Bản án số 113/2018/DS-PT ngày 14/08/2018 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 113/2018/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 113/2018/DS-PT ngày 14/08/2018 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Đà Nẵng
Số hiệu: 113/2018/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/08/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 113/2018/DS-PT
Ngày: 14/8/2018
V/v: “Tranh chấp đòi lại tài sản nhà
gắn liền với quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
-
Ông Lê Phước Thanh
Ông Đặng Kim Nhân
Ông Mai Xuân Thành
- Hoàng Hải An -
- Ông Nguyễn
Thế Vinh -
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 96/2018/TLPT-DS
ngày 16/01/2018 về việc Tranh chấp đòi lại tài sản ngắn liền với quyền sử
dụng đất”. Do Bản án dân sự thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 96c/2017/QĐ-PT ngày 26/7/2018
giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Trịnh Bá L, sinh năm 1955; địa chỉ: tổ dân phố P, thị
trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Đường T, thành phố Q, tỉnh Quảng
Ngãi; Có mặt.
* Bị đơn:
Đỗ Thị Tuyết N, sinh năm 1938; Vắng mặt.
Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1968; Có mặt.
cùng địa chỉ: tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn Đỗ Thị Tuyết N ông Trịnh n H (theo
văn bản ủy quyền ngày 18/8/2017).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trịnh Thế H1; đơn xin xét xử vắng mặt. (Đại diện theo ủy
quyền của ông H1 là ông Trịnh Duy H2)
2. Ông Trịnh Duy H3; Có mặt.
3. Ông Trịnh Duy H4, Phan Thị Thanh U, cháu Trịnh Phúc T, cháu
Trịnh T, Trịnh Thị Chi N, cháu Đoàn Thị Nhật Đ, Vắng mặt (Đại diện
theo ủy quyền là ông Trịnh Văn H).
Trịnh Thị Lệ H5, bà Lê Thị Hồng P. Vắng mặt (Đại diện theo ủy quyền
của bà H5, bà P là ông Trịnh Duy H2).
Cùng địa chỉ: tổ dân phP, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
2. Trịnh Thị Kiều O; địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. đơn
xin xét xử vắng mặt.
3. Trịnh Thị L; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt. (Đại diện
theo ủy quyền của bà L là ông Trịnh Văn H)
4. Ông Trịnh Duy H2; địa chỉ: thành phố Q. Có mặt.
5. Ông Trịnh Quang H6; địa chỉ: thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. đơn
xin xét xử vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền của ông H6 là ông Trịnh Duy H2).
6. Bà Trần Thị Bích N; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
7. Trịnh Thị Thanh T; địa chỉ: tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt. (Đại diện
theo ủy quyền của bà T là bà Trịnh Thị Thanh N).
8. Trịnh Thị Thanh N; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh
Quảng Ngãi. Có mặt.
9. Ông Trịnh Không T; địa chỉ: Khu phố 1, tổ dân phố P, thị trấn C, huyện
N, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
10. Ông Trịnh Bá N, Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Duy
P, văn bản ủy quyền ngày 18/01/2018); Ông P có mặt.
Ông Trịnh M; Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền ông Trịnh Hoàng H,
văn bản ủy quyền ngày 18/01/2018); Ông H vắng mặt.
Cùng địa chỉ: tỉnh Bình Thuận.
11. Bà Trịnh Thị Thu H, bà Trịnh Thị Thu H7; cùng địa chỉ: thành phố Hồ
Chí Minh.Vắng mặt. (Đại diện theo ủy quyền của H, H7 ông Trịnh Bá
L)
12. Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Thị Thu N, ông Trịnh M, Trịnh
Thị Thu N; cùng địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Đại diện theo ủy
quyền là ông Trịnh Bá L).
13. Ông Trịnh Bá A; Cải tạo tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội P; địa
chỉ: tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
14. Bà Trịnh Thị Thu T3; địa chỉ: thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt (Đại
diện theo ủy quyền là ông Trịnh Bá L)
15. Trịnh Thị Thu H8; địa chỉ: Số nhà 8547 Moring Grove. Converse,
Texas 78109, Hoa Kỳ. Vắng mặt (Đại diện theo ủy quyền là ông Trịnh Bá L)
16. Khưu Thị Cẩm T; địa chỉ: 530 S Radio Dr San Diego CA 92114,
California, Hoa Kỳ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện tại phiên toà thẩm nguyên đơn ông Trịnh L
trình bày:
Ông nội ông cụ Trịnh K (chết năm 1974) có hai vcụ Trương Thị Đ
(chết năm 1997) và cụ Phan Thị L (chết thời kỳ pháp thuộc).
Cụ K cụ Trương Thị Đ 5 người con là Trịnh Thị Thanh T, Trịnh Th
Thanh N, Trịnh Bá N, Trịnh MTrịnh Không T.
Cụ K cụ Phan Thị L 4 người con Trịnh C (chết năm 1987),
Trịnh Thị T (chết năm 2010), Trịnh Thị H(chết năm 2007) Trịnh Đ (chết
năm 2009).
Ông Trịnh C vợ Huỳnh Thị T (chết năm 2005) 10 người con là
Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị Thu H7, Trịnh L, Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Thị
Thu T3, Trịnh Thị Thu N, Trịnh A, Trịnh M, Trịnh Thị Thu N và Trịnh
Thị Thu H8 (hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ).
Trịnh Thị T chồng Trần Hữu T (chết năm 1998) 01 con là Trần
Thị Bích N.
Trịnh Thị H (chết năm 2007) có chồng Khưu Thành T (chết năm 1998)
có 01 con là Khưu Thị Cẩm T (hiện nay đang định cư tại Hoa Kỳ).
Ông Trịnh Đ có hai vợ Thị Hồng P ĐThị Tuyết N.
Giữa Ông Đ và P 04 người con Trịnh Thế H1, Trịnh Thị Lệ H5, Trịnh
Duy H2 Trịnh Quang H6. Giữa Ông Đ Nhung 6 người con Trịnh
Văn H, Trịnh Duy H4, Trịnh Duy H3, Trịnh Thị Chi N, Trịnh Thị L (Ly Na)
Trịnh Thị Kiều O.
Nguồn gốc đất tranh chấp thửa đất số hiệu 367 diện tích 9 sào 4, tương
đương 4.680 m
2
tại thôn P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi do ông nội của
ông là cụ Trịnh K đứng tên trong trích lục địa bộ.
Sau khi cụ Trịnh K qua đời vào ngày 26/12/1974 t nội ông là cụ
Trương Thị Đ cùng các con của cụ Đ đã thống nhất giao cho con trai trưởng
ông Trịnh C chủ quyền quản sử dụng nhà gắn liền với đất số hiệu 367.
Thể hiện tại giấy chứng chỉ thừa kế được Nghĩa Chánh, quận N được chế độ
xác nhận ngày 21/01/1975 cho ông Trịnh C. Khi mãn tang ông nội Trịnh
K, bà nội ông Trương Thị Đ cùng hai con là bà Trịnh Thị Thanh N ông Trịnh
Không T ra phần đất riêng gần đất vườn nhà của ông C (giấy xác nhận 07
người em ruột của cha ông Trịnh Bá C).
Năm 1975 bận buôn bán tại thị Q nên ông Trịnh C đã giao cho
Trịnh Duy H2 là con trai trưởng của ông Trịnh Đ tạm giữ đất vườn nhà,
nhưng ông C vẫn thường xuyên về đất vườn nhà trông coi quản lý.
Năm 1976 ông Trịnh C chủ quyền đất vườn nhà nêu trên đứng tên viết
giấy thỏa thuận nhượng đất cho Công ty Vật huyện N, tỉnh Nghĩa Bình mượn
02 lần vào ngày 30/3/1976 ngày 25/11/1976 tổng diện tích 765,84 m2 đất
thuộc số hiệu 367 để làm kho xăng dầu.
Đầu năm 1977 Ông Trịnh Bá Đ sống cùng bà vợ hai là bà Đỗ Thị Tuyết N
nhà ở gần bệnh viện cũ đường H thị xã Q. Ông Đ tới nhà cha ông ở tại số nhà
48 đường L thị Q, Ông Đ xin ông C về cùng con trai Trịnh Duy H2 tại đất
vườn nhà của ông C.
Ông C viết giấy nội dung nsau: Cho ông Trịnh Đ về tạm, coi
quản lý đất vườn nhà của cha tôi ông C có giấy xác nhận của Trịnh Duy H2 con
trai trưởng Ông Đ”. Thời điểm đó ông C vẫn người có trách nhiệm tu sửa nhà
cửa và giỗ chạp ông bà, có giấy xác nhận bà con nội ngoại tộc họ Trịnh.
Năm 1987, ông Trịnh Bá C chết. Năm 1988 vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn
mẹ ông lả Huỳnh Thị T bán nhà thị Q đưa cho Ông Đ 07 chỉ vàng để
Ông Đ làm nhà trong đất vườn chỗ khác khi nào ông Trịnh L về thì
Ông Đ giao lại đất vườn nhà cho ông. Nhưng Ông Đ không thực hiện lời cam kết
với mẹ ông là bà Huỳnh Thị TÔng Đ cố chiếm đất vườn nhà của ông C.
Năm 1991, Ông Trịnh Đ biết Nhà nước trả lại đất mà năm 1976 cha
ông cho Công ty Vật tư mượn nên Ông Đ đến gặp mẹ ông bà Huỳnh Thị T
tạm trú tại số nhà 105 đường T, phường N, tỉnh Quảng Ngãi, Ông Đ bảo mẹ ông
đưa toàn bộ giấy tờ đất đai có liên quan việc Nhà nước mượn đất của cha ông đ
Ông Đ làm đơn đứng tên ông Trịnh L yên cầu Nhà nước trả lại đất (Đất
cho Công ty vật tư Nghĩa Bình mượn).
Năm 1993, đến ngày giỗ chạp của ông bà, ông về nhà đất vườn của ông C
Ông Đ đang tạm quản lý có sự chứng kiến của chú ruột, cô ruột và bà con tộc
họ Trịnh Ông Đ tuyên bố giao cho ông về ở nhà hướng Tây Ông Đ ở hướng Bắc.
Thời gian ngắn sau ông dẫn vcon về thì Ông Đ đóng cửa nhà lẩn
tránh để vợ con Ông Đ xua đuổi ông, kế từ đó ông phát hiện Ông Đ muốn chiếm
đoạt tài sản đất vườn nhà của ông C thửa số hiệu 367 (nay là thửa số mới 177 và
178 tờ bản đồ số 22, thôn P, Thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi).
Năm 1994 ông làm đơn gửi đến các cơ quan nhà nước thẩm quyền yêu cầu
không trả đất cho Ông Đ mà trả lại cho ông Ủy ban nhân dân huyện N đã
Quyết định số 84 ngày 08/12/2010 quyết định trả lại đất Nhà nước mượn ông
Trịnh Bá C cho ông.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Buộc Đỗ Thị Tuyết N, ông Trịnh Văn H và những người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan con của Ông Trịnh Đ trả lại nhà gắn liền với thửa đất số
177 diện tích 3.643,1 m2 (đo đạc thực tế 3.328,4), tờ bản đồ số 22 thị trấn C,
huyện N cho ông quản lý, sử dụng theo pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án ông Trịnh Bá L chỉ yêu cầu bà Đỗ Thị Tuyết N,
ông Trịnh Văn H trả lại nhà gắn liền với thửa đất số 177 diện tích 3.643,1m2 (đo
đạc thực tế 3.328,4), tờ bản đồ số 22 thị trấn C, huyện N cho ông quản lý, sử
dụng theo pháp luật.
Trên thửa đất tranh chấp hiện nay ông Trịnh Duy H3 (con Ông Đ) đã xây
một ngôi nhà cấp 4, yêu cầu ông Trịnh Duy H3 dbỏ ngôi nhà trên diện tích đất
tranh chấp để trả lại đất cho ông.
Bị đơn ông Trịnh Văn H đồng thời người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn bà Đỗ Thị Tuyết N trình bày:
Về quan hệ huyết thống và nguồn gốc thửa đất thì ông thống nhất như Ông
L trình bày. Sau khi ông nội ông là cụ Trịnh K chết thì những người con của ông
nội ông đã họp bàn chia đất của ông nội để lại, việc chia này không giấy tờ,
nội dung chia như sau: Chia cho vợ hai của ông nội cụ Trương Thị Đ
các con phần đất phía bên hông thửa đất 177, phần đất hiện nay Trịnh Thị
Thanh N, ông Trịnh Không T đang đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất; còn phần đất hiện nay là thửa đất số 177, 178 là của ông Trịnh Bá C
Trịnh Đ. Trịnh Thị T và Trịnh Thị H con gái không phần. Nhưng,
bác ông Trịnh C (cha ông Trịnh L) thời điểm đó điều kiện, giàu có
nên giao hết cho cha ông Trịnh Đ quản lý, sdụng không giao cho các
con của bác, việc giao này giấy tờ. Do đó, cha ông Trịnh Đ quản lý, sử
dụng thửa đất 177 thửa đất 178 từ năm 1975. Sau khi Ông Đ chết thì mẹ ông
quản lý.
Đối với thửa đất 177 đến năm 1993, ông Trịnh Đ đã khai đăng
quyền sử dụng đất và tên trong sổ 5b, thửa đất này cha mông ông Trịnh
Đ Đỗ Thị Tuyết N quản lý, sử dụng từ năm 1975. Trên thửa đất 177
hiện nay mẹ ông Đỗ Thị Tuyết N, ông Trịnh Văn H, Trịnh Thị Chi N
Trịnh Duy H3 làm nhà trên một phần thửa đất 177 một phần trên thửa đất
178. Ngôi nhà trên thửa đất 177, trước đây nhà tranh vách đất nhưng phía trên
làm gỗ, mái tranh do ông nội ông làm, sau khi cha ông và mẹ ông là ông Trịnh
Đ Nguyễn Thị Tuyết Nhung quản lý, sdụng một thời gian bị nên
cha mẹ ông đã sửa chữa lại mái ngói, vách xây gạch.
Đối với thửa đất 178 cha ông là Trịnh Đ đứng ra cho Trung tâm
Thương mại chất đốt huyện N mượn đmở bán dầu nơi sinh hoạt của công
nhân viên, nhưng trong giấy cho mượn tthêm chký của bác ông Trịnh
C. Năm 2008, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định trả
thửa đất 178 cho hộ gia đình nhân với nội dung trả cho đồng thừa kế ông
Trịnh C ông Trịnh Đ sau đó ông Phan B, chủ tịch y ban nhân dân
huyện N quyết định 84 với nội dung trả một phần diện tích thửa đất s178
cho ông Trịnh L nên gia đình ông đã khiếu nại đối với quyết định 84, sau đó
Chủ tịch huyện N đã hủy quyết định 84. Khi chưa hủy quyết định 84 thì một
phần thửa đất 178 giao cho ông Trịnh L trúng vào dự án mở đường nên Nhà
nước đã giao tiền đền bù cho ông Trịnh Bá L.
Nay, Ông Trịnh L là con của ông Trịnh C khởi kiện yêu cầu đòi lại
nhà và toàn bộ thửa đất 177 cho Ông L quản lý, sử dụng ông không thống nhất
nhà và thửa đất này gia đình ông đã quản lý, sử dụng ổn định hơn 30 năm và cha
ông đã khai, đăng quyền sử dụng đất. Yêu cầu Tòa án không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Bá L
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị Thu T1, Trịnh M,
Trịnh Thị Thu N, Trịnh Thị Thu N, Trịnh Thị Thu T3, Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị
Thu H8, Trịnh A, Trịnh Thị Thu H8 trình bày: Đồng ý với yêu cầu ca ông
Trịnh Bá L, giao cho Ông L trọn quyền quyết định.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn ông Trịnh
Duy H3, Trịnh Thị Chi N, Trịnh Duy H4, Trịnh Thị Kiều O trình bày: Thống nhất
như trình bày của bị đơn Trịnh Văn H.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Duy H2, Trinh Quang Hạ,
Trịnh Thế H1, Trịnh Thị Lệ H5, Thị Hồng P trình bày: Không thống nhất với
yêu cầu của nguyên đơn ông Trịnh L, ông Trịnh Đ đã đăng kê khai
theo Chỉ thị 299/TTg và thực hiện nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước đối với thửa
đất tranh chấp được 40 năm
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh N, Trịnh Không T, Trịnh
Thị Thu Nha, Trịnh Thị Thanh T, Trịnh M trình bày: Ông L khởi kiện yêu cầu
đòi lại thửa đất tranh chấp số 177 để Ông L quản lý, chúng tôi không đồng ý
thửa đất tranh chấp là của ông Trịnh K, đất này là đất để làm nhà thờ.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Trần Thị Bích N trình bày: Yêu
cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khưu Thị Cẩm T: Tòa án đã
tiến hành ủy thác tư pháp nhưng không có kết quả, triệu tập con của bà Tú là anh
Phạm Thanh Dũng để thu thập thông tin của nhưng anh Dũng không đến
buổi làm việc. Nên Tòa án không có lời khai của bà Tú.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Phan Thị Thanh U: Tòa án đã
triệu tập chị đến các buổi hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ nhưng không đến
nên không có lời trình bày của chị Uyên.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2017
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Áp dụng khoản 9 Điều 26, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157,
165 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm
2009 điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận nội dung khởi kiện của Ông Trịnh L về việc yêu
cầu Đỗ Thị Tuyết N ông Trịnh Văn H trả lại thửa đất số 177, tờ bản đồ số
22 diện tích theo trích lục bản đồ năm 2.000 3.643,1m
2
, diện tích theo đo đạc
thực tế khi giải quyết tranh chấp 3.328,4m
2
đòi ngôi nhà của cụ Trịnh K
nằm trên thửa đất 177 tại thị trấn C huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Không chấp nhận
nội dung khởi kiện của ông Trịnh L yêu cầu ông Trịnh Duy H3 tháo dỡ ngôi
nhà của vợ chồng ông Hy phần nằm trên thửa đất 177.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trịnh Văn H những người quyền
lợi nghĩa vụ liên quan ông Trịnh Không T, ông Trịnh Duy H2, ông Trịnh
Quang H6, ông Trịnh Duy H3 giao 1.200m
2
đất nằm trong thửa đất số 177 tờ bản
đồ số 22, diện tích theo đo đạc thực tế khi giải quyết tranh chấp 3.328,4m
2
tại
thị trấn C huyện N, tỉnh Quảng Ngãi cho ông Trịnh L đại diện cho các con
của cụ Trịnh Bá C (có sơ đồ kèm theo bản án).
3. Buộc ông Trịnh Bá L phải trả tiền cây các loại trên đất được nhận số
tiền là 20.000.000đ cho bà Đỗ Thị Tuyết N.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, về án phí
thẩm quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 05 tháng 10 năm 2017 ngày 10/10/2017, những người quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan gồm bà Thị Hồng P, Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh
Duy H2, ông Trịnh Quang H6 ông Trịnh Thế H1 kháng cáo bản án thẩm,
với lý do: Diện tích đất 3.328,4m
2
, thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp
là diện tích đất của cha mẹ chồng là ông Trịnh K và bà Phạm Thị L để lại cho vợ
chồng ông Trịnh Đ, vợ chồng Ông Đ quản sử dụng ổn định liên tục
đăng khai theo Chỉ thị 299/TTG ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính
phủ, tên trong sổ địa chính, sổ đăng ruộng đất. Năm 2009 Ông Đ chết
không để lại di chúc chưa yêu cầu chia thừa kế, chưa xác định kphần
thừa kế nhưng Tòa án cấp thẩm ghi nhận sự tự nguyện của một sngười
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đgiao diện tích đất 1.200m
2
nằm trong thửa
đất số 177, tờ bản đồ số 22 là di sản của Ông Đ cho ông Trịnh Bá Ltrái pháp
luật, trái đạo đức xã hội và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi.
- Ngày 10 tháng 11 năm 2017, nguyên đơn ông Trnh Bá L kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm, với lý do:
Diện tích đất 3.328,4m
2
, thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp
diện tích đất của ông nội là Trịnh K bà nội Trương Thị Đ giao cho cha ông là
Trịnh C quản sử dụng chủ quyền sở hữu, sự đồng thuận của Hội
đồng gia tộc họ Trịnh. Ông Trịnh Bá Đ chỉ là người ở nhờ, trông coi hộ diện tích
đất tranh chấp này và chiếm dụng luôn nhưng a án cấp sơ thẩm tuyên bác yêu
cầu khởi kiện của ông không đúng không bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho ông.
- Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn Trịnh L không rút đơn khởi
kiện thay đổi nội dung kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm dành lại 500
m
2
thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp đlàm nhà thờ; diện tích đất
còn lại công nhận quyền sử dụng của ôngÔng Đ, mỗi người một nửa.
Những người kháng cáo còn lại không rút, thay đổi hoặc bổ sung kháng
cáo.
không chp nh ca ông Trnh L chp nhn yêu
cu kháng cáo ca Thị Hồng P, Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy H2,
ông Trịnh Quang H6 và ông Trịnh Thế H1; Hủy bản án sơ thẩm.
án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn, bị đơn những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc nhà và đất diện tích đo đạc thực tế
3.328,4m
2
tại thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp là của cụ Trịnh K. Cụ
Trịnh K (chết năm 1974) hai vợ cụ Trương Thị Đ (chết năm 1997) và cụ
Phan Thị L (chết thời kỳ pháp thuộc).
- Cụ K cụ Trương Thị Đ 5 người con Trịnh Thị Thanh T, Trịnh
Thị Thanh N, Trịnh Bá N, Trịnh MTrịnh Không T.
- Cụ K cụ Phan Thị L 4 người con là Trịnh C (chết năm 1987),
Trịnh Thị T (chết năm 2010), Trịnh Thị H (chết năm 2007) Trịnh Đ (chết
năm 2009).
+ Ông Trịnh Bá C có 10 người con là Trịnh Thị Thu H, Trịnh Thị Thu H7,
Trịnh L (nguyên đơn trong vụ án), Trịnh Thị Thu T1, Trịnh Thị Thu T3,
Trịnh Thị Thu N, Trịnh A, Trịnh M, Trịnh Thị Thu N Trịnh Thị Thu
H8.
+ Bà Trịnh Thị T01 con là Trần Thị Bích N.
+ Bà Trịnh Thị Hằng có 01 con là Khưu Thị Cẩm T.
+ Ông Trịnh Đ hai vợ Thị Hồng P Đỗ Thị Tuyết N
(bị đơn trong vụ án). Giữa Ông Đ P 04 người con Trịnh Thế H1,
Trịnh Thị Lệ H5, Trịnh Duy H2 Trịnh Quang H6. Giữa Ông Đ Nhung
6 người con Trịnh Văn H (bị đơn trong vụ án), Trnh Duy H4, Trnh Duy
H3, Trnh Th Chi N, Trnh Th L (Ly Na) và Trnh Th Kiu O.
S tha nhn của các đương sự trong v án nêu trên phù hp vi các tài
liu ti h vụ án như: Trích lục Đại nam Trung kỳ Chánh phủ của Sở địa
chính tỉnh Quảng Ngãi chế độ cấp cho cụ Trịnh K; chứng chỉ thừa kế ngày
23/01/1975; xác nhận của UBND thị trấn C ngày 22/7/2013 và 22/5/2014; Quyết
định số 1237/QĐ-UBND ngày 23/7/2008 của UBND tỉnh Quảng Ngãi. Cho nên,
đủ căn cứ xác định nguồn gốc nhà đất diện tích đo đạc thực tế
3.328,4m
2
tại thửa số 177, tờ bản đồ số 22 đang tranh chấp là của cụ Trịnh K.
[2] Xét kháng cáo của ông Trịnh Bá L:
[2.1] Nguyên đơn khởi kiện cho rằng: Nguồn gốc thửa đất số 177, tờ bản
đồ số 22, diện tích 3.328,4m
2
tại thôn P, Thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi là
của cụ Trịnh K. Sau khi cụ Trịnh K qua đời vào ngày 26/12/1974 thì cha ông
ông Trịnh C được quyền sở hữu quản sử dụng nhà, đất này theo giấy
chứng chỉ thừa kế đuợc Nghĩa Chánh, quận N chế độ xác nhận ngày
21/01/1975 sự thống nhất nội ông Trương Thị Đệ cùng hai con Trịnh
Thị Thanh N ông Trịnh Không T giấy xác nhận của những người em ruột
của cha ông Trịnh Bá C.
Lời khai của nguyên đơn Trịnh L nêu trên phù hợp với các Giấy xác
nhận quyền thừa kế của Hội đồng gia tộc họ Trịnh ngày 01/12/1997 (được
UBND thị trấn C chứng thực ngày 03/12/1997) ngày 05/4/2006 (được UBND
thị trấn C chứng thực ngày 22/11/2006); Giấy xác nhận quyền thừa kế của Hội
đồng gia tộc h Trịnh ngày 05/4/2006 ngày 01/12/1997 thể hiện ông C
người thừa kế được sở hữu, quản nhà đất tranh chấp các giấy này xác
nhận của Trịnh Thị T, Trịnh Thị Hằng, bà Thị Hồng P, ông Trịnh Duy H2,
ông Trịnh Thanh N, ông Trịnh Thế H1, ông Trịnh Không T một số người họ
Trịnh khác. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không lấy lời khai, tiến hành đối chất
(nếu mâu thuẫn) của những người tên trong Giấy xác nhận quyền thừa kế
của Hội đồng gia tộc họ Trịnh ngày 01/12/1997 ngày 05/4/2006 để xác định
việc xác nhận của họ đúng như nội dung trong các Giấy xác nhận quyền thừa
kế nêu trên hay không?
Bên cạnh đó, tại bản tường trình ngày 25/9/2006, giấy xác nhận ngày
17/8/2007; ngày 09/4/2010 và đơn kiến nghị ngày 27/8/2007 của ông Trịnh Duy
H2 thể hiện nội dung ông Trịnh Bá C là người thừa kế được quyền sở hữu nhà và
đất tranh chấp và ông Trịnh Đ chỉ là người quản dùm nhà đất tranh chấp
cho ông Trịnh C. Đồng thời, tại Giấy xác nhận của ông Trịnh N ngày
02/3/2009, Trịnh M ngày 02/3/2009, ông Trịnh Không T ngày 18/3/2015,
Trịnh Thị Thanh N ngày 13/3/2015 đều thể hiện nội dung ông Trịnh C được
vợ ông Khải và các con ông Khải thống nhất giao quyền sở hữu, quản lý toàn bộ
nhà đất sau khi ông Khải chết: Nguyên vào năm 1974 cha tôi ông Trịnh K
qua đời ...Mẹ và các con đồng thuận thống nhất kêu con trưởng nam là Trịnh Bá
C về cai quản, sở hữu, quản lý toàn bộ đất vườn nhà thờ....
Các nội dung trên, Tòa án cấp thẩm cũng không tiến hành lấy lời khai
và làm có sự đồng thuận giao cho ông C sở hữu nhà, đất tranh chấp không; sự
đồng thuận này vào thời gian nào và có những ai tham gia. Trong trường hợp, tất
cả những người được quyền hưởng thừa kế đều thống nhất giao cho ông C sở
hữu nhà, đất tranh chấp thì việc khởi kiện của Ông L căn cứ chấp nhận và
Tòa án thẩm phải tiến hành thẩm định vị tcác nhà ở ...có trên đất tranh chấp
làm cơ sở giải quyết vụ án.
Mặt khác, Giấy chứng chỉ thừa kế đuợc Nghĩa Chánh, quận N chế độ
cũ xác nhận vào ngày 21/01/1975 là chứng cứ quan trọng để xác định ông C (ông
C người được chđịnh trong giấy) người được hưởng thừa kế hay không
được hưởng thừa kế toàn bộ nhà, đất tranh chấp. Tuy nhiên, giấy chứng chỉ thừa
kế có tại hồ sơ vụ án chỉ là bản sao không được công chứng chứng thực theo quy
định về chứng cứ tại khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, nội
dung trong giấy chứng chỉ thừa kế được thu thập tại hồ vụ án bị mờ, nhòe
không thể xác định được nội dung nhưng Toà án cấp thẩm không căn
cứ vào sở nào lại nhận định cho rằng đây không phải văn bản thừa kế của c
Trịnh K cho ông Trịnh C. Bên cạnh đó, chứng chỉ thừa kế này được lập trên
sở các căn cứ, đó là: Nội dung của biên bản cuộc họp hội đồng gia tộc:
Chiếu biên bản họp Hội đồng gia tộc ngày 21/01/197.. Chứng nhận... Các
tờ ủy quyền chiếu các tờ ủy quyền của...nhưng Tòa án cấp thẩm chưa
thu thập biên bản họp Hội đồng gia tộc và các tờ ủy quyền này để làm căn cứ xác
định nội dung của Giấy chứng chỉ thừa kế ngày 21/01/1975 mà lại nhận định
ông Trịnh Bá C chỉ là người thụ ủy và đồng thừa kế của ông Trịnh Ktoàn diện
chưa chính xác.
Ngoài ra, hồ sơ vụ án còn Giấy ủy quyền được lập ngày 30/02/1975 có
nội dung thể hiện di sản của cụ Trịnh K được ông C giao cho Ông Đ di sản
này chưa được phân chia: “...Sau này đến ngày nào trường hợp thuận tiện,
chúng tôi sẽ họp anh chị em trong gia đình phân chia tài sản...”. Trong quá trình
giải quyết vụ án, Ông L khai lại cho rằng Giấy ủy quyền lập ngày 30/02/1975
giấy giả mạo nhưng Tòa án cấp thẩm không hướng dẫn đương sự yêu cầu
giám định hoặc tiến hành giám định theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 97
khoản 2 Điều 103 Điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để làm căn cứ xác
định di sản của CK đã được giao cho ông C thừa kế hay vẫn còn tài sản
chung chưa chia theo như nhận định của Tòa án cấp thẩm: Các thửa đất này
tài sản chung của các con cụ Trịnh K chưa chia...”. Mặc dù, Giấy ủy quyền
được lập vào ngày 30/02/1975 không đúng về thời gian nhưng không thể chỉ
căn cứ vào việc sai sót, nhầm lẫn về thời gian này để không chấp nhận nội dung
không chấp nhận ý chí của các bên được ghi trong giấy như Tòa án cấp
thẩm đã nhận định.
[2.2] Trong quá trình tố tụng tại cấp thẩm, nguyên đơn ông Trịnh L
cho rằng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ liên quan đến nhà đất tranh chấp sau khi
cha ông Trịnh C chết thì do mông Huỳnh ThT cất giữ sau đó,
mẹ ông tin lời của Ông Đ giao cho ông Trịnh Đ (cha bị đơn Trịnh Văn H)
làm thủ tục yêu cầu Nhà nước trả đất. Cho nên ông không tài liệu, chứng cứ
bản chính để giao nộp cho Tòa án.
Lời khai nêu trên của ông C phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Trung
Khánh (Nguyên Trạm trưởng cửa hàng vật liệu chất đốt huyện N) về việc mượn
đất của ông C sự gian dối của Ông Đ về gia đình ông C để ông Khánh xác
nhận cho Ông Đ; phù hợp với việc ông Trịnh Văn H xuất trình một số tài liệu
chứng cứ bản chính tại Tòa án cấp thẩm nhưng không chịu giao nộp theo yêu
cầu của Tòa án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân
sự quy định việc cung cấp chứng cứ, chứng minh cho các yêu cầu của mình vừa
quyền, vừa nghĩa vụ của đương sự. Đương syêu cầu Toà án bảo vệ
quyền lợi ích hợp pháp của mình, phải đưa ra chứng cứ chứng minh cho yêu
cầu đó căn cứ hợp pháp. Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của
người khác đối với mình cũng phải chứng minh sự phản đối đó căn cứ
phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Nếu bên đương snghĩa vụ đưa chứng
cứ để chứng minh không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng
cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh
không đầy đủ. Hậu quả đó là, nếu hnguyên đơn sẽ bị bác yêu cầu, nếu bị
đơn sẽ bị xử thua kiện.
Trong vụ án này, bị đơn Trịnh Văn H là người đang giữ các tài liệu, chứng
cứ theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh L cũng bên phản đối
yêu cầu khởi kiện thì ông H phải đưa ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự
phản đối đó căn cứ. Bị đơn ông Trịnh Văn H (cũng đại diện theo ủy
quyền của bị đơn Đỗ Thị Tuyết N) trình bày tại biên bản hòa giải tại UBND thị
trấn C ngày 23/10/2006 thể hiện nhà đất tranh chấp cụ Trịnh K đã giao cho
ông Trịnh C: Đất ngày xưa của ông Nội đã giao khi mất truyền lại cho ông
bác Trịnh C ... bác Trịnh C ...đã viết giấy giao lại cho ông Trịnh Đ
toàn quyền sử dụng... tại Tòa án cấp thẩm thì bị đơn Trịnh Văn H khai
nhà đất đang tranh chấp được cụ Trịnh K chia cho ông C và Ông Đ nhưng ông H
không chứng cứ chứng minh cho các lời khai vviệc ông C đã giao nhà đất
tranh chấp cho Ông Đ, về việc Cụ K giao nhà đất tranh chấp cho ông C, Ông Đ
không xuất trình bản chính của các tài liệu chứng cứ đang cầm giữ (Giấy ủy
quyền được lập ngày 30/02/1975; chứng chỉ thừa kế; văn bản họp Hội đồng gia
tộc...) nên lời khai của ông H không căn cứ để chấp nhận. Nguyên đơn, Trịnh
L đã xuất trình đầy đủ các liệu chứng cứ (bản sao) chứng minh cho yêu cầu
khởi kiện đã xuất trình các văn bản xác nhận của ông Trịnh N ngày
02/3/2009, Trịnh M ngày 02/3/2009, ông Trịnh Không T ngày 18/3/2015, bà
Trịnh Thị Thanh N ngày 13/3/2015 thể hiện nội dung ông Trịnh C được vợ
ông Khải các con ông Khải thống nhất giao quyền sở hữu, quản toàn bộ
nhà và đất sau khi ông Khải chết; Giấy xác nhận quyền thừa kế của Hội đồng gia
tộc họ Trịnh ngày 05/4/2006 và ngày 01/12/1997 thể hiện ông C là người thừa kế
được sở hữu, quản nđất tranh chấp các giấy này xác nhận của
Trịnh Thị T, Trịnh Thị H, bà Thị Hồng P, ông Trịnh Duy H2, bà Trịnh Thanh
Nha, ông Trịnh Thế H1, ông Trịnh Không T...Do đó, trên sở thu thập chứng
cứ và điều tra, xác minh của Tòa án nếu các xác nhận nêu trên là đúng sự thật, có
căn cứ thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trịnh Bá L là đúng, cần chấp nhận.
[2.3] Diện tích đất đang tranh chấp chưa được quan thẩm quyền cấp
giấy CNQSD đất và Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa xác định chủ quyền nhưng lại
ghi nhận sự tự nguyện của ông H ông T, ông H2, ông H6, ông H đ giao cho
Ông L l.200m
2
đất không có sự đồng ý của các thừa kế khác còn lại trong vụ
án không đúng pháp luật đảm bảo quyền lợi của P, H5 ông H1
theo như kháng cáo và không bảo đảm quyền lợi của các đồng thừa kế khác.
[3] Ngoài ra, tại phiên tòa Ông L N n lời khai cho rằng bà
Trịnh Thị T còn một người con gái n là Trần Thị Bích T nhưng Tòa án cấp
sơ thẩm không đưa bà T vào tham gia tố tụng là thiếu sót.
[4] Với các sai sót nêu trên, cấp phúc thẩm không thể bổ sung được nên
chấp nhận kháng cáo; huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp
sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Do kháng cáo được chấp nhận nên những người kháng cáo không phải
chịu án phí phúc thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh L chấp nhận kháng cáo của
Lê Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy H2, ông Trịnh Quang H6
ông Trịnh Thế H1.
1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 27/2017/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm
2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, vviệc Tranh chấp đòi lại tài sản
nhà gắn liền với quyền sử dụng đất”; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trịnh Bá L sinh năm 1955; địa chỉ: Khu phố 01, tổ dân
phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Đường T, thành phố Q,
tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Đỗ Thị Tuyết N sinh năm 1938, ông Trịnh Văn H sinh năm
1968; cùng địa chỉ: Khu phố 1, tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng
Ngãi.
2. Giao hồ sơ ván cho Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử thẩm
lại theo theo thủ tục sơ thẩm theo đúng quy định của pháp luật.
3. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trnh L, bà Thị Hồng P, bà Trịnh Thị Lệ H5, ông Trịnh Duy
H2, ông Trịnh Quang H6, ông Trịnh Thế H1 không phải chịu.
Ông L được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ
theo biên lai thu số 02211 ngày 24/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
P được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ
theo biên lai thu số 02203 ngày 20/10/2017của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
Bà H5 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000đ
theo biên lai thu số 02208 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh
Quảng Ngãi.
Ông H2 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02207 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Ông H6 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02206 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Ông H1 được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là
300.000đ theo biên lai thu số 02205 ngày 20/10/2017 của Cục Thi hành án dân
sự tỉnh Quảng Ngãi.
Bn án phúc thm có hiu lc k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDCC tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phước Thanh
Tải về
Bản án số 113/2018/DS-PT Bản án số 113/2018/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất