Bản án số 11/2026/HC-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 11/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 11/2026/HC-PT ngày 16/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 11/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Người khởi kiện yêu cầu được giao đất có thu tiền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 11/2026/HC-PT Bản án số 11/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2026/HC-PT Bản án số 11/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 11/2026/HC-PT
Ngày 16 6 2026.
V/v Kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính, quyết định giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản
lý đất đai.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Trang; bà Nguyễn Thị My My.
- Thư ký Tán ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Khắc Anh – Thư ký Toà án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Mỹ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 16/6/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên toà xét xử
công khai vụ án hành chính thụ số: 16/2025/HCPT ngày 15/12/2025 về việc
“Khiếu kiện quyết định hành chính, quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
bồi thường, hỗ trợ tái định khi Nhà nước thu hồi đất”. Do bản án hành chính
sơ thẩm số: 01/2025/HCST ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 Đắk
Lắk bị kháng cáo. Giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn ơng Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn P,
T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người bị kiện:
1. Chủ tịch UBND T, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: C N, thôn C, T, tỉnh Đắk
Lắk.
2. UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND xã TUBND xã T: Ông
Nguyễn Minh Q1 Phó Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thị S, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng
mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/7/2025 và quá trình tố tụng tại Tòa án, người
khởi kiện ông Nguyễn Vương Q (ông Q) trình bày:
Cha ông Q tên Nguyễn Chí T (chết năm 2009), mẹ Phạm Thị S tạo lập được
khối tài sản chung là căn nhà cấp 4 gắn liền quyền sử dụng diện tích khoảng 500m
2
đất tọa lạc tại thôn P, A, huyện T, tỉnh Phú Yên (Nay thôn P, T, tỉnh Đắk
Lắk). Vợ chồng ông T, bà S 04 người con gồm Nguyễn Thị Hồng L, Nguyễn Thị
H, Nguyễn Vương Q, Nguyễn Thị Quốc V. Ông Q và bà H sinh sống cùng nhà với
vợ chồng ông T, S. Năm 2016, ông Q tách khẩu khỏi hộ gia đình vợ chồng ông
T, bà S, thiết lập sổ hộ khẩu gia đình riêng do ông Q làm chủ hộ. Cùng năm, ông Q
lấy vợ, vợ chồng ông Q vẫn sống cùng nhà với vợ chồng ông T, S. Đến năm 2020
thì vợ chồng ông Q ly hôn. Vông Q con gái đi nơi khác sinh sống. Còn ông Q
vẫn sống cùng nhà với vchồng ông T, S. Tuy vợ chồng Q sống với nhau từ năm
2016 đến 2020 nhưng vợ ông Q chưa nhập khẩu về chung hộ với ông Q nên hộ gia
đình ông Q, thành viên 01 người ông Q, đến thời điểm hiện nay không
thay đổi.
Ông Q làm nghề tài xế nên thường xuyên vắng nhà. Tuy nhiên, ngoài thời gian
làm công việc lái xe chở khách thì nơi sinh sống chính của ông Q nhà vợ chồng
ông T, S. Ngoài nơi của vợ chồng ông T, S thì ông Q không nơi nào
khác.
Ngày 23/12/2022 UBND huyện T ra thông báo số 680/TB-UBND thông báo
thu hồi đất của S đối với thửa 183, diện tích 445,1m
2
. Ngày 29/12/2022 UBND
huyện T thực hiện kiểm tài sản bị thu hồi. Ngày 02/4/2024 UBND huyện T ra
Quyết định số 1126/QĐ-UBND thu hồi đất của S đối với thửa 183, diện tích
445,1m
2
đất, trong đó gồm 140m
2
đất ở và 305,1m
2
đất BHK.
Ngày 02/4/2024 UBND huyện T ra Quyết định số 1114/QĐ-UBND phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ để thực hiện tiểu dự án thành phần đoạn Q - C thuộc
dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc – Nam phía Đông giai đoạn 2021-
2025, đoạn qua địa bàn huyện T (địa điểm A, huyện T). Phương án bồi thường,
hỗ trợ tái định cư thì chỉ có bà Phạm Thị SNguyễn Thị H được Nhà nước bố
trí đất tái định cư. S hộ chính còn H và coni là hộ phụ, còn ông Q không
được Nhà nước xem xét bố trí đất tái định cư. Việc này ảnh hưởng lớn đến cuộc sống
của ông Q.
Ngày 03/02/2025 ông Q đơn đề nghị UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ)
xem xét cấp đất tái định (hộ phụ). UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) ban hành
công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 v/v trả lời đơn đề nghị của ông Q, nội dung
không xem xét giao đất trong khu tái định xã A cho ông Q.
Ngày 04/5/2025, ông Q đơn khiếu nại công văn số 1057/UBND ngày
3
14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ). Ngày 25/6/2025, Chủ tịch UBND
huyện T ban hành Quyết định số 2637/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần
đầu của ông Nguyễn Vương Q, nội dung không công nhận nội dung khiếu nại của
ông Q.
Căn cứ khoản 2 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
Phủ, khoản 3 Điều 4 Quy định kèm theo Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày
22/9/2021 của UBND tỉnh P. Ông Q khởi kiện Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk;
yêu cầu Tòa án hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày
25/6/2025 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên do Chủ tịch UBND T, tỉnh
Đắk Lắk kế thừa quyền, nghĩa vụ; yêu cầu Tòa án công nhận trường hợp của ông Q
đủ điều kiện được giải quyết giao đất tái định cư (hộ phụ) có thu tiền sử dụng đất.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, người bị kiện Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Đắk
Lắk do người đại diện trình bày:
Thực hiện dự án thành phần đoạn Q - C thuộc dán XDCT đường bộ cao tốc
Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021 2025. Hộ gia đình Phạm Thị S bị ảnh hưởng
tại thửa đất số 183, tờ bản đồ số 2 bản đồ trích đo địa chính năm 2022. Hiện S
chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Phiếu lấy ý kiến khu dân
ngày 07/10/2022, hiện trạng thửa đất số 183 hộ gia đình bà Phạm Thị S đang trực
tiếp sử dụng đất để ở sinh hoạt cùng 02 hộ của con (02 hộ con không thường xuyên
có mặt tại địa phương, qua xác minh của Công an xã A thì hai hộ ở chung trên thửa
đất bao gồm Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Vương Q hộ khẩu vẫn tại địa phương).
Theo hiện trạng và kiểm các hạng mục công trình nằm trên thửa đất
Phạm Thị S khai. Các hạng mục ng trình kết cấu liền khối nhau, diện tích
công trình là 107,66m
2
. Các hạng mục công trình này xây dựng trên đất chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cũng chưa được công nhận tài sản gắn
liền với đất. Hiện nay theo các giấy tờ chứng minh thì bà Phạm Thị S chồng
ông Nguyễn Chí T (chết) người sử dụng đất và tài sản, công trình gắn liền với đất.
Trước đây qua làm việc với ông Q, U đã đề nghị ông Q cung cấp các giấy tờ
liên quan chứng minh phần sở hữu của mình (đượcS cho tặng) trong các phần
diện tích đất ca bà S sở hữu nhưng ông Q không cung cấp được.
Ngày 05/03/2024, UBND huyện đã ban hành Quyết định số 590/QĐ-UBND
bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở
để thực hiện dự án thành phần đoạn Q - C thuộc dự án xây dựng công trình đường
bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025. Trong phương án đã bố trí
cho hộ S thửa đất số 627, diện tích 250m
2
, đất nông thôn con hộ Nguyễn
Thị H (có cháu Nguyễn Toàn T1) tại thửa số 614, diện tích 250m
2
đất nông thôn.
UBND huyện T và UBND xã A đã xemt tất cả các yếu tố về điều kiện nơi
tái định mới phải bằng tốt hơn nơi cũ: Thửa đất của Phạm Thị S
4
có diện tích là 140m
2
đất ở nông thôn và 334,4m
2
đất trồng cây hằng năm, diện tích
công trình xây dựng là 107,66m
2
, tổng diện ch của các hộ gia đình S được bố trí
vào khu tái định cư là 500m
2
đất ở nông thôn. Trong hộ ông Q sống chung nhà với
hộ bà S chỉ có 01 khẩu (không có cháu nội bà S là Nguyễn An N con ông Q). Ông
Nguyễn Vương Q đã ly hôn với vợ không sống cùng con trước thời điểm thông
báo thu hồi đất số 680/TB-UBND ngày 23/12/2022 và không có mặt thường xuyên
tại địa phương.
Theo Báo cáo số 47/BC-UBND ngày 27/3/2025 của UBND xã A về việc xác
định thông tin những hộ gia đình, cá nhân thuộc diện xem xét giao đất có thu tiền s
dụng đất để thực hiện dự án cao tc Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021-2025 trên
địa bàn xã A (đợt 2). Hộ ông Nguyễn Vương Q tách hộ cùng ntừ hộ bà Phạm Thị
S từ ngày 18/11/2016 gồm 01 nhân khẩu, do ông Q làm chủ hộ. Hiện tình trạng hôn
nhân của ông Q đã ly hôn, ông Q không nuôi con mà chỉ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi
cháu Nguyễn An N. Qua kiểm tra xác minh thực tế: Hộ ông Q hiện không thường
xuyên sinh sống tại địa phương, đi làm ăn xa tại tỉnh Khánh Hòa. UBND A không
đủ điều kiện xét hộ phụ giao đất tái định cư hộ có 1 khẩu và không thường xuyên
sinh sống cùng nhà với hPhạm Thị S. Trường hợp này đã Thông báo số
209/TB-UBND ngày 02/4/2025 của UBND huyện T về việc thẩm định xét các
trường hợp hộ phụ bị thu hồi đất kết luận ông Q không đủ điều kiện giao đất tái định
thu tiền sử dụng đất. Theo khoản 4 Điều 111 Luật đất đai năm 2024 ttrường
hợp của ông Q không đủ điều kiện xem xét giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng
đất. Vì vậy, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND
T do ông Nguyễn Minh Q1 đại diện trình bày: UBND T giữ nguyên quan
điểm của nội dung công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện T,
tỉnh Phú Yên (cũ), đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phạm Thị SNguyễn Thị H trình bày: Thống nhất nội dung sự việc như ông
Q trình bày. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Bản án Hành chính thẩm số 01/2025/HCST ngày 30/9/2025 của Toà án
nhân dân khu vực 14 – Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ các Điều 30, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 348
Luật tố tụng hành chính; khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật pháp người chưa thành niên,
Luật phá sản Luật hòa giải, đối thoại năm 2025; khoản 1 Điều 22 khoản 3 Điều
59 Hiến pháp năm 2013; khoản 2 Điều 79 Luật đất đai 2013; khoản 4 Điều 6 Nghị
định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; khoản 4 Điều 4 Quyết định số
5
39/2021/QĐ-UBND ngày 21/9/2021 của UBND tỉnh P; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết
326/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q vviệc hủy Quyết
định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của Chủ tịch UBND
huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) và công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND
huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ).
Buộc UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk có trách nhiệm thực hiện công tác hỗ trợ tái
định cư theo quy định pháp luật.
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q về việc yêu cầu Tòa
án công nhận trường hợp của ông Nguyễn Vương Q đủ điều kiện được giải quyết
giao đất tái định cư (hộ phụ) có thu tiền sử dụng đất.
Ngày 15/10/2025, UBND T Chủ tịch UBND T tỉnh Đắk Lắk nộp
đơn kháng cáo Bản án. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác
toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, thư ký và Hội
đồng xét xử tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định. Các đương sự thực
hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tng.
Về nội dung: Qua xem xét, đánh giá toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong
hồ vụ án thì thấy cấp thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người
khởi kiện, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày 25/6/2025
của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) và công văn số 1057/UBND ngày
14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ); buộc UBND xã T có trách nhiệm
thực hiện công tác hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật là hoàn toàn có căn cứ
bởi ông Nguyễn Vương Q thuộc trường hợp sống trên đất người khác, khi thu hồi
đất phải di chuyển chỗ ở; pháp luật không hạn chế quyền được hỗ trợ tái định cư đối
với người làm ăn xa hoặc hộ đơn thân. Đối chiếu quy định tại thời điểm giải quyết
thu hồi, bồi thường hỗ trợ thì ông Nguyễn Vương Q đủ điều kiện xem xét giao
đất có thu tiền sử dụng đất. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của người
bị kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
[1] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện:
Ngày 30/7/2025, ông Nguyễn Vương Q nộp đơn khởi kiện, yêu cầu hủy Quyết
định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của Chủ tịch UBND
6
huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) tại phiên tòa bổ sung yêu cầu hủy công văn số
1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ). Yêu cầu Tòa
án giải quyết buộc Chủ tịch UBND xã T thực hiện công tác hỗ trợ, tái định cư theo
quy định pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q còn trong thời hiệu
khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật T tng hành chính. Tòa án nhân dân
khu vực 14, tnh Đắk Lắk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 3,
khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung mt số điều của Bộ luật tố
tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá
sản và Luật hòa giải, đối thoại năm 2025.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q và kháng cáo của người
bị kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất thu hồi:
Thửa đất số 183, tờ bản đồ số 02 bản đồ trích đo địa chính năm 2022. Diện
tích thửa đất 474,4m
2
, nguồn gốc do vợ chồng Phạm Thị S (bố mông Q) nhận
chuyển nhượng từ ông Kiều Văn K vào năm 1990; năm 1991 xây dựng nhà sử dụng
ổn định đến nay, không xảy ra tranh chấp. UBND huyện T xác định bà Phạm Thị S
đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đủ điều kiện để
được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 79 Luật đất đai năm
2013.
Thực hiện dự án thành phần đoạn Q - C thuộc dán XDCT đường bộ cao tốc
Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021 2025, hộ gia đình S bị thu hồi đợt 1 là
445,1m
2
, thu hồi đợt 2 là 5,4m
2
, diện tích đấtn lại 23,9m2.
Theo bảng họa tài sản bị ảnh hưởng đề ngày 19/12/2022, Biên bản kiểm
đất đai, tài sản đề ngày 29/12/2022, Bảng tính chi tiết giá trị bồi thường, hỗ trợ
đất đai tài sản gắn liền với đất bị thu hồi đngày 28/3/2024 của Trung tâm phát triển
quỹ đất huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) thể hiện trên thửa đất số 183 tồn tại các công
trình có kết cấu liền khối nhau gồm: Nhà 1 tầng ký hiệu số “1” có diện tích 3,5m x
8m, nhà 1 tầng hiệu số “2” có diện tích 6,5m x 6,6m, nhà 1 tầng hiệu số “3”
diện tích 6m x 3,9m, nhà 1 tầng ký hiệu số “5” có diện tích 5,4m x 2m, nhà tạm
ký hiệu số “4” có diện tích 4,6m x 8m, công trình phụ “ký hiệu WC” và chái hiên.
[2.2] Số nhân khẩu sống tại căn nhà 05 gian nêu trên gồm: Hộ Phạm Thị S
gồm bà S con Nguyễn Thị Quốc V, hộ bà Nguyễn Thị H gồm bà H con
Nguyễn Toàn T1, hộ ông Nguyễn Vương Q có 01 nhân khẩu là ông Q. Lời khai của
S, bà H và ông Quốc Đ xác định Gian nhà ký hiệu số “1”, “2”, “4”, “5” do bà S
xây dựng, còn gian nhà ký hiệu số “3” do ông Q xây dựng vào năm 2017.
[2.3] Theo thông tin do Công an T cung cấp thì ông Q nghề nghiệp
lái xe, hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk, chưa nơi đăng tạm
trú; “…ngày 18/11/2016 ông Q xin tách hộ riêng từ hộ mẹ ruột là hộ Phạm Thị
7
S ra lập hộ mới nhưng chung nhà gồm 01 khẩu: Nguyễn Vương Q, sinh ngày
08/4/1987, chủ hộ”. Như vậy, ông Nguyễn Vương Q đã kết hôn và đã tách hộ theo
quy định của luật trú từ trước khi Thông báo thu hồi đất số 680/TB-UBND
ngày 23/12/2022.
Trưởng thôn Phong H1 ông Trần Văn B những người dân sống tại địa
phương gồm ông Phan Văn M, ông Trương Hữu H2, ông Nguyễn Văn Đ1 đều xác
định ông Q từ nhỏ đến lớn sống chung nhà với bà S trên thửa đất số 183. Nhưng do
đặc thù công việc nên không thường xuyên ở ổn định tại thôn P, xã T.
[2.4] Tại Báo cáo số 27/BC-UBND ngày 22/02/2024 của UBND A xác
nhận“Hiện trạng thửa đất số: 183 hiện nay hộ gia đình Phạm Thị S đang trực tiếp
sử dụng đất để sinh hoạt cùng 02 hcủa con”, Báo cáo số 90/BC-UBND ngày
30/5/2025 của UBND A xác nhận “+ Hiện trạng thửa đất số 183 hiện nay h gia
đình Phạm Thị S đang trực tiếp sử dụng đất để ở sinh hoạt cùng 02 hộ của con…”
Báo cáo xác minh nội dung khiếu nại số 32/BC-TXM ngày 12/6/2025 của Tổ xác
minh theo 1704 1940 của UBND huyện T xác nhận “Hộ ông Q chỉ
có 1 khẩu sống chung nhà với hộ bà S…”.
Như vậy, trên thực tế, ông Nguyễn Vương Q sinh sống trên thửa đất số 183,
thuộc trường hợp sống nhờ trên đất người khác. Khi Nhà nước thu hồi đất phải di
chuyển chkhông nơi nào khác trong địa bàn nơi đất thu hồi. UBND
xã T không chng minh được ông Q còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị
trấn.
[2.5] Quy định về hỗ trợ tái định cư:
Thời điểm thu hồi đất và phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
là ngày 02/4/2024. Ngày 05/3/2024, UBND huyện T ban hành quyết định số 590 bố
trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở để
thực hiện dự án nên cấp thẩm áp dụng các quy định đang hiệu lực tại thời điểm
này là đúng quy định.
Khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ
quy định: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất
gắn liền với nhà thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ nhưng không đđiều kiện
được bồi thường về đất ở, nếu không chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường,
thị trấn nơi đất thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà
hoặc giao đất ở có thu tiền sdụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá
đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy
định.”.
Khoản 4 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 21/9/2021 của
UBND tỉnh P quy định: “4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà
nước thu hồi đất gắn liền với nhà thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ nhưng
8
không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở (bao gm cả trường hợp có nhà ở trên
đất của người khác), nếu không chỗ nào khác trong địa bàn xã, phường, thị
trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không
thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá
đất ở tính thu tiền sử dụng đất được xác định bằng giá đất trong bảng giá đất nhân
(x) với hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh;
giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo từng
dự án, công trình cụ thể.”
Tại phiên tòa thẩm, người bị kiện trình bày: Khu tái định 26 lô, đã
giao 15 lô, còn 11 lô. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người bị kiện cũng xác nhận
nội dung trên. Như vậy, quỹ đất tái định cư để thực hiện công tác hỗ trợ tái định cư
vẫn còn.
[2.6] Đối chiếu các quy định nêu trên, hiện tại quỹ đất tái định đang còn
nên trường hợp ông Q đủ điều kiện để được giao đất thu tiền sử dụng đất không
thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.
UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) cho rằng việc ông Q là hộ đơn thân, đồng
thời cho rằng ông Q không chứng minh phần sở hữu của mình trong thửa đất S
đang ở nên không xem xét giải quyết nhu cầu về đất ở đối với ông Q không phù
hợp, bởi không quy định nào hạn chế điều kiện được giao đất thu tiền sử
dụng đất đối với người làm ăn xa hoặc hộ gia đình đơn thân.
Do đó, a án cấp thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
Nguyễn Vương Q, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày
25/6/2025 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) và công văn số
1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ), buộc người
thẩm quyền thực hiện hỗ trợ tái định cho ông Nguyễn Vương Q theo quy định
pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên hiện nay, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5
Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ thì thẩm quyền quyết
định phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định được chuyển giao cho Chủ
tịch UBND cấp xã, án sơ thẩm tuyên buộc UBND xã thực hiện là không đúng thẩm
quyền. Do đó, cần sửa nội dung này cho phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Biên bản phiên tòa thhiện ông Q giữ nguyên yêu cầu buộc quan
thẩm quyền thực hiện hỗ trợ i định theo quy định rút yêu cầu giao đất tái
định cư có thu tiền sử dụng đất nên cấpthẩm đã “Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của
ông Nguyễn Vương Q về việc yêu cầu Tòa án công nhận trường hợp của ông Nguyễn
Vương Q đủ điều kiện được giải quyết giao đất tái định (hphụ) thu tiền sử
dụng đất”. Việc đình chỉ là không cần thiết bởi trong vụ án hành chính, yêu cầu thực
hiện hỗ trợ tái định cư hay yêu cầu giao đất tái định thu tiền sử dụng đất không
phải là các yêu cầu độc lập mà đều là yêu cầu xem xét giải quyết nhu cầu được giao
9
đất để ở. Tòa án thẩm quyền xem xét các quy định để quyết định. Do đó, cần điều
chỉnh lại theo hướng không tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện để tránh
vướng mắc khi thi hành án.
[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp thẩm đã giải
quyết đảm bảo đúng quy định, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa
là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo
của người bị kiện, cần giữ nguyên quyết định ca án sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên người
kháng cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính;
Bác kháng cáo của Ủy ban nhân dân T Chủ tịch ủy ban nhân dân T
tỉnh Đắk Lắk. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số
01/2025/HC-ST ngày 30/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 14 Đắk Lắk.
- Căn cứ khoản 1 Điều 22, khoản 3 Điều 59 Hiến pháp năm 2013; khoản 2
Điều 79 Luật đất đai 2013; khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ; khoản 4 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày
21/9/2021 của UBND tỉnh P;
- Căn cứ Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và s
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q
[1.1] Tuyên hủy công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện
T, tỉnh Phú Yên (cũ) Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày
25/6/2025 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ).
[1.2] Tuyên bố hành vi không giao 01 (một) thửa đất ở có thu tiền sử dụng đất
không thông qua đấu giá cho ông Nguyễn Vương Q trái pháp luật. Buộc Chủ tch
UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk thực hiện nhiệm vụ công vụ giao 01 (một) thửa đất ở có
thu tiền sdụng đất không thông qua đấu giá cho ông Nguyễn Vương Q theo quy
định của pháp luật.
[2] Án phí hành chính sơ thẩm:
- UBND T, tỉnh Đắk Lắk Chủ tịch UBND T, tỉnh Đắk Lắk mỗi đương
sự phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đng) án phí hành chính sơ thẩm.
10
- Hoàn trả cho ông Nguyễn Vương Q 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm
ứng án phí hành chính thẩm đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002543 ngày 01 tháng
8 năm 2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm:
UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk và Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Đắk Lắk mi đương
sự phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm, được khấu trừ vào số
tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0003322
và số 0003332 cùng ngày 24/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 14;
- Phòng THADS khu vực 14;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã )
Lưu Thị Thu Hường
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 11/2026/HC-PT Bản án số 11/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 11/2026/HC-PT Bản án số 11/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất