Bản án số 11/HNGĐ ngày 27/08/2024 của TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/HNGĐ
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/HNGĐ
Tên Bản án: | Bản án số 11/HNGĐ ngày 27/08/2024 của TAND huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Sa Pa (TAND tỉnh Lào Cai) |
Số hiệu: | 11/HNGĐ |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/08/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con chung của vợ chồng |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SA PA - TỈNH LÀO CAI
Bản án số: 11/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 27/8/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp quyền
nuôi con chung của vợ chồng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SA PA – TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giàng Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Sùng A Cở;
2. Ông Chảo Láo Lủ.
- Thƣ ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị
xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai tham gia
phiên tòa: Ông Lã Chúc Cương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh
Lào Cai xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 24/2024/TLST-
HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp quyền nuôi con
chung của vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐST -
HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thanh Hải H; Sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 10,
đường NT, tổ 5, khu 5 phường TS, thành phố UB, tỉnh QN. Vắng mặt, có đơn
xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Hữu Q; Năm sinh 1983; Địa chỉ: Số 5 đường TB,
phường SP, thị xã SP, tỉnh LC. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2024 và bản tự khai trong quá trình giải
quyết vụ án Chị Nguyễn Thanh Hải H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh Hải H và anh Trương Hữu Q
sau thời gian tìm hiểu, đã tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ngày 31/12/2013. Sau khi
kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, giữa vợ chồng chị H xảy ra mâu
thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh doanh và cách
nuôi dạy con cái. Vợ chồng hay cãi vã đánh chửi nhau, thường xuyên sống ly
thân, đến khoảng tháng 5/2023 chị H đưa các con về nhà bố mẹ đẻ của chị ở
Quảng Ninh để sống, anh Q tiếp tục sống làm ăn kinh doanh tại 05 đường Thác
Bạc, phường Phan Si Păng, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, từ đó đến nay thì vợ
2
chồng chị sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai, không liên quan gì đến
nhau về cả kinh tế và tình cảm. Chị H nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày
càng trầm trọng, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên
chị H đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Hữu Q.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng chị H, anh Q có 02
con chung Cháu Trương Nguyễn Vi H1, sinh ngày 05/02/2015 và cháu Trương
Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Từ tháng 5/2023 cả hai con chung của chị H, anh
Q đều sống cùng chị H tại Quảng Ninh, đến tháng 6/2024 chị H đưa cháu
Trương Nguyễn Vi H1 lên nhà ông bà nội ở Hà Nội chơi, sau đó anh Q về đón
cháu lên thị xã Sa Pa chơi và sinh sống đến nay. Khi ly hôn chị H đề nghị Tòa
án giải quyết: Giao cho anh Trương Hữu Q tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng,
chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Vi H1 sinh ngày 05/02/2015 đến khi
cháu đủ 18 tuổi; Giao cho chị H tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục cháu Trương Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Không ai phải đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con chung của vợ chồng. Trường hợp anh Q bận công việc, không
có điều kiện chăm sóc con thì chị H đồng ý là người trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng cả hai con chung của vợ chồng và đề nghị anh Q phải đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con chung đối với cháu Hương là 5 triệu đồng/1 tháng cho cháu
Trương Nguyễn Vi H1 đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không có nên không
yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị H nhận chịu toàn bộ tiền án phí xin ly hôn theo quy định
của pháp luật.
Chị Nguyễn Thanh Hải H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H giữ
nguyên yêu cầu tại đơn khởi kiện và bản tự khai chị đã nộp tại Tòa án.
Bị đơn anh Trương Hữu Q có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, tại biên bản lấy
lời khai ngày 29/7/2024 anh Trương Hữu Q trình bày:
Anh Q đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án số 24/TB – TLVA ngày
19/7/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai về việc Chị Nguyễn
Thanh Hải H khởi kiện ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con chung của vợ chồng
với anh. Anh Q đăng ký tạm trú tại tổ 5 phường Sa Pa, thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai
từ ngày 17/3/2021 thời hạn đăng ký tạm trú đến ngày 17/3/2022. Từ đó đến nay
đã hết thời hạn đăng ký tạm trú, anh Q đã đến Công an phường Sa Pa để làm thủ
tục gia hạn đăng ký tạm trú nhưng không được vì quán anh thuê để kinh doanh
chủ nhà chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đất nên không
làm được hợp đồng thuê nhà, không gia hạn tạm trú được nhưng anh Q vẫn đăng
ký và hoạt động kinh doanh và sinh sống ổn định tại địa chỉ Số 5 đường TB,
phường SP, thị xã SP, tỉnh LC đến nay. Anh không có ý kiến việc chị H xin ly
hôn anh và anh nhất trí chọn Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa là Tòa án giải quyết
việc ly hôn của vợ chồng anh.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Trương Hữu Q và Chị Nguyễn Thanh Hải H
sau thời gian tìm hiểu, đã tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân
dân phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội ngày 31/12/2013.

3
Sau khi kết hôn vợ chồng anh, chị chung sống không hạnh phúc thường
xuyên sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong
cuộc sống, làm ăn kinh doanh và cách nuôi dạy con cái. Vợ chồng hay cãi vã
đánh chửi nhau, vợ chồng thường xuyên sống ly thân nhau. Đến khoảng tháng
5/2023 chị H đưa các con về nhà bố mẹ đẻ chị tại Quảng Ninh để sống, anh Q
tiếp tục sống làm ăn kinh doanh tại 05 đường Thác Bạc, phường Sa Pa, thị xã Sa
Pa, tỉnh Lào Cai, tết chị H có đưa con về ông bà nội ở Hà Nội ăn tết từ đó đến
nay thì vợ chồng anh sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai, không liên
quan gì đến nhau về cả kinh tế và tình cảm. Đến nay chị H làm đơn xin ly hôn
anh. Anh Q không đồng ý ly hôn vì dù vợ chồng anh có mâu thuẫn nhưng từ khi
anh kết hôn anh xác định không bỏ vợ và phải có trách nhiệm với vợ, con.
Trường hợp chị H nhất quyết ly hôn anh, anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ kiện
theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có 02 con
chung là cháu Trương Nguyễn Vi H1, sinh ngày 05/02/2015 và cháu Trương
Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Từ tháng 5/2023 các con đều sống cùng mẹ tại
Quảng Ninh, đến tháng 6/2024 cháu Hương được nghỉ hè nên cháu Trương
Nguyễn Vi H1 lên nhà ông bà nội ở Hà Nội chơi, sau đó anh đón cháu lên thị xã
Sa Pa ở với anh. Khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết: Giao cho Chị
Nguyễn Thanh Hải H tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu
Trương Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Giao cho anh Trương Hữu Q được tiếp tục
trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Vi H1 sinh
ngày 05/02/2015 đến khi cháu đủ 18 tuổi; Không ai phải đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con chung của vợ chồng.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Vợ chồng anh Q, chị H không có,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: Quá trình tiến hành tố
tụng Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân thực hiện đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự. Đương sự được bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ đúng luật
định. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 56, 57 và các Điều 81,
82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 227, Điều 228, 238, khoản 4
Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của Chị Nguyễn Thanh Hải H.
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Chị Nguyễn Thanh Hải H được ly hôn
anh Trương Hữu Q.
+ Về con chung: Giao cho anh Trương Hữu Q được tiếp tục trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Vi H1 sinh ngày
05/02/2015 đến khi cháu đủ 18 tuổi; Giao cho Chị Nguyễn Thanh Hải H tiếp tục
trông nom nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Hải Ph, sinh ngày
01/3/2021.

4
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con
chung của vợ chồng.
- Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các
đương sự theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày ngày 17/7/2024 Chị Nguyễn Thanh Hải H có
đơn khởi kiện “Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con chung của vợ chồng” đối
với anh Trương Hữu Q tại Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Đây là
quan hệ tranh chấp về “Hôn nhân và gia đình” quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn Anh Trương Hữu Q; sinh năm 1983; Cư trú
và sinh sống tại: Số 5 đường TB, phường SP, thị xã SP, tỉnh LC nên vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa nhân dân thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Quá trình
giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thị xã Sa Pa đã ban hành các thông báo, giấy
triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác, tiến hành
công khai tài liệu chứng cứ và thông báo kết quả cho các đương sự theo quy
định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thanh Hải H và anh Trương Hữu
Q sau thời gian tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 31/12/2013 tại Ủy ban
nhân dân phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội. Do đó Hội đồng
xét xử xác định quan hệ hôn nhân của chị Hòa và anh Hùng là hợp pháp.
Tình trạng hôn nhân: Sau khi kết hôn vợ chồng chị H, anh Q chung sống
không hạnh phúc thường xuyên sảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng
bất đồng quan điểm trong cuộc sống, làm ăn kinh doanh và cách nuôi dạy con
cái. Vợ chồng cãi vã đánh chửi, thường xuyên sống ly thân nhau. Từ tháng
5/2023 chị H anh Q sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai, không liên quan
gì đến nhau về cả kinh tế và tình cảm. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa
chị H và anh Q đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin
ly hôn của Chị Nguyễn Thanh Hải H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật
Hôn nhân và gia đình cần được chấp nhận.
[3] Về con chung: Vợ chồng chị H, anh Q có 02 con chung là cháu Trương
Nguyễn Vi H1, sinh ngày 05/02/2015 và cháu Trương Hải Ph, sinh ngày
01/3/2021. Xét nguyện vọng nuôi con của hai bên đương sự, nguyện vọng cháu
Trương Nguyễn Vi H1 và căn cứ quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình,
Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn giữa chị H và anh Q đã trầm trọng, mục
đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
giải quyết cho chị H được ly hôn anh Q. Vì vậy Hội đồng xét xử cần giao cho
Chị Nguyễn Thanh Hải H tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
cháu Trương Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Giao cho anh Trương Hữu Q được
tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Nguyễn Vi H1
sinh ngày 05/02/2015 đến khi cháu đủ 18 tuổi.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không ai phải đóng góp tiền cấp

5
dưỡng nuôi con chung của vợ chồng.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thanh Hải H và anh
Trương Hữu Q không có tài sản chung và công nợ chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết
326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thanh Hải H phải chịu 300.000 đồng tiền
án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn đều có quyền kháng
cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, 57 và các Điều 81, 82, 83; Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014. Điều 227, Điều 228, 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng
dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử vắng mặt Chị Nguyễn Thanh Hải H và anh Trương Hữu Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn
Thanh Hải H. Xử cho Chị Nguyễn Thanh Hải H được ly hôn anh Trương Hữu
Q. Quan hệ hôn nhân của anh, chị chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực
pháp luật.
2. Về con chung: Giao cho Chị Nguyễn Thanh Hải H tiếp tục trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Trương Hải Ph, sinh ngày 01/3/2021. Giao
cho anh Trương Hữu Q được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo
dục cháu Trương Nguyễn Vi H1 sinh ngày 05/02/2015 đến khi cháu đủ 18 tuổi;
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai
được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không ai phải đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con chung của vợ chồng.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thanh Hải H và anh
Trương Hữu Q không có tài sản chung và công nợ chung, không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thanh Hải H phải chịu 300.000đồng (Ba trăm
nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0001605 ngày 18/7/2024 của Chi cục thi
hành án dân sự thị xã Sa Pa. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thanh Hải H, anh Trương Hữu Q
được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự

6
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- TAND tỉnh Lào Cai;
- VKSND tỉnh Lào Cai;
- VKSND thị xã Sa Pa;
- Chi cục THADS thị xã Sa Pa;
- UBND phường Yên Phụ;
- Lưu: VT, HSKS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Giàng Thị Thu Trang

7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm