trăm ba mươi bốn triệu bốn
trăm nghìn đồng). Tổng cộng là 3.048.784.000 đồng (Ba tỷ không trăm bốn mươi
tám triệu bảy trăm tám mươi bốn nghìn đồng)
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền
kháng cáo theo quy định;
5
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn
Thị Kiều O và anh Đặng Quốc A kháng cáo không đồng ý quyết định của bản án
sơ thẩm;
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Phạm Thị Thanh N giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo;
Nguyên đơn ông Phan Văn Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; tuy nhiên ông Đ
chỉ yêu cầu phía bị đơn thanh toán số tiền vay theo 2 giấy vay nợ mà bị đơn vay
của ông và bà H là 2.750.000.000 đồng (trong đó giấy nợ bà H số tiền 950.000.000
đồng, nợ ông Đ 1.800.000.000 đồng).
*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Nai:
- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã thực hiện đúng các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án:
Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật TTDS
2015, tuyên sửa Bản án sơ thẩm số 37/2026/DS-ST ngày 02/6/2026 của TAND KV 8-
Đồng Nai. theo hướng công nhận yêu cầu trả gốc và lãi của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị
Kiều O và anh Đặng Quốc A trong thời hạn và được thực hiện đúng quy định nên
được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm;
[1.2] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ
Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Trần Thị H tham gia và thừa nhận số tiền
theo giấy nợ ông Đ khởi kiện bị đơn là có một phần tiền bị đơn nợ của bà và các
bên thống nhất chuyển số nợ này thành nợ chung và bị đơn có nghĩa vụ thanh toán
với ông Đ. Nên xác định bà H tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan trong vụ án;
[2] Xét kháng cáo của bà Q, chị O, anh Quốc A; Xét thấy:
Tại cấp phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn cho rằng; theo Giấy
vay nợ ngày 18/8/2025 là do cộng lại các lần vay và các bên lập giấy vay nợ với số
tiền 1.800.000.000 đồng và bị đơn đồng ý trả số tiền này, đồng thời yêu cầu trừ lại
số tiền lãi bà Q đã trả cho ông Đ (tính lãi theo quy định); đối với số tiền
950.000.000 đồng là nợ của bà H nên không đồng ý trả, vì số nợ này chưa rõ ràng.
Nguyên đơn ông Đ cho rằng: Phía bị đơn vay nợ của ông số tiền 1.800.000.000
đồng, vay của bà H 950.000.000 đồng; do bị đơn không trả nên ông và bà H khởi
kiện ra Tòa án nhân dân khu vực 8 – Đồng Nai. Ngày 29/10/2025 tại Tòa án nhân
dân khu vực 8 – Đồng Nai, do bị đơn thỏa thuận đồng ý trả số tiền trên nên các bên
thống nhất gộp khoản nợ của bà H vào chung khoản nợ của ông Đ và ghi giấy nợ
chung hai khoản bên bị đơn bà Q, Oanh, Anh nhận và đồng ý thanh toán toàn bộ số
nợ này cho ông Đ, tức là bị đơn đồng ý chuyển khoản nợ của bà H sang ông Đ.
Đồng thời ông Đ và bà H rút đơn khởi kiện đối với bị đơn và Tòa án Khu vực 8 –
Đồng Nai đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
6
Ông Đức trình bày số tiền cộng gộp hai khoản là 1.800.000.000 đồng nợ của
ông và nợ bà H 950.000.000 đồng; tuy nhiên giấy nợ ghi 2.824.400.000 đồng là
cộng thêm lãi khoản 70.000.000 đồng. Tại phiên tòa, ông Đ chỉ yêu cầu bị đơn
thanh thanh toán hai khoản là 1.800.000.000 đồng + 950.000.000 đồng =
2.750.000.000 đồng và lãi suất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H thừa nhận lời trình bày của ông Đ là đúng sự
thật, vì khi phía bị đơn vay nhưng không thanh toán nên bà và ông Đ kiện ra Tòa
khu vực 8 – Đồng Nai. Do phía bị đơn thỏa thuận và hứa sẽ thanh toán tiền nên các
bên thống nhất chuyển số nợ của bà vào nợ chung của ông Đ và bị đơn đồng ý nên
bà và ông Đ rút đơn khởi kiện, đồng thời Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án. Đối với số tiền 950.000.000 đồng bị đơn nợ bà thì ông Đ đã đứng ra
thanh toán đủ cho bà, nên số tiền bị đơn nợ thì các bên đã thống nhất chuyển cho
ông Đ và phía bị đơn có nghĩa vụ đối với ông Đ, bà không có yêu cầu gì; tuy nhiên
số tiền bị đơn nợ của bà đã chuyển cho ông Đ nên bà yêu cầu buộc phía bị đơn
phải thanh toán cho ông Đ như đã thỏa thuận;
Xét thấy: lời trình bày của nguyên đơn ông Đ và bà H là có căn cứ; điều này
phù hợp với các Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của TAND Khu vực 8 – Đồng
Nai vào ngày 29/10/2025 và Giấy nhận nợ lập cùng ngày 29/10/2025. Đại diện bị
đơn không thừa nhận nội dung Giấy nợ và lời trình bày của ông Đ và bà H, nhưng
không đưa ra được chứng cứ chứng minh, không lý giải được lý do ông Đ, bà H
rút đơn khởi kiện; đồng thời căn cứ hai giấy vay nợ do bị đơn ký nhận của ông Đ
số tiền 1.800.000.000 đồng và bà H 950.000.000 đồng thể hiện bị đơn có nợ số
tiền trên. Tại phiên tòa ông Đ chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền của hai giấy
vay với số tiền 2.750.000.000 đồng (1.800.000.000 đồng + 950.000.000 đồng) và
lãi suất là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Bà Quý, chị O và anh Quốc A cho rằng do ông Đ tính tiền gốc và lãi của các
khoản vay trước thành 2.814.384.000 đồng và ép bà Q, chị O và anh Quốc A cùng
ký tên vào giấy nợ ngày 29/10/2025 nên không đồng ý thanh toán số tiền này cho
ông Đ. Tuy nhiên, bà Q, chị O và anh Quốc A không đưa ra được tài liệu, chứng
cứ để chứng minh cho lời khai của mình là có sơ sở và lời khai của bà Q, chị O và
anh Quốc A cũng không được ông Đ và bà H thừa nhận. Để chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện của mình, ông Đ đã cung cấp chứng cứ là “Giấy vay tiền” lập ngày
29/10/2025 thể hiện: “bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kiều O và
anh Đặng Quốc A vay của ông Phan Văn Đ số tiền gốc là 2.814.384.000 đồng, lãi
suất 2%/tháng” và có chữ ký, chữ viết của bà Q, chị O và anh Quốc A; đồng thời
bà Q, chị O và anh Quốc A cũng xác định chữ ký, chữ viết trong “Giấy vay tiền”
lập ngày 29/10/2025 là do bà Q, chị O và anh Quốc A trực tiếp ký tên và viết ra.
Do đó, Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Xét về tiền lãi suất:
Theo giấy vay tiền lập ngày 29/10/2025 các bên có thỏa thuận về lãi suất với
mức lãi suất 2%/tháng (tương đương 24%/năm). Do bà Q, ông M, chị O và anh Quốc
A vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay nên phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền lãi
suất theo quy định của pháp luật. Ông Đức yêu cầu mức lãi suất 20%/năm là phù hợp
theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Nghị
quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao. Sau khi lập giấy vay tiền ngày 25/10/2025 thì ông Đ xác định đã nhận của bà Q,
ông M, chị O và anh Quốc A 01 tháng tiền lãi suất với số tiền là 56.480.000 đồng. Xét
7
thấy, Tòa cấp sơ thẩm xác định số tiền lãi suất ông Đ đã nhận 1 tháng này là vượt quá
mức lãi suất theo quy định của pháp luật nên đã điều chỉnh lại số tiền lãi suất này là có
căn cứ, đúng pháp luật.
Do tại cấp phúc thẩm, ông Đ chỉ yêu cầu phía bị đơn thanh toán số tiền đúng
theo nội dung 2 giấy vay nợ của ông Đ và bà H, không yêu cầu theo giấy vay nợ
ngày 29/10/2025; xét yêu cầu này có lợi cho phía bị đơn nên cần ghi nhận. Như
vậy số tiền gốc và lãi được tính lại như sau: 2.750.000.000 đồng nợ gốc;
Số tiền lãi theo quy định: 2.750.000.000 đồng x 1,66% tháng = 45.650.000
đồng; số tiền lãi vượt quá quy định: 56.480.000 đồng (tiền lãi ông Đ đã nhận) -
45.650.000 đồng = 10.830.000 đồng.
Số tiền lãi vượt quá được cấn trừ vào tiền nợ gốc và bị đơn còn nợ lại như sau:
2.750.000.000 đồng - 10.830.000 đồng = 2.739.170.000 đồng (gốc);
Như vậy số tiền nợ gốc và lãi bị đơn còn nợ nguyên đơn là:
2.739.170.000 đồng (gốc) x 1,66% x 05 tháng 01 ngày = 228.866.784 đồng;
2.739.170.000 đồng (gốc) + 228.866.784 đồng (lãi) = 2.968.036.784 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện bị đơn cho rằng số tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên
đơn nhiều hơn số tiền nguyên đơn thừa nhận, nhưng không đưa ra được chứng cứ
chứng minh, nguyên đơn ông Đ không thừa nhận nên không có cơ sở để chấp nhận
yêu cầu của bị đơn.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn M: Ông Mão cho rằng khoản vay trên là
do bà Q, chị O, anh Quốc A tự vay của ông Đ để sử dụng kinh doanh riêng, ông không
biết và không đồng ý liên đới trả nợ cho ông Đ, xét thấy:
Xét, mặc dù trong giấy vay tiền lập ngày 29/10/2025 chỉ thể hiện bà Q và chị
O, anh Quốc A là người ký tên vay tiền, trong Giấy vay tiền cũng có tên ông M
nhưng ông Đ cho rằng lúc lập giấy thì ông M đang trị bệnh nên không ký; đồng
thời, theo lời khai của bà Q thì toàn bộ số tiền vay từ ông Đ được bà sử dụng vào
việc kinh doanh sầu riêng. Mặc khác, tại Hợp đồng thuê đất lập ngày 09/4/2023 để
làm kho kinh doanh sầu riêng với ông Nguyễn Văn V thì chính ông Nguyễn Văn
M là người trực tiếp ký vào bên thuê đất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014; nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ hoặc chồng
thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc phục vụ nhu cầu
chung của gia đình là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc kinh doanh tạo thu nhập
phục vụ kinh tế gia đình là nhu cầu chung, do đó khoản nợ phát sinh từ hoạt động
kinh doanh này là nghĩa vụ chung của vợ chồng ông M, bà Q. Do đó, ông M phải
có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm cùng bà Q thanh toán số tiền nợ gốc trên cho
ông Đ là phù hợp pháp luật, nên kháng cáo của ông M không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét Tòa cấp sơ thẩm giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy
nhiên tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn ông Đ chỉ yêu cầu phía bị đơn thanh toán số
tiền đúng theo nội dung 2 giấy vay nợ của ông Đ và bà H, không yêu cầu theo giấy
vay nợ ngày 29/10/2025 (2.814.384.000 đồng), số tiền ông Đ yêu cầu
2.750.000.000 đồng; sau khi đã trừ số tiền lãi vượt quá quy định vào gốc, số tiền bị
đơn còn nợ lại là 2.739.170.000 đồng, nên cần sửa bản án sơ thẩm về số tiền này
theo yêu cầu của nguyên đơn như nhận định tại mục [2];
[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Án phí:
8
Án phí dân sự sơ thẩm: bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị
Kiều O và anh Đặng Quốc A phải chịu 72.000.000 đồng + 14.798.960 đồng (2%
số tiền vượt quá 2 tỷ) = 86.798.960 đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của Bà Quý, ông M, chị O
và anh Quốc A được chấp nhận một phần nên các đương sự không phải chịu; hoàn
lại số tiền tạm ứng án phí cho các đương sự.
Ông Mão trên 60 tuổi và có đơn nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm
theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ
phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị Q, Nguyễn Thị Kiều O và
anh Đặng Quốc A; không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M. Sửa một
phần Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2026/DS – ST ngày 02/6/2026 của Tòa án nhân
dân Khu vực 8 – Đồng Nai; Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Phan Văn
Đ;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phan Văn Đ đối với bà Trần Thị Q,
ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kiều O và anh Đặng Quốc A về việc “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, chị Nguyễn Thị Kiều O và anh
Đặng Quốc A có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Phan Văn Đ số tiền là
2.968.036.784 đồng (Hai tỷ chín trăm sáu mươi tám triệu không trăm ba mươi sáu
nghìn bảy trăm tám mươi bốn đồng); trong đó 2.739.170.000 đồng tiền gốc và
228.866.784 đồng tiền lãi.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm
2.1. Bà Trần Thị Q, ông Nguyễn Văn M, Nguyễn Thị Kiều O và anh Đặng
Quốc A phải liên đới chịu 86.798.960 đồng (Tám mươi sáu triệu bảy trăm chín
mươi tám nghìn chín trăm sáu mươi đồng).
2.2. Bà Quý, bà O và anh Đặng Quốc A không phải chịu án phí phúc thẩm;
trả lại cho Bà Trần Thị Q, Nguyễn Thị Kiều O và anh Đặng Quốc A mỗi người
300.000 đồng tiền dự phí kháng cáo các đương sự đã nộp theo Biên lai thu số
0000062, 0000063, 0000064 cùng ngày 01/7/2025 của Thi hành án dân sự thành
phố Đồng Nai.
Ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm
nên không phải chịu.
2.3. Bị đơn ông Đ không phải chịu án phí. Trả lại ông Phan Văn Đ số tiền
44.409.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu bốn trăm lẻ chín nghìn đồng) tiền tạm ứng
án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0012439, ngày 25/12/2025 của Thi hành án dân
sự tỉnh Đồng Nai (nay là thành phố Đồng Nai).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
người phải thi hành án chưa thi hành thì còn phải chịu khoản lãi suất tương ứng
9
với khoản tiền và thời gian chưa thi hành án xong theo quy định tại Điều 468 Bộ
luật dân sự năm 2015.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Đồng Nai;
- TAND KV.8 - Đồng Nai;
- P. THADS KV. 8 – Đồng Nai;
- Các đương sự
- Lưu hồ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn An
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 673/2026/DS-PT Bản án số 673/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 673/2026/DS-PT Bản án số 673/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất