Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 25/12/2024 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 107/2024/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 107/2024/HNGĐ-ST ngày 25/12/2024 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Mỹ Tú (TAND tỉnh Sóc Trăng) |
Số hiệu: | 107/2024/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 25/12/2024 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỸ TÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 107/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-12-2024
V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Ông Lý Thanh Chiều.
- Thư ký phiên Tòa: Bà Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa: Bà
Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ
Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 238/2024/TLST-
HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng
11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc C;
Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoài P;
Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 7 năm 2024 cũng như trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc C và anh Nguyễn Hoài P có tổ
chức lễ cưới vào đầu năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã
Hưng Phú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng vào ngày 02 tháng 12 năm 2008, sau
khi kết hôn thì anh chị sống tại ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian
đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau rất vui vẻ và hạnh phúc. Nhưng vài
năm nay vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất
2
đồng về quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã. Từ khi xảy ra mâu
thuẫn chị C và anh P đã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không
được. Chị Cnhận thấy vợ chồng không hàn gắn được nên đã sống ly thân, khi
sống ly thân chị C và anh P không thường xuyên liên lạc cũng như không gặp
mặt nhau. Nay chị Cnhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, anh chị
không còn thương yêu nhau nên chị Cyêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với
anh Nguyễn Hoài P.
Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai trong thời gian chung sống, chị
C và anh P có 02 (hai) người con chung là Nguyễn Đăng K(Nam, sinh ngày
17/11/2011), Nguyễn Minh T(Nam, sinh ngày 26/6/2017), hiện nay cháu K và
cháu T đang sống với chị Cẩm. Sau khi ly hôn chị Cyêu cầu được tiếp tục trực
tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng K(Nam, sinh ngày 17/11/2011), Nguyễn
Minh T(Nam, sinh ngày 26/6/2017) cho đến khi cháu K và cháu T đủ 18 (mười
tám) tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Ngọc C không yêu cầu anh Nguyễn
Hoài P cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày 17/11/2011),
Nguyễn Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017) vì hiện nay chị C có khả năng, điều
kiện nuôi dưỡng cháu K và cháu T.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai không có,
không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoài P: Sau khi thụ lý, Tòa án đã tóm tắt nội
dung đơn khởi kiện và các yêu cầu của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C tại
Thông báo thụ lý vụ án số: 400/TB-TLVA, ngày 04 tháng 10 năm 2024 và đã
tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Nguyễn Hoài P, cũng như đã triệu tập hợp lệ anh
Phương đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
và hòa giải hai lần nhưng anh Phương đều không đến dự phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Sau đó Tòa án đã Thông báo
về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho
anh Phương nhưng anh Phương không gửi văn bản ghi ý kiến của anh Phương
đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của chị Trần Thị Ngọc C.
Tại biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên lập ngày 13
tháng 11 năm 2024, cháu Nguyễn Đăng K và cháu Nguyễn Minh T trình bày:
Hiện nay các cháu đều sống với chị Cvà ông bà ngoại, cuộc sống của các cháu
hiện nay ổn định. Nếu cha mẹ ly hôn thì các cháu đều có nguyện vọng được tiếp
tục sống với mẹ là chị Trần Thị Ngọc C cùng với ông bà ngoại của các cháu.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú,
tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ
3
pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự,
việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được
đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu,
việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn anh Nguyễn Hoài P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng cả hai
lần đều vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3
Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử
vụ án.
[2] Về thủ tục thụ lý việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Trần Thị Ngọc C cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn chị
Trần Thị Ngọc C nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn khởi
kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử lý
đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C và thụ lý vụ án đúng quy
định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa nguyên đơn chị Trần Thị
Ngọc C và bị đơn anh Nguyễn Hoài P, có nơi cư trú tại ấp P, xã H, huyện M,
tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a
khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xác
định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết vụ án
theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết
vụ án.
[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc C và bị đơn anh Nguyễn
Hoài P xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và có
đủ điều kiện kết hôn. Do đó việc chị Trần Thị Ngọc C và anh Nguyễn Hoài P
tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã Hưng Phú, huyện Mỹ Tú, tỉnh
Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 02 tháng 12 năm 2008 là
hoàn toàn đúng theo đúng quy định pháp luật cho nên được pháp luật công nhận
đây là hôn nhân hợp pháp và cần giải quyết hậu quả phát sinh từ cuộc hôn nhân
này.
Trong quá trình chung sống theo chị Ctrình bày do vợ chồng bất đồng quan
4
điểm sống, thường xuyên cãi vã và không tìm được tiếng nói chung trong đời
sống hôn nhân. Chị C và anh Pđã sống ly thân một thời gian, khi xảy ra mâu
thuẫn chị Cđã nhiều lần hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được và vợ
chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị C và anh Pkhông còn chung sống
với nhau như vợ chồng, anh chị đều có công việc riêng và có cuộc sống riêng
không ai quan tâm, chăm sóc cho ai. Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá
trình giải quyết vụ án chị Cvẫn cương quyết xin ly hôn với anh Nguyễn Hoài P.
Hội đồng xét xử xét thấy theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 của Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 “vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công
việc trong gia đình”. Đối chiếu với quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh Pthì
hiện nay, chị C và anh Psống ly thân, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Do đó,
Hội đồng xét xử thấy rằng thực trạng mâu thuẫn giữa chị C và anh Pđã đến mức
trầm trọng, hiện nay anh chị không còn sống chung với nhau như vợ chồng, anh
chị không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản
1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu của chị Trần Thị Ngọc C.
[5] Về con chung: Xét yêu cầu của chị Trần Thị Ngọc C yêu cầu được
tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày
17/11/2011), Nguyễn Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017) cho đến khi cháu K và
cháu T đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2014 có quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực
tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường
hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp
nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì
phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy, từ khi chị C và anh Psống ly
thân cho đến nay thì cháu K và cháu T đều do chị C trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng về tâm lý phát triển bình thường, được đi học đầy đủ. Tại biên bản ghi
nhận ý kiến của cháu K và cháu T thì các cháu đều có nguyện vọng được tiếp
tục sống chung với chị Trần Thị Ngọc C.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự
phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng như tâm sinh lý của
cháu Nguyễn Đăng K và cháu Nguyễn Minh T nên việc giao cháu K và cháu T
cho chị Trần Thị Ngọc C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các
Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét
xử tiếp tục giao cháu Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày 17/11/2011), Nguyễn
Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017) cho chị Trần Thị Ngọc C tiếp tục trực tiếp
nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 (mười tám) tuổi. Anh Nguyễn Hoài P
được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Phương thực hiện
quyền này, theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng
5
nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh Nguyễn Hoài P là người không trực tiếp nuôi con thì
phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị
C cho rằng hiện nay chị Ccó công việc làm ổn định, thu nhập hằng tháng của chị
Cđảm bảo nên chị Ccó khả năng, điều kiện để nuôi dưỡng các con chung nên chị
C tự nguyện không yêu cầu anh Phương cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Đăng
K(Nam, sinh ngày 17/11/2011), Nguyễn Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017).
[7] Về tài sản chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai không có, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra để xem xét.
[8] Về nợ chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai không có, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra để xem xét.
[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên là có căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 4 Điều 147
của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4
Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều
273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về
hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ngọc C được ly hôn với anh Nguyễn
Hoài P.
2. Về con chung:
2.1 Giao con chung tên Nguyễn Đăng K(Nam, sinh ngày 17/11/2011),
Nguyễn Minh T(Nam, sinh ngày 26/6/2017) cho chị Trần Thị Ngọc C trực tiếp
6
nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày 17/11/2011),
Nguyễn Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017) đủ 18 (mười tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai có khả năng, điều
kiện nuôi dưỡng cháu Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày 17/11/2011), Nguyễn
Minh T (Nam, sinh ngày 26/6/2017) và tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn
Hoài P cấp dưỡng nuôi cháu K và cháu T nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
2.3 Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Hoài P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung tên Nguyễn Đăng K (Nam, sinh ngày 17/11/2011), Nguyễn Minh T
(Nam, sinh ngày 26/6/2017), chị Trần Thị Ngọc C cùng các thành viên trong gia
đình không được cản trở. Anh Nguyễn Hoài P không được lạm dụng việc thăm
nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân
và Gia đình năm 2014.
3. Về tài sản chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai không có nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: Chị Trần Thị Ngọc C tự khai không có nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Ngọc C phải chịu
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ
vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp
tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo Biên lai thu
tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006454 ngày 16 tháng 9 năm 2024, chị Trần
Thị Ngọc C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn; bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai
để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện
kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận
- Các đương sự;
- VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
- TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
- UBND xã Hung Phú, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc
Trăng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thu Hồng
7
8
9
10
11
12
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm