Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2025/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 19/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 11/2025/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 19/08/2025 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Phùng Thị H - Phạm Văn Q |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 -HẢI PHÒNG
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 8 - 2025
"V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Ông Nguyễn Thanh Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký tòa án nhân dân khu
vực 11 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng tham gia
phiên tòa: Bà Phạm Thị Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11 - Hải
Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số
113/2025/TLST-HNGĐ ngày 13/6/2025 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi
con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04
tháng 8 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phùng Thị H, sinh năm 1992; CCCD: 020192002499;
địa chỉ: Thôn C, xã G1, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn C, xã G, huyện G1,
tỉnh Hải Dương). Có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Văn Q, sinh năm 1992; CCCD : 030092009299 ; địa
chỉ: Thôn C, xã G1, thành phố Hải Phòng (cũ là thôn C, xã G, huyện G1, tỉnh
Hải Dương). Có đơn xin xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn là chị Phùng Thị H trình
bày:
Chị và anh Phạm Văn Q được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết
hôn ngày 29/8/2014 tại UBND xã G, huyện G1, tỉnh Hải Dương (nay là UBND
xã G1, thành phố Hải Phòng). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc
được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính
tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng
nói chung, không hoà hợp về tính cách và cách làm ăn kinh tế. Từ đầu năm
2
2022, vợ chồng chị đã sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Nay, chị xác
định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên
chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Phạm Thuỳ L, sinh
ngày 07/3/2017 và cháu Phạm Văn Kh, sinh ngày 13/7/2019. Hiện cả hai cháu
đang sống cùng anh Q. Sau khi ly hôn, chị đề nghị giao cả hai con chung cho
anh Q nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Phạm Thuỳ L với số tiền
3.000.000 đồng/tháng. Nếu anh Q không yêu cầu cấp dưỡng, hai vợ chồng sẽ tự
thoả thuận.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung và nợ
chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn là anh Phạm Văn Q trình
bày:
Anh và chị Phùng Thị H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn như chị H đã trình
bày. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế.
Năm 2022, chị H đi xuất khẩu lao động, đến tháng 6/2025 chị Hạnh về Việt
Nam nhưng không về nhà chồng mà về ở nhà bố mẹ đẻ. Chị H có đơn xin ly hôn
anh tại Toà án thì quan điểm của anh không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ
chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con cái. Hiện chị H không về chung sống cùng
anh, anh cũng không liên lạc được với chị Hạnh nên anh cũng không có giải
pháp nào để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Trường hợp chị H kiên quyết xin ly hôn,
anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung như chị H đã trình bày.
Hiện, hai cháu đang ở cùng với anh. Nếu vợ chồng ly hôn, anh đề nghị được
nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu chị Hạnh phải có trách nhiệm cấp dưỡng tiền
nuôi cháu Phạm Thuỳ L là 4.000.000 đồng/tháng vì quan điểm cá nhân anh cho
rằng với mức cấp dưỡng như vậy mới đủ lo cho cháu. Trong trường hợp, chị H
vẫn giữ nguyên quan điểm cấp dưỡng cho cháu Linh với số tiền 3.000.000
đồng/tháng thì anh vẫn tôn trọng ý kiến của chị H.
Về nợ riêng: Trước khi đi xuất khẩu lao động, chị H có vay của bố mẹ anh
số tiền 285.000.000 đồng. Chị H đã trả nợ được một phần, trả được bao nhiêu và
còn nợ bao nhiêu anh không nắm được. Anh xác định đây là khoản nợ riêng của
chị H. Tuy nhiên, bố mẹ anh không yêu cầu Toà án giải quyết khoản nợ của chị
Hạnh trong vụ án này nên anh cũng không đề nghị Toà án xem xét giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai, ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị Th (là bố mẹ
anh Phạm Văn Q) trình bày:
Về thời gian kết hôn, nơi đăng ký kết hôn giữa chị Phùng Thị H và anh
3
Phạm Văn Q như chị H đã trình bày. Ngày 27/5/2022, chị H đi lao động tại Nhật
Bản, thi thoảng chị có điện về cho ông bà để nói chuyện với các con. Có lần, chị
H điện về và nói với ông bà là chị H và anh Q không còn hợp nhau. Khi đó, ông
bà mới biết vợ chồng chị H, anh Q phát sinh mâu thuẫn. Ông bà đã nói chuyện
với chị H và anh Q mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H vẫn kiên quyết ly
hôn. Tháng 6/2025, chị H về Việt Nam nhưng không về nhà chồng mà về nhà
mẹ đẻ ở Lạng Sơn. Chị H có về thăm các con một buổi tối nhưng sáng hôm sau
lại trở về Lạng Sơn luôn. Từ đó đến nay, chị không về chung sống cùng anh
Quang nữa. Nay, chị H làm đơn ly hôn anh Quang thì quan điểm của ông bà
mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Trường hợp chị H kiên
quyết xin ly hôn anh Q, ông bà đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp
luật.
Về con chung: Anh Q và chị H có 02 con chung là Phạm Thuỳ L, sinh
ngày 07/3/2017 và Phạm Văn Kh, sinh ngày 13/7/2019. Hiện nay, cả hai cháu
đều do anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Trong trường hợp chị H vẫn kiên quyết xin
ly hôn anh Q, đề nghị Toà án xem xét cho 2 cháu được tiếp tục ở cùng với bố là
anh Q vì các cháu từ nhỏ đến lớn đã ở cùng với bố, các cháu đã quen sinh sống
và học tập tại đây. Ông bà sẽ tạo điều kiện hết mức để cùng anh Q hỗ trợ nuôi
dạy, trông nom các cháu.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho 2 bên gia đình: Anh
Q và chị H không có tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp cho 2 bên
gia đình.
Về nợ riêng: Trước khi đi xuất khẩu lao động, chị H có nợ ông bà số tiền
284.300.000 đồng. Trong thời gian đi Nhật, chị H có gửi tiền về, sau khi trừ các
khoản chi liên quan, ông bà xác định chị Hạnh còn nợ 164.800.000 đồng, đây là
nợ riêng của chị H. Tuy nhiên, ông bà không yêu cầu chị H phải trả số tiền còn
nợ trong vụ án này.
Tại đơn đề nghị ngày 05/08/2025 ông Phùng Văn Ph và bà Vi Thị B trình
bày : Ông bà là bố mẹ của chị Phùng Thị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn,
tranh chấp con chung với anh Phạm Văn Q, sinh năm 1992 ; trú tại : Thôn C, xã
G, huyện G1 hiện tòa án đang thu lý. Chị H và anh Q tự do tìm hiểu và kết hôn
trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã G2 (nay là xã G3), huyện G1, tỉnh Hải
Dương đăng ký và cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng
chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân
là do vợ chồng không hợ nhau, khoongn có tiếng nói chung. Hai vợ chồng ly
thân từ năm 2022, không ai còn quan tâm đến ai. Sau khi biết chuyện mâu thuẫn
của cháu H, cháu Q ông bà đã khuyên cháu H quay về với cháu Q nhưng cuộc
sống vợ chồng không được cải thiện. Nay cháu H làm đơn ly hôn với cháu Q đề

4
nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại đơn trình bày của cháu Phạm Thuỳ L thể hiện: Sau khi bố mẹ ly hôn,
cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Tại Biên bản xác minh tại cơ sở thôn xác định: Chị Phùng Thị H, sinh năm
1992 và anh Phạm Văn Q, sinh năm 1992, đều có đăng ký hộ khẩu thường trú
tại thôn C, xã G, huyện G1, tỉnh Hỉa Dương ( nay là thôn C, xã G1, thành phố
Hải Phòng). Trong thời gian làm việc tại Lạng Sơn anh Q có quen biết với chị
Hạnh, cả hai cùng tìm hiểu và quyết đinh về chung sống với nhau và cùng đăng
ký kết hôn tại UBND xã G (nay là UBND xã G1, thành phố Hải Phòng). Sau khi
kết hôn, vợ chồng chị H anh Q cùng chung sống tại nhà chồng tại thôn C.Cuộc
sống vợ chồng vẫn hạnh phúc, địa phương không thấy chị Hạnh và anh Quang
có mâu thuẫn gifto tát để tham gia hòa giải. Sau đó chị H đi xuất khẩu lao động
tại Nhật Bản. Trong suốt quá trình chị H đi lao động thì vợ chồng anh Quang chị
Hạnh có phát sinh mâu thuẫn như thế nào thì thôn không rõ. Được biết gần đây
chị H đã về Việt Nam nhưng không thấy về chung sống với anh Quang tại thôn
Cao Lý.
Tại phiên tòa, chị Phùng Thị H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Phạm Văn Q vắng mặt có đề nghị xin xét xử
vắng mặt và giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Toà án.
Đại diện VKSND khu vực 11 – Hải Phòng phát biểu ý kiến: Việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX,
Thư ký Tòa án từ khi thu lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án đều được đảm bảo. Nguyên đơn và bị đơn đều chấp hành đầy đủ quy định của
pháp luật.
* Hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, Điều
147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình; Luật phí và
lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phùng Thị H,
cho chị H được ly hôn với anh Phạm Văn Q.
- Về con chung: Giao con chung là cháu cháu Phạm Thuỳ L, sinh ngày
07/3/2017; cháu Phạm Văn Kh, sinh ngày 13/7/2019 cho anh Q trực tiếp nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H về việc cấp
dưỡng số tiền 3.000.000 đồng/tháng để nuôi dưỡng hai con.
5
- Về án phí: Buộc chị Phùng Thị H phải chịu án phí Hôn nhân gia đình
theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phùng Thị
H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, giải quyết con chung
là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Bị đơn là anh Phạm Văn Q, trú tại: Thôn C, xã G1, thành phố Hải Phòng (cũ là
thôn C, xã G, huyện G1, tỉnh Hải Dương) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng theo quy định tại khoản 1
Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự.
[2] Về tố tụng: Chị Phùng Thị H và anh Phạm Văn Q đều có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H
và anh Q.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phùng Thị H và anh Phạm Văn Q kết hôn
trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã G, huyện G1, tỉnh Hải Dương
(nay là xã G1, thành phố Hải Phòng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày
29/8/2014, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình,
đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, các tài liệu, chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định:
Quá trình chung sống, chị Phùng Thị H và anh Phạm Văn Q đã phát sinh
mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt,
không có tiếng nói chung, hai bên không trao đổi, chia sẻ. Chị H xác định không
còn tình cảm với anh Q, hiện chị đang sống cùng bố mẹ đẻ tại Lạng Sơn. Quá
trình làm việc với tòa án, anh Q có quan điểm không đồng ý ly hôn nhưng không
có giải pháp nào để vợ chồng về đoàn tụ; trong trường hợp chị Hạnh kiên quyết
xin ly hôn thì anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
[5] Xét thấy quá trình chung sống, chị H và anh Q đã xảy ra mâu thuẫn,
đời sống vợ chồng lạnh nhạt, vợ chồng sống ly thân thời gian dài, đến nay mâu
thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân anh Q cũng
không có biện pháp tích cực để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ
chồng. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia
đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hạnh xử cho chị H được ly hôn anh
Q.
6
[6] Về con chung: Chị H và anh Q có 02 con chung là: Phạm Thuỳ L, sinh
ngày 07/3/2017 và Phạm Văn Kh, sinh ngày 13/7/2019; hiện nay đang ở với
anh Q. Chị H và anh Q đều có quan điểm sau khi ly hôn, anh Q sẽ trực tiếp
nuôi dưỡng cả hai con chung. Cháu Phạm Thuỳ L cũng có nguyện vọng được ở
cùng bố sau khi bố mẹ ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy cháu Phạm Thuỳ L đã trên 7 tuổi; cháu L trình bày
nguyện vọng xin được ở cùng bố; anh Q và chị H đều có quan điểm sau khi ly
hôn, anh Q sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Do đó, Hội đồng xét xử
chấp nhận yêu cầu của chị H và anh Q, giao cháu Phạm Thuỳ L và cháu Phạm
Văn Kh cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H trình
bày sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Linh với số tiền là 3.000.000
đồng/tháng. Anh Q có quan điểm yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi cháu Linh
với số tiền là 4.000.000 đồng/tháng. Xét thấy, chị H là lao động tự do, thu
nhập không ổn định nên việc cấp dưỡng cho cháu Linh với số tiền là
3.000.000 đồng/tháng là phù hợp với điều kiện kinh tế của chị H cũng như
đảm bảo điều kiện sống cơ bản đối với cháu Linh. Anh Q cũng trình bày nếu
chị Hạnh vẫn giữ nguyên quan điểm cấp dưỡng nuôi cháu L với số tiền là
3.000.000 đồng/tháng thì anh cũng tôn trọng ý kiến của chị H. Do vậy,
HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của chị H có trách nhiệm cấp dưỡng tiền nuôi
con chung đối với cháu Linh là 3.000.000 đồng/tháng.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh Q không có tài sản chung nên
không yêu cầu giải quyết.
[8] Về nợ riêng: Ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị Th không yêu cầu chị
Hạnh phải trả số tiền còn nợ trong vụ án này nên HĐXX không xem xét, giải
quyết.
[9] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị H và anh Phạm Văn Q được
quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271;
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm
2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định
7
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phùng Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phùng Thị H được ly hôn anh Phạm
Văn Q.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thuỳ L, sinh ngày 07/3/2017 và Phạm
Văn Kh, sinh ngày 13/7/2019 cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi mỗi con
trưởng thành.
3. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phùng
Thị H về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung đối với cháu Phạm Thuỳ L là
3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 8/2025 đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi.
Chị Hạnh có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn cản.
4. Về án phí: Chị Phùng Thị H phải chịu 300.000
đ
án phí ly hôn sơ thẩm, đư-
ợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000
đ
theo biên lai số
0000747 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc, tỉnh Hải
Dương (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 – Hải Phòng). Chị Phùng Thị H
đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Chị Phùng Thị Hạnh và anh Phạm Văn Quang
được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án
hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 11 – Hải Phòng;
- Phòng THA dân sự khu vực 11 – Hải Phòng;
- Cục THA dân sự thành phố Hải Phòng;
- UBND xã Gia Lộc – Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu VP;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Khánh Thiện
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 26/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Bản án số 51/2025/HNGĐ ngày 22/12/2025 của TAND tỉnh Thanh Hóa về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 22/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 20/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm