Bản án số 113/2018/DS-PT ngày 14/08/2018 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 113/2018/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 113/2018/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 113/2018/DS-PT ngày 14/08/2018 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
| Số hiệu: | 113/2018/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 14/08/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 113/2018/DS-PT
Ngày: 14/8/2018
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản nhà
gắn liền với quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
-
– Ông Lê Phước Thanh
Ông Đặng Kim Nhân
Ông Mai Xuân Thành
- Bà Hoàng Hải An -
- Ông Nguyễn
Thế Vinh -
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 96/2018/TLPT-DS
ngày 16/01/2018 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản nhà gắn liền với quyền sử
dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96c/2017/QĐ-PT ngày 26/7/2018
giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trịnh Bá L, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ dân phố P, thị
trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Đường T, thành phố Q, tỉnh Quảng
Ngãi; Có mặt.
* Bị đơn:
Bà Đỗ Thị Tuyết N, sinh năm 1938; Vắng mặt.
Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1968; Có mặt.
cùng địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Thị Tuyết N là ông Trịnh Văn H (theo
văn bản ủy quyền ngày 18/8/2017).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trịnh Thế H1; Có đơn xin xét xử vắng mặt. (Đại diện theo ủy
quyền của ông H1 là ông Trịnh Duy H2)
2. Ông Trịnh Duy H3; Có mặt.
3. Ông Trịnh Duy H4, bà Phan Thị Thanh U, cháu Trịnh Phúc T, cháu
Trịnh Vĩ T, bà Trịnh Thị Chi N, cháu Đoàn Thị Nhật Đ, Vắng mặt (Đại diện
theo ủy quyền là ông Trịnh Văn H).
Bà Trịnh Thị Lệ H5, bà Lê Thị Hồng P. Vắng mặt (Đại diện theo ủy quyền
của bà H5, bà P là ông Trịnh Duy H2).
Cùng địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Bà Trịnh Thị Kiều O; địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn
xin xét xử vắng mặt.
3. Bà Trịnh Thị L; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt. (Đại diện
theo ủy quyền của bà L là ông Trịnh Văn H)
4. Ông Trịnh Duy H2; địa chỉ: thành phố Q. Có mặt.
5. Ông Trịnh Quang H6; địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn
xin xét xử vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền của ông H6 là ông Trịnh Duy H2).
6. Bà Trần Thị Bích N; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
7. Bà Trịnh Thị Thanh T; địa chỉ: tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt. (Đại diện
theo ủy quyền của bà T là bà Trịnh Thị Thanh N).
8. Bà Trịnh Thị Thanh N; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh
Quảng Ngãi. Có mặt.
9. Ông Trịnh Không T; địa chỉ: Khu phố 1, tổ dân phố P, thị trấn C, huyện
N, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
10. Ông Trịnh Bá N, Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Duy
P, văn bản ủy quyền ngày 18/01/2018); Ông P có mặt.
Ông Trịnh M; Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Hoàng H,
văn bản ủy quyền ngày 18/01/2018); Ông H vắng mặt.
Cùng địa chỉ: tỉnh Bình Thuận.
11. Bà Trịnh Thị Thu H, bà Trịnh Thị Thu H7; cùng địa chỉ: thành phố Hồ
Chí Minh.Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền của bà H, bà H7 là ông Trịnh Bá
L)
12. Bà Trịnh Thị Thu T1, bà Trịnh Thị Thu N, ông Trịnh Bá M, bà Trịnh
Thị Thu N; cùng địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Đại diện theo ủy
quyền là ông Trịnh Bá L).
13. Ông Trịnh Bá A; Cải tạo tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội P; địa
chỉ: tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
14. Bà Trịnh Thị Thu T3; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Đại

diện theo ủy quyền là ông Trịnh Bá L)
15. Bà Trịnh Thị Thu H8; địa chỉ: Số nhà 8547 Moring Grove. Converse,
Texas 78109, Hoa Kỳ. Vắng mặt (Đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Bá L)
16. Bà Khưu Thị Cẩm T; địa chỉ: 530 S Radio Dr San Diego CA 92114,
California, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn ông Trịnh Bá L
trình bày:
Ông nội ông là cụ Trịnh K (chết năm 1974) có hai vợ là cụ Trương Thị Đ
(chết năm 1997) và cụ Phan Thị L (chết thời kỳ pháp thuộc).
Cụ K và cụ Trương Thị Đ có 5 người con là Trịnh Thị Thanh T, Trịnh Thị
Thanh N, Trịnh Bá N, Trịnh M và Trịnh Không T.
Cụ K và cụ Phan Thị L có 4 người con là Trịnh Bá C (chết năm 1987),
Trịnh Thị T (chết năm 2010), Trịnh Thị H(chết năm 2007) và Trịnh Bá Đ (chết
năm 2009).
Ông Trịnh Bá C có vợ Huỳnh Thị T (chết năm 2005) có 10 người con là
Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị Thu H7, Trịnh Bá L, Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Thị
Thu T3, Trịnh Thị Thu N, Trịnh Bá A, Trịnh Bá M, Trịnh Thị Thu N và Trịnh
Thị Thu H8 (hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ).
Bà Trịnh Thị T có chồng Trần Hữu T (chết năm 1998) có 01 con là Trần
Thị Bích N.
Bà Trịnh Thị H (chết năm 2007) có chồng Khưu Thành T (chết năm 1998)
có 01 con là Khưu Thị Cẩm T (hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ).
Ông Trịnh Bá Đ có hai vợ là bà Lê Thị Hồng P và bà Đỗ Thị Tuyết N.
Giữa Ông Đ và bà P có 04 người con là Trịnh Thế H1, Trịnh Thị Lệ H5, Trịnh
Duy H2 và Trịnh Quang H6. Giữa Ông Đ và bà Nhung có 6 người con là Trịnh
Văn H, Trịnh Duy H4, Trịnh Duy H3, Trịnh Thị Chi N, Trịnh Thị L (Ly Na) và
Trịnh Thị Kiều O.
Nguồn gốc đất tranh chấp thửa đất số hiệu 367 diện tích 9 sào 4, tương
đương 4.680 m
2
tại thôn P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi do ông nội của
ông là cụ Trịnh K đứng tên trong trích lục địa bộ.
Sau khi cụ Trịnh K qua đời vào ngày 26/12/1974 thì bà nội ông là cụ
Trương Thị Đ cùng các con của cụ Đ đã thống nhất giao cho con trai trưởng là
ông Trịnh Bá C chủ quyền quản lý sử dụng nhà ở gắn liền với đất số hiệu 367.
Thể hiện tại giấy chứng chỉ thừa kế được xã Nghĩa Chánh, quận N được chế độ

cũ xác nhận ngày 21/01/1975 cho ông Trịnh Bá C. Khi mãn tang ông nội Trịnh
K, bà nội ông Trương Thị Đ cùng hai con là bà Trịnh Thị Thanh N và ông Trịnh
Không T ra ở phần đất riêng gần đất vườn nhà của ông C (có giấy xác nhận 07
người em ruột của cha ông Trịnh Bá C).
Năm 1975 vì bận buôn bán tại thị xã Q nên ông Trịnh Bá C đã giao cho
Trịnh Duy H2 là con trai trưởng của ông Trịnh Bá Đ tạm giữ đất vườn nhà,
nhưng ông C vẫn thường xuyên về đất vườn nhà trông coi quản lý.
Năm 1976 ông Trịnh Bá C chủ quyền đất vườn nhà nêu trên đứng tên viết
giấy thỏa thuận nhượng đất cho Công ty Vật tư huyện N, tỉnh Nghĩa Bình mượn
02 lần vào ngày 30/3/1976 và ngày 25/11/1976 tổng diện tích 765,84 m2 đất
thuộc số hiệu 367 để làm kho xăng dầu.
Đầu năm 1977 Ông Trịnh Bá Đ sống cùng bà vợ hai là bà Đỗ Thị Tuyết N
có nhà ở gần bệnh viện cũ đường H thị xã Q. Ông Đ tới nhà cha ông ở tại số nhà
48 đường L thị xã Q, Ông Đ xin ông C về ở cùng con trai Trịnh Duy H2 tại đất
vườn nhà của ông C.
Ông C có viết giấy nội dung như sau: “Cho ông Trịnh Bá Đ về ở tạm, coi
quản lý đất vườn nhà của cha tôi ông C có giấy xác nhận của Trịnh Duy H2 con
trai trưởng Ông Đ”. Thời điểm đó ông C vẫn là người có trách nhiệm tu sửa nhà
cửa và giỗ chạp ông bà, có giấy xác nhận bà con nội ngoại tộc họ Trịnh.
Năm 1987, ông Trịnh Bá C chết. Năm 1988 vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn
mẹ ông lả bà Huỳnh Thị T bán nhà ở thị xã Q đưa cho Ông Đ 07 chỉ vàng để
Ông Đ làm nhà ở trong đất vườn chỗ khác và khi nào ông Trịnh Bá L về ở thì
Ông Đ giao lại đất vườn nhà cho ông. Nhưng Ông Đ không thực hiện lời cam kết
với mẹ ông là bà Huỳnh Thị T mà Ông Đ cố chiếm đất vườn nhà của ông C.
Năm 1991, Ông Trịnh Bá Đ biết Nhà nước trả lại đất mà năm 1976 cha
ông cho Công ty Vật tư mượn nên Ông Đ đến gặp mẹ ông là bà Huỳnh Thị T
tạm trú tại số nhà 105 đường T, phường N, tỉnh Quảng Ngãi, Ông Đ bảo mẹ ông
đưa toàn bộ giấy tờ đất đai có liên quan việc Nhà nước mượn đất của cha ông để
Ông Đ làm đơn đứng tên ông là Trịnh Bá L yên cầu Nhà nước trả lại đất (Đất
cho Công ty vật tư Nghĩa Bình mượn).
Năm 1993, đến ngày giỗ chạp của ông bà, ông về nhà đất vườn của ông C
mà Ông Đ đang tạm quản lý có sự chứng kiến của chú ruột, cô ruột và bà con tộc
họ Trịnh Ông Đ tuyên bố giao cho ông về ở nhà hướng Tây Ông Đ ở hướng Bắc.
Thời gian ngắn sau ông dẫn vợ con về ở thì Ông Đ đóng cửa nhà và lẩn
tránh để vợ con Ông Đ xua đuổi ông, kế từ đó ông phát hiện Ông Đ muốn chiếm
đoạt tài sản đất vườn nhà của ông C thửa số hiệu 367 (nay là thửa số mới 177 và

178 tờ bản đồ số 22, thôn P, Thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi).
Năm 1994 ông làm đơn gửi đến các cơ quan nhà nước thẩm quyền yêu cầu
không trả đất cho Ông Đ mà trả lại cho ông và Ủy ban nhân dân huyện N đã có
Quyết định số 84 ngày 08/12/2010 quyết định trả lại đất Nhà nước mượn ông
Trịnh Bá C cho ông.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Buộc bà Đỗ Thị Tuyết N, ông Trịnh Văn H và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan con của Ông Trịnh Bá Đ trả lại nhà gắn liền với thửa đất số
177 diện tích 3.643,1 m2 (đo đạc thực tế 3.328,4), tờ bản đồ số 22 thị trấn C,
huyện N cho ông quản lý, sử dụng theo pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án ông Trịnh Bá L chỉ yêu cầu bà Đỗ Thị Tuyết N,
ông Trịnh Văn H trả lại nhà gắn liền với thửa đất số 177 diện tích 3.643,1m2 (đo
đạc thực tế 3.328,4), tờ bản đồ số 22 thị trấn C, huyện N cho ông quản lý, sử
dụng theo pháp luật.
Trên thửa đất tranh chấp hiện nay ông Trịnh Duy H3 (con Ông Đ) đã xây
một ngôi nhà cấp 4, yêu cầu ông Trịnh Duy H3 dỡ bỏ ngôi nhà trên diện tích đất
tranh chấp để trả lại đất cho ông.
Bị đơn ông Trịnh Văn H đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn bà Đỗ Thị Tuyết N trình bày:
Về quan hệ huyết thống và nguồn gốc thửa đất thì ông thống nhất như Ông
L trình bày. Sau khi ông nội ông là cụ Trịnh K chết thì những người con của ông
nội ông đã họp bàn chia đất của ông nội để lại, việc chia này không có giấy tờ,
nội dung chia như sau: Chia cho bà vợ hai của ông nội là cụ Trương Thị Đ và
các con phần đất phía bên hông thửa đất 177, là phần đất hiện nay bà Trịnh Thị
Thanh N, ông Trịnh Không T đang ở và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; còn phần đất hiện nay là thửa đất số 177, 178 là của ông Trịnh Bá C và
Trịnh Bá Đ. Bà Trịnh Thị T và Trịnh Thị H là con gái không có phần. Nhưng,
bác ông là Trịnh Bá C (cha ông Trịnh Bá L) thời điểm đó có điều kiện, giàu có
nên giao hết cho cha ông Trịnh Bá Đ quản lý, sử dụng mà không giao cho các
con của bác, việc giao này có giấy tờ. Do đó, cha ông là Trịnh Bá Đ quản lý, sử
dụng thửa đất 177 và thửa đất 178 từ năm 1975. Sau khi Ông Đ chết thì mẹ ông
quản lý.
Đối với thửa đất 177 đến năm 1993, ông Trịnh Bá Đ đã kê khai đăng ký
quyền sử dụng đất và có tên trong sổ 5b, thửa đất này cha mẹ ông là ông Trịnh
Bá Đ và bà Đỗ Thị Tuyết N quản lý, sử dụng từ năm 1975. Trên thửa đất 177
hiện nay có mẹ ông bà Đỗ Thị Tuyết N, ông Trịnh Văn H, Trịnh Thị Chi N và

Trịnh Duy H3 làm nhà trên một phần thửa đất 177 và một phần trên thửa đất
178. Ngôi nhà trên thửa đất 177, trước đây là nhà tranh vách đất nhưng phía trên
làm là gỗ, mái tranh do ông nội ông làm, sau khi cha ông và mẹ ông là ông Trịnh
Bá Đ và bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung quản lý, sử dụng một thời gian bị hư nên
cha mẹ ông đã sửa chữa lại mái ngói, vách xây gạch.
Đối với thửa đất 178 cha ông là Trịnh Bá Đ đứng ra cho Trung tâm
Thương mại chất đốt huyện N mượn để mở bán dầu và nơi sinh hoạt của công
nhân viên, nhưng trong giấy cho mượn thì có thêm chữ ký của bác ông là Trịnh
Bá C. Năm 2008, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi ký quyết định trả
thửa đất 178 cho hộ gia đình và cá nhân với nội dung trả cho đồng thừa kế ông
Trịnh Bá C và ông Trịnh Bá Đ và sau đó ông Phan B, chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện N ký quyết định 84 với nội dung trả một phần diện tích thửa đất số 178
cho ông Trịnh Bá L nên gia đình ông đã khiếu nại đối với quyết định 84, sau đó
Chủ tịch huyện N đã hủy quyết định 84. Khi chưa hủy quyết định 84 thì một
phần thửa đất 178 giao cho ông Trịnh Bá L trúng vào dự án mở đường nên Nhà
nước đã giao tiền đền bù cho ông Trịnh Bá L.
Nay, Ông Trịnh Bá L là con của ông Trịnh Bá C khởi kiện yêu cầu đòi lại
nhà và toàn bộ thửa đất 177 cho Ông L quản lý, sử dụng ông không thống nhất vì
nhà và thửa đất này gia đình ông đã quản lý, sử dụng ổn định hơn 30 năm và cha
ông đã kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất. Yêu cầu Tòa án không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Bá L
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Bá M,
Trịnh Thị Thu N, Trịnh Thị Thu N, Trịnh Thị Thu T3, Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị
Thu H8, Trịnh Bá A, Trịnh Thị Thu H8 trình bày: Đồng ý với yêu cầu của ông
Trịnh Bá L, giao cho Ông L trọn quyền quyết định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn ông Trịnh
Duy H3, Trịnh Thị Chi N, Trịnh Duy H4, Trịnh Thị Kiều O trình bày: Thống nhất
như trình bày của bị đơn Trịnh Văn H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Duy H2, Trinh Quang Hạ,
Trịnh Thế H1, Trịnh Thị Lệ H5, Lê Thị Hồng P trình bày: Không thống nhất với
yêu cầu của nguyên đơn ông Trịnh Bá L, vì ông Trịnh Bá Đ đã đăng ký kê khai
theo Chỉ thị 299/TTg và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước đối với thửa
đất tranh chấp được 40 năm
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Bá N, Trịnh Không T, Trịnh
Thị Thu Nha, Trịnh Thị Thanh T, Trịnh M trình bày: Ông L khởi kiện yêu cầu
đòi lại thửa đất tranh chấp số 177 để Ông L quản lý, chúng tôi không đồng ý vì

thửa đất tranh chấp là của ông Trịnh K, đất này là đất để làm nhà thờ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Trần Thị Bích N trình bày: Yêu
cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Khưu Thị Cẩm T: Tòa án đã
tiến hành ủy thác tư pháp nhưng không có kết quả, triệu tập con của bà Tú là anh
Phạm Thanh Dũng để thu thập thông tin của bà Tú nhưng anh Dũng không đến
buổi làm việc. Nên Tòa án không có lời khai của bà Tú.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Thanh U: Tòa án đã
triệu tập chị đến các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng không đến
nên không có lời trình bày của chị Uyên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2017
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157,
165 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm
2009 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận nội dung khởi kiện của Ông Trịnh Bá L về việc yêu
cầu bà Đỗ Thị Tuyết N và ông Trịnh Văn H trả lại thửa đất số 177, tờ bản đồ số
22 diện tích theo trích lục bản đồ năm 2.000 là 3.643,1m
2
, diện tích theo đo đạc
thực tế khi giải quyết tranh chấp là 3.328,4m
2
và đòi ngôi nhà của cụ Trịnh K
nằm trên thửa đất 177 tại thị trấn C huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Không chấp nhận
nội dung khởi kiện của ông Trịnh Bá L yêu cầu ông Trịnh Duy H3 tháo dỡ ngôi
nhà của vợ chồng ông Hy phần nằm trên thửa đất 177.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trịnh Văn H và những người có quyền
lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Không T, ông Trịnh Duy H2, ông Trịnh
Quang H6, ông Trịnh Duy H3 giao 1.200m
2
đất nằm trong thửa đất số 177 tờ bản
đồ số 22, diện tích theo đo đạc thực tế khi giải quyết tranh chấp là 3.328,4m
2
tại
thị trấn C huyện N, tỉnh Quảng Ngãi cho ông Trịnh Bá L đại diện cho các con
của cụ Trịnh Bá C (có sơ đồ kèm theo bản án).
3. Buộc ông Trịnh Bá L phải trả tiền cây các loại có trên đất được nhận số
tiền là 20.000.000đ cho bà Đỗ Thị Tuyết N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí sơ
thẩm quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 05 tháng 10 năm 2017 và ngày 10/10/2017, những người có quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Lê Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh

Duy H2, ông Trịnh Quang H6 và ông Trịnh Thế H1 kháng cáo bản án sơ thẩm,
với lý do: Diện tích đất 3.328,4m
2
, thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp
là diện tích đất của cha mẹ chồng là ông Trịnh K và bà Phạm Thị L để lại cho vợ
chồng ông Trịnh Bá Đ, vợ chồng Ông Đ quản lý sử dụng ổn định liên tục và
đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/TTG ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính
phủ, có tên trong sổ địa chính, sổ đăng ký ruộng đất. Năm 2009 Ông Đ chết
không để lại di chúc và chưa có yêu cầu chia thừa kế, chưa xác định kỷ phần
thừa kế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của một số người có
quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để giao diện tích đất 1.200m
2
nằm trong thửa
đất số 177, tờ bản đồ số 22 là di sản của Ông Đ cho ông Trịnh Bá L là trái pháp
luật, trái đạo đức xã hội và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi.
- Ngày 10 tháng 11 năm 2017, nguyên đơn ông Trịnh Bá L kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, với lý do:
Diện tích đất 3.328,4m
2
, thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp là
diện tích đất của ông nội là Trịnh K và bà nội Trương Thị Đ giao cho cha ông là
Trịnh Bá C quản lý sử dụng và chủ quyền sở hữu, có sự đồng thuận của Hội
đồng gia tộc họ Trịnh. Ông Trịnh Bá Đ chỉ là người ở nhờ, trông coi hộ diện tích
đất tranh chấp này và chiếm dụng luôn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bác yêu
cầu khởi kiện của ông là không đúng và không bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho ông.
- Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn Trịnh Bá L không rút đơn khởi
kiện và thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm dành lại 500
m
2
thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp để làm nhà thờ; diện tích đất
còn lại công nhận quyền sử dụng của ông và Ông Đ, mỗi người một nửa.
Những người kháng cáo còn lại không rút, thay đổi hoặc bổ sung kháng
cáo.
không chấp nhậ của ông Trịnh Bá L và chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bà Lê Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy H2,
ông Trịnh Quang H6 và ông Trịnh Thế H1; Hủy bản án sơ thẩm.
ị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc nhà và đất có diện tích đo đạc thực tế là
3.328,4m
2
tại thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp là của cụ Trịnh K. Cụ
Trịnh K (chết năm 1974) có hai vợ là cụ Trương Thị Đ (chết năm 1997) và cụ
Phan Thị L (chết thời kỳ pháp thuộc).
- Cụ K và cụ Trương Thị Đ có 5 người con là Trịnh Thị Thanh T, Trịnh
Thị Thanh N, Trịnh Bá N, Trịnh M và Trịnh Không T.
- Cụ K và cụ Phan Thị L có 4 người con là Trịnh Bá C (chết năm 1987),
Trịnh Thị T (chết năm 2010), Trịnh Thị H (chết năm 2007) và Trịnh Bá Đ (chết
năm 2009).
+ Ông Trịnh Bá C có 10 người con là Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị Thu H7,
Trịnh Bá L (nguyên đơn trong vụ án), Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Thị Thu T3,
Trịnh Thị Thu N, Trịnh Bá A, Trịnh Bá M, Trịnh Thị Thu N và Trịnh Thị Thu
H8.
+ Bà Trịnh Thị T có 01 con là Trần Thị Bích N.
+ Bà Trịnh Thị Hằng có 01 con là Khưu Thị Cẩm T.
+ Ông Trịnh Bá Đ có hai vợ là bà Lê Thị Hồng P và bà Đỗ Thị Tuyết N
(bị đơn trong vụ án). Giữa Ông Đ và bà P có 04 người con là Trịnh Thế H1,
Trịnh Thị Lệ H5, Trịnh Duy H2 và Trịnh Quang H6. Giữa Ông Đ và bà Nhung
có 6 người con là Trịnh Văn H (bị đơn trong vụ án), Trịnh Duy H4, Trịnh Duy
H3, Trịnh Thị Chi N, Trịnh Thị L (Ly Na) và Trịnh Thị Kiều O.
Sự thừa nhận của các đương sự trong vụ án nêu trên phù hợp với các tài
liệu có tại hồ sơ vụ án như: Trích lục Đại nam Trung kỳ Chánh phủ của Sở địa
chính tỉnh Quảng Ngãi chế độ cũ cấp cho cụ Trịnh K; chứng chỉ thừa kế ngày
23/01/1975; xác nhận của UBND thị trấn C ngày 22/7/2013 và 22/5/2014; Quyết
định số 1237/QĐ-UBND ngày 23/7/2008 của UBND tỉnh Quảng Ngãi. Cho nên,
có đủ căn cứ xác định nguồn gốc nhà và đất có diện tích đo đạc thực tế là
3.328,4m
2
tại thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp là của cụ Trịnh K.
[2] Xét kháng cáo của ông Trịnh Bá L:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện cho rằng: Nguồn gốc thửa đất số 177, tờ bản
đồ số 22, diện tích 3.328,4m
2
tại thôn P, Thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi là
của cụ Trịnh K. Sau khi cụ Trịnh K qua đời vào ngày 26/12/1974 thì cha ông là
ông Trịnh Bá C được quyền sở hữu và quản lý sử dụng nhà, đất này theo giấy
chứng chỉ thừa kế đuợc xã Nghĩa Chánh, quận N chế độ cũ xác nhận ngày
21/01/1975 và sự thống nhất bà nội ông Trương Thị Đệ cùng hai con là bà Trịnh

Thị Thanh N và ông Trịnh Không T và giấy xác nhận của những người em ruột
của cha ông Trịnh Bá C.
Lời khai của nguyên đơn Trịnh Bá L nêu trên phù hợp với các Giấy xác
nhận quyền thừa kế của Hội đồng gia tộc họ Trịnh ngày 01/12/1997 (được
UBND thị trấn C chứng thực ngày 03/12/1997) và ngày 05/4/2006 (được UBND
thị trấn C chứng thực ngày 22/11/2006); Giấy xác nhận quyền thừa kế của Hội
đồng gia tộc họ Trịnh ngày 05/4/2006 và ngày 01/12/1997 thể hiện ông C là
người thừa kế được sở hữu, quản lý nhà đất tranh chấp và các giấy này có xác
nhận của bà Trịnh Thị T, Trịnh Thị Hằng, bà Lê Thị Hồng P, ông Trịnh Duy H2,
ông Trịnh Thanh N, ông Trịnh Thế H1, ông Trịnh Không T và một số người họ
Trịnh khác. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không lấy lời khai, tiến hành đối chất
(nếu có mâu thuẫn) của những người có tên trong Giấy xác nhận quyền thừa kế
của Hội đồng gia tộc họ Trịnh ngày 01/12/1997 và ngày 05/4/2006 để xác định
việc xác nhận của họ có đúng như nội dung trong các Giấy xác nhận quyền thừa
kế nêu trên hay không?
Bên cạnh đó, tại bản tường trình ngày 25/9/2006, giấy xác nhận ngày
17/8/2007; ngày 09/4/2010 và đơn kiến nghị ngày 27/8/2007 của ông Trịnh Duy
H2 thể hiện nội dung ông Trịnh Bá C là người thừa kế được quyền sở hữu nhà và
đất tranh chấp và ông Trịnh Bá Đ chỉ là người quản lý dùm nhà đất tranh chấp
cho ông Trịnh Bá C. Đồng thời, tại Giấy xác nhận của ông Trịnh Bá N ngày
02/3/2009, Trịnh M ngày 02/3/2009, ông Trịnh Không T ngày 18/3/2015, bà
Trịnh Thị Thanh N ngày 13/3/2015 đều thể hiện nội dung ông Trịnh Bá C được
vợ ông Khải và các con ông Khải thống nhất giao quyền sở hữu, quản lý toàn bộ
nhà và đất sau khi ông Khải chết: “Nguyên vào năm 1974 cha tôi ông Trịnh K
qua đời ...Mẹ và các con đồng thuận thống nhất kêu con trưởng nam là Trịnh Bá
C về cai quản, sở hữu, quản lý toàn bộ đất vườn nhà thờ...”.
Các nội dung trên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không tiến hành lấy lời khai
và làm rõ có sự đồng thuận giao cho ông C sở hữu nhà, đất tranh chấp không; sự
đồng thuận này vào thời gian nào và có những ai tham gia. Trong trường hợp, tất
cả những người được quyền hưởng thừa kế đều thống nhất giao cho ông C sở
hữu nhà, đất tranh chấp thì việc khởi kiện của Ông L là có căn cứ chấp nhận và
Tòa án sơ thẩm phải tiến hành thẩm định vị trí các nhà ở ...có trên đất tranh chấp
làm cơ sở giải quyết vụ án.
Mặt khác, Giấy chứng chỉ thừa kế đuợc xã Nghĩa Chánh, quận N chế độ
cũ xác nhận vào ngày 21/01/1975 là chứng cứ quan trọng để xác định ông C (ông
C là người được chỉ định trong giấy) là người được hưởng thừa kế hay không

được hưởng thừa kế toàn bộ nhà, đất tranh chấp. Tuy nhiên, giấy chứng chỉ thừa
kế có tại hồ sơ vụ án chỉ là bản sao không được công chứng chứng thực theo quy
định về chứng cứ tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, nội
dung trong giấy chứng chỉ thừa kế được thu thập có tại hồ sơ vụ án bị mờ, nhòe
và không thể xác định được nội dung nhưng Toà án cấp sơ thẩm không rõ căn
cứ vào cơ sở nào lại nhận định cho rằng đây không phải văn bản thừa kế của cụ
Trịnh K cho ông Trịnh Bá C. Bên cạnh đó, chứng chỉ thừa kế này được lập trên
cơ sở các căn cứ, đó là: Nội dung của biên bản cuộc họp hội đồng gia tộc:
“Chiếu biên bản họp Hội đồng gia tộc ngày 21/01/197.. Chứng nhận... ” và Các
tờ ủy quyền “và chiếu các tờ ủy quyền của...” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa
thu thập biên bản họp Hội đồng gia tộc và các tờ ủy quyền này để làm căn cứ xác
định rõ nội dung của Giấy chứng chỉ thừa kế ngày 21/01/1975 mà lại nhận định
ông Trịnh Bá C chỉ là người thụ ủy và đồng thừa kế của ông Trịnh K là toàn diện
và chưa chính xác.
Ngoài ra, hồ sơ vụ án còn có Giấy ủy quyền được lập ngày 30/02/1975 có
nội dung thể hiện di sản của cụ Trịnh K được ông C giao cho Ông Đ và di sản
này chưa được phân chia: “...Sau này đến ngày nào có trường hợp thuận tiện,
chúng tôi sẽ họp anh chị em trong gia đình phân chia tài sản...”. Trong quá trình
giải quyết vụ án, Ông L khai lại cho rằng Giấy ủy quyền lập ngày 30/02/1975 là
giấy giả mạo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn đương sự yêu cầu
giám định hoặc tiến hành giám định theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 97
và khoản 2 Điều 103 Điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để làm căn cứ xác
định di sản của Cụ K đã được giao cho ông C thừa kế hay vẫn còn là tài sản
chung chưa chia theo như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm: “Các thửa đất này
là tài sản chung của các con cụ Trịnh K chưa chia...”. Mặc dù, Giấy ủy quyền
được lập vào ngày 30/02/1975 là không đúng về thời gian nhưng không thể chỉ
căn cứ vào việc sai sót, nhầm lẫn về thời gian này để không chấp nhận nội dung
và không chấp nhận ý chí của các bên được ghi trong giấy như Tòa án cấp sơ
thẩm đã nhận định.
[2.2] Trong quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Trịnh Bá L
cho rằng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nhà đất tranh chấp sau khi
cha ông là Trịnh Bá C chết thì do mẹ ông là bà Huỳnh Thị T cất giữ và sau đó,
mẹ ông tin lời của Ông Đ và giao cho ông Trịnh Bá Đ (cha bị đơn Trịnh Văn H)
làm thủ tục yêu cầu Nhà nước trả đất. Cho nên ông không có tài liệu, chứng cứ
bản chính để giao nộp cho Tòa án.

Lời khai nêu trên của ông C phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Trung
Khánh (Nguyên Trạm trưởng cửa hàng vật liệu chất đốt huyện N) về việc mượn
đất của ông C và sự gian dối của Ông Đ về gia đình ông C để ông Khánh xác
nhận cho Ông Đ; phù hợp với việc ông Trịnh Văn H xuất trình một số tài liệu
chứng cứ bản chính tại Tòa án cấp sơ thẩm nhưng không chịu giao nộp theo yêu
cầu của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân
sự quy định việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho các yêu cầu của mình vừa
là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự. Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình cũng phải chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và
phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Nếu bên đương sự có nghĩa vụ đưa chứng
cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh
không đầy đủ. Hậu quả đó là, nếu họ là nguyên đơn sẽ bị bác yêu cầu, nếu là bị
đơn sẽ bị xử thua kiện.
Trong vụ án này, bị đơn Trịnh Văn H là người đang giữ các tài liệu, chứng
cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Bá L và cũng là bên phản đối
yêu cầu khởi kiện thì ông H phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự
phản đối đó là có căn cứ. Bị đơn ông Trịnh Văn H (và cũng là đại diện theo ủy
quyền của bị đơn Đỗ Thị Tuyết N) trình bày tại biên bản hòa giải tại UBND thị
trấn C ngày 23/10/2006 thể hiện nhà và đất tranh chấp cụ Trịnh K đã giao cho
ông Trịnh Bá C: “Đất ngày xưa của ông Nội đã giao khi mất truyền lại cho ông
bác là Trịnh Bá C ... bác Trịnh Bá C ...đã viết giấy giao lại cho ông Trịnh Bá Đ
toàn quyền sử dụng...” và tại Tòa án cấp sơ thẩm thì bị đơn Trịnh Văn H khai
nhà đất đang tranh chấp được cụ Trịnh K chia cho ông C và Ông Đ nhưng ông H
không có chứng cứ chứng minh cho các lời khai về việc ông C đã giao nhà đất
tranh chấp cho Ông Đ, về việc Cụ K giao nhà đất tranh chấp cho ông C, Ông Đ
và không xuất trình bản chính của các tài liệu chứng cứ đang cầm giữ (Giấy ủy
quyền được lập ngày 30/02/1975; chứng chỉ thừa kế; văn bản họp Hội đồng gia
tộc...) nên lời khai của ông H không có căn cứ để chấp nhận. Nguyên đơn, Trịnh
Bá L đã xuất trình đầy đủ các liệu chứng cứ (bản sao) chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện và đã xuất trình các văn bản xác nhận của ông Trịnh Bá N ngày
02/3/2009, Trịnh M ngày 02/3/2009, ông Trịnh Không T ngày 18/3/2015, bà
Trịnh Thị Thanh N ngày 13/3/2015 thể hiện nội dung ông Trịnh Bá C được vợ

ông Khải và các con ông Khải thống nhất giao quyền sở hữu, quản lý toàn bộ
nhà và đất sau khi ông Khải chết; Giấy xác nhận quyền thừa kế của Hội đồng gia
tộc họ Trịnh ngày 05/4/2006 và ngày 01/12/1997 thể hiện ông C là người thừa kế
được sở hữu, quản lý nhà đất tranh chấp và các giấy này có xác nhận của bà
Trịnh Thị T, Trịnh Thị H, bà Lê Thị Hồng P, ông Trịnh Duy H2, bà Trịnh Thanh
Nha, ông Trịnh Thế H1, ông Trịnh Không T...Do đó, trên cơ sở thu thập chứng
cứ và điều tra, xác minh của Tòa án nếu các xác nhận nêu trên là đúng sự thật, có
căn cứ thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Bá L là đúng, cần chấp nhận.
[2.3] Diện tích đất đang tranh chấp chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy CNQSD đất và Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác định chủ quyền nhưng lại
ghi nhận sự tự nguyện của ông H và ông T, ông H2, ông H6, ông H để giao cho
Ông L l.200m
2
đất mà không có sự đồng ý của các thừa kế khác còn lại trong vụ
án là không đúng pháp luật và đảm bảo quyền lợi của bà P, bà H5 và ông H1
theo như kháng cáo và không bảo đảm quyền lợi của các đồng thừa kế khác.
[3] Ngoài ra, tại phiên tòa Ông L và bà N còn có lời khai cho rằng bà
Trịnh Thị T còn có một người con gái tên là Trần Thị Bích T nhưng Tòa án cấp
sơ thẩm không đưa bà T vào tham gia tố tụng là thiếu sót.
[4] Với các sai sót nêu trên, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên
chấp nhận kháng cáo; huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp
sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Do kháng cáo được chấp nhận nên những người kháng cáo không phải
chịu án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh Bá L và chấp nhận kháng cáo của bà
Lê Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy H2, ông Trịnh Quang H6 và
ông Trịnh Thế H1.
1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản
nhà gắn liền với quyền sử dụng đất”; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Bá L sinh năm 1955; địa chỉ: Khu phố 01, tổ dân
phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Đường T, thành phố Q,
tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Bà Đỗ Thị Tuyết N sinh năm 1938, ông Trịnh Văn H sinh năm
1968; cùng địa chỉ: Khu phố 1, tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng

Ngãi.
2. Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm
lại theo theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trịnh Bá L, bà Lê Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy
H2, ông Trịnh Quang H6, ông Trịnh Thế H1 không phải chịu.
Ông L được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ
theo biên lai thu số 02211 ngày 24/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
Bà P được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ
theo biên lai thu số 02203 ngày 20/10/2017của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
Bà H5 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ
theo biên lai thu số 02208 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
Ông H2 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02207 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Ông H6 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02206 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Ông H1 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02205 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phước Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 18/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm