Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 25/12/2024 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 105/2024/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 25/12/2024 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỹ Tú (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 105/2024/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỸ TÚ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-12-2024
V/v không công nhận quan hệ vợ chồng,
tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Duy Tân.
Ông Nguyễn Văn Kiệt.
- Thư ký phiên tòa: Trương Thị Anh Thư là thư ký Tòa án nhân huyện
Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa:
Triệu Thị Mộng Lý– Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ
Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xthẩm công khai vụ án thụ số: 230/2024/TLST-
HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc không công nhận quan hệ vợ chồng,
tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
220/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị Phương L;
Địa chỉ: ấp T, Phường N, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Võ Cà L;
Địa chỉ: ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04 tháng 9 năm 2024 cũng như trong qtrình
giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị Phương L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2007, chị Trương Thị Phương L anh
L tổ chức lễ cưới nhưng chị L anh Lkhông đi đăng kết hôn theo
quy định của pháp luật. Hôn nhân của chị L anh L được xây dựng trên cơ sở
tự nguyện, không bị ai bắt buộc. Sau khi tổ chức lễ cưới, chị L anh L chung
sống tại p P, M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu vợ chồng chị L
2
anh L chung sống hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu
thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống,
anh L thường xuyên cờ bạc. Chị L và anh L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024
đến nay, khi sống ly thân chị L anh L mỗi người đều công việc cuộc
sống riêng, không ai quan tâm ai. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không
còn nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng
giữa chị L và anh L.
Về con chung: Trong thi gian chung sống, chị L anh L 01 (một)
người con chung Võ Gia S (nam, sinh ngày 10/6/2008), sau khi ly hôn chị L
yêu cầu đưc trc tiếp nuôi dưng con chung là Gia S cho đến khi cháu S đủ
18 (mưi tám) tuổi.
V cấp dưỡng nuôi con: Chị L tự khai khả năng, điều kiện nuôi dưỡng
cháu Gia S(nam, sinh ngày 10/6/2008) tự nguyện không yêu cầu anh L
cấp dưỡng nuôi cháu S.
Về tài sản chung: Chị L tự khai không , không yêu cầu Tòa án xem xét
giải quyết.
Về nchung: Chị L tkhai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải
quyết.
Tại phiên toà bị đơn anh Võ Cà L trình bày:
Anh L thống nhất với lời trình bày của chị L về quan hệ hôn nhân, anh L
chị L chung sống với nhau vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới nhưng anh L
chị L không đăng kết hôn theo quy định pháp luật. Theo anh trình bày trong
thời gian chung sống vợ chồng anh chị ng không mâu thuẫn . Như lời trình
bày của chị L anh thống nhất có tham gia cờ bạc trên mạng, gây nợ nhiều lần
hơn 2 tỷ, những sau đó được gia đình chị L trả xong nợ. Ngoài ra thì vợ
chồng không còn nguyên nhân mâu thuẫn nào khác. Theo yêu cầu Toà án giải
quyết không công nhận anh chị L vợ chồng thì quan điểm của anh L thì
anh không đồng ý anh rất thương vợ và thương con anh mong được hàn gắn
tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, nếu chị L vẫn kiên quyết yêu cầu chấm dứt cuộc
sống vợ chồng với anh thì anh đồng ý.
- Vcon chung: Thống nhất với lời trình bày của chị L trong thời gian
chung sống anh L chL 01 người con chung cháu Gia S (nam, sinh
ngày 10/6/2008). Nếu Toà án ra quyết định không công nhận anh L và chị L
vợ chồng tanh L đồng ý theo nguyện vọng của cháu S, giao cháu S cho chị
Ltrực tiếp nuôi dưỡng và anh L không cấp dưỡng nuôi cháu S.
- V tài sn chung, n chung thng nht vi li trình y ca ch L không
có, không u cu Toà án gii quyết.
Tại Biên bản ghi ý kiến nguyện vọng của con chưa thành niên đối với cháu
Võ Gia Sang, lập ngày 19 tháng 11 năm 2024 cháu S trình bày: Hiện nay cháu S
đang học lớp 11, tại Trường trung học phổ thông Ngã Năm, sau khi cha mly
hôn cháu S có nguyện vọng sống với chị L.
3
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đại din Vin kim sát nhân dân huyn M ,
tỉnh Sóc Trăng trình bày ý kiến như sau:
V th tc t tng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của
Bộ luật T tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ vụ án, quan hệ
pháp luật tranh chấp, xác định đúng cách tham gia tố tụng của các đương sự,
việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được
đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu,
việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xchấp nhận toàn byêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Phương L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trương Thị Phương L vắng mặt và
đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3
Điều 228 của Bộ luật Ttụng dân sự, Hội đồng xét x vẫn tiến hành xét xử vụ
án.
[1.2] Về thủ tục thụ việc khởi kiện của nguyên đơn: Tòa án nhân dân
huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng nhận được đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn chị Trương Thị Phương L cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo do nguyên đơn
chị Trương Thị Phương L nộp trực tiếp tại Tòa án. Ngay sau khi nhận được đơn
khởi kiện các tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án thực hiện thủ tục nhận, xử
đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Phương L thụ ván
đúng quy định tại Điều 191 và Điều 195 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Trương Thị
Phương L yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vchồng, tranh
chấp về nuôi con giữa chTrương Thị Phương L và bđơn anh L trú
tại ấp P, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Căn cứ khoản 7, 8 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015. Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc
Trăng thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tthẩm đúng quy định của pháp
luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Phương L và anh L
xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới nhưng không
đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật. Trong quá trình chung sống theo
4
chị Ltrình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh L thường xuyên cờ
bạc. Chị L anh L đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2024 đến nay, khi chị L
anh Lsống ly thân thì anh chị không ai quan tâm chăm sóc cho ai. Nay chị
Trương Thị Phương L yêu cầu Toà án giải quyết tuyên bố không công nhận chị
Trương Thị Phương L và anh Võ Cà L là vợ chồng.
Xét thấy, chị Trương Thị Phương L, anh L sống chung với nhau
như vợ chồng vào năm 2007 đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng kết
hôn vi phạm khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000. Mặc
khác, theo điểm b khoản 3 Nghquyết số 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của
Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân gia đình năm 2000 thì: “Nam nữ
chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01
tháng 01 năm 2001, đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì
nghĩa vụ đăng kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này
hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này họ không
đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly
hôn của Luật hôn nhân gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01
tháng 01 năm 2003 họ không đăng kết hôn thì pháp luật không công
nhận họ là vợ chồng”. Nên việc chị Trương Thị Phương L yêu cầu không công
nhận quan hệ giữa chị L và anh L là vợ chồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử
chấp nhận.
[2.2] Vcon chung: Xét yêu cầu của chị Trương Thị Phương L được tiếp
tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Gia S (nam, sinh ngày 10/6/2008)
đến đủ 18 (mười tám) tuổi. Hội đồng xét xử thấy, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn
nhân Gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực
tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường
hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp
nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì
phải xem xét nguyện vọng của con”. Nhận thấy tại biên bản ghi nhận ý kiến
cháu S thì cháu nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ chị Trương
Thị Phương L.
Theo đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết vụ án chị L yêu cầu
được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Gia S (nam, sinh ngày 10/6/2008) cho đến
khi cháu S đủ 18 (mười tám) tuổi không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu
Võ Gia S.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nhằm để đảm bảo sự
phát triển lành mạnh về thể chất, ổn định cuộc sống cũng ntâm sinh cũng
như theo nguyện vọng của cháu S nên việc giao cháu S cho chị Trương Thị
Phương L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, căn cứ vào các Điều 81, Điều
82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Hội đồng xét xtiếp tục giao
cháu Võ Gia S(nam, sinh ngày 10/6/2008) cho chị Ltiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng
cho đến khi cháu S đủ 18 (mười m) tuổi. Bị đơn anh L được quyền thăm nom
con chung, không ai được cản trở anh L thực hiện quyền y, theo quy định tại
Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
5
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân Gia đình
năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con”. Đáng lẽ ra, anh L người không trực tiếp nuôi các con thì phải
nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án chị Ltrình
bày, hiện tại chị Lcó việc làm n định, đảm bảo để nuôi cháu S nên chị Lkhông
yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu S. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
[2.3] Về tài sản chung: Nguyên đơn chị Trương Thị Phương L bị đơn
anh L tự khai không , không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng
xét xử không đặt ra để xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Nguyên đơn chị Trương Thị Phương L bị đơn anh
L tự khai không , không yêu cầu a án giải quyết nên Hội đồng xét
xử không đặt ra để xem xét.
[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên như đã nhận định nêu trên căn cứ
nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị Phương L phải chịu 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, theo quy định tại khoản 4
Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 7, 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản
4 Điều 147, điểm khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271,
Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; khoản 1
Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm b khoản
3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09-6-2000 của Quốc hội về việc thi hành
Luật hôn nhân và gia đình 2000.
- Căn cứ Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024
hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vviệc về
hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Phương L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Trương Thị Phương L
6
anh Võ Cà L vợ chồng.
2. Về nuôi con chung:
2.1 Giao con chung tên Gia S (nam, sinh ngày 10/6/2008) cho chị
Trương Thị Phương L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu S đủ 18 (mười
tám) tuổi.
2.2 Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Phương L tự khai có khả năng,
điều kiện nuôi dưỡng cháu Gia S(nam, sinh ngày 10/6/2008) tự nguyện
không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi cháu Gia Snên Hội đồng xét xử
không đặt ra xem xét.
2.3 Sau khi ly hôn, anh L quyn, nghĩa v thăm nom con chung
tên Gia S (nam, sinh ngày 10/6/2008), chị Trương Thị Phương L cùng các
thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh L không được lạm
dụng việc thăm nom con chung đ cản trở hoặc gây nh hưởng xấu đến việc
trông nom, chăm sóc, ni ng, giáo dc con chung theo quy định tại Điều 82
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
3. Về i sản chung: Trương ThPhương L anh L tự khai không
, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về nợ chung: ChTrương Thị Phương L anh L tự khai không
, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị Phương L phải
chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ vào số
tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí thẩm đã nộp tại Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng theo biên lai thu tiền số
0006484 ngày 02 tháng 10 năm 2024, nguyên đơn chị Trương Thị Phương L đã
nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Nguyên đơn quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai; Bị đơn
quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án
để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Viện
kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người
phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); thời
hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Nơi nhận
- Các đương sự;
- VKSND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
- Chi cục THADS huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
- TAND tỉnh Sóc Trăng (Phòng KTNV&THA);
- Lưu hồ sơ vụ án;
Nguyễn Thu Hồng
8
9
Tải về
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất