Bản án số 10/2017/DSST ngày 21/09/2017 của TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 10/2017/DSST

Tên Bản án: Bản án số 10/2017/DSST ngày 21/09/2017 của TAND huyện An Lão, TP. Hải Phòng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện An Lão (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 10/2017/DSST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/09/2017
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Tßa ¸n nh©n d©n
HuyÖn An L·o
Thµnh phè H¶i Phßng
Bản án số: 10/2017/DSST
Ngày 21-9-2017
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Céng hßa x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
§éc lËp Tù do H¹nh phóc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Đàm Công Du;
2- Bà Trần Thị Thanh.
- Thư phiên tòa: Ông ơng Đăng Bùi - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện
An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An o, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Ông Phùng Huy Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2017 tại trụ sTòa án nhân dân huyện An Lão, thành
phố Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 10/2017/TLST-DS
ngày 25 tháng 4 năm 2017 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 974/2017/QĐST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2017; Quyết định
hoãn phiên tòa số 1016/QĐ-HPT ngày 08 tháng 9 năm 2017; Quyết định tạm
ngừng phiên tòa số 1030/QĐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984, trú tại: Thôn L, T, huyện
A, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền: Phạm Thị N, sinh năm 1955, trú tại: số V,
thị trấn A, huyện A, thành phố Hải Phòng
(Văn bản y quyền ngày 10 tháng 8 năm 2017 xác nhận của Ủy ban nhân
dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng)
Có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông Lương Văn R, sinh năm 1957 và vợ là Hoàng Thị L, sinh năm
1958; Đều trú tại: Thôn L, T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt tại
phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13 tháng 04 năm 2017, bản tự khai cũng như
trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T người đại
diện hợp pháp của nguyên đơn là Phạm Thị N trình bày:
Gia đình chị Nguyễn Thị T gia đình ông Lương Văn R vợ Hoàng
Thị L là hàng xóm liền kề nhau.
Gia đình ChT diện tích đất này nguồn gốc trước kia là của gia đình ông
Hoàng Văn P, gia đình Ông P chuyển nhượng toàn bộ nhà đất cho gia đình Chị T
vào năm 2008.
Gia đình ông Hoàng Văn P gia đình Ông R, L trước kia có sử dụng ngõ
đi chung chiều rộng khoảng 2m từ đường 357 qua diện tích ao mới vào trong
diện tích đất của ông P Ông R, L. Gia đình Ông R, L mua diện tích ao
giáp ngõ đi sau đó san lấp như diện tích hiện nay. Do ngõ đi chung cắt diện tích đất
ở cũ và diện tích đất mới mua của Ông R, Bà L làm hai. Gia đình ông P và gia đình
Ông R, L thỏa thuận miệng với nhau đổi đất đlàm ngõ đi chung hiện nay
chiều rộng 1,9m từ đường 357 vào trong diện tích đất của hai nhà. Mục đích
để gia đình Ông R diện tích đất liền với nhau, ngõ đi của hai gia đình ra đến
đường 357 được gần hơn. Hai gia đình sử dụng ổn định từ đó đến năm 2008 thì gia
đình Ông P chuyển nhượng diện tích đất cho gia đình ChT sử dụng. Gia đình
Chị T và gia đình Ông R, Bà L sử dụng đến năm 2016 thì Ông R và vợ là Bà L xây
dựng bức tường lấn chiếm phần nđi chung phía trong chiều dài khoảng 10,
chiều rộng khoảng 0,6m. Các bên xảy ra tranh chấp, Chị T đơn đề nghchính
quyền địa phương giải quyết rất nhiều lần nhưng không kết quả, nay Chị T
đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Ông R vợ L phải phá bức
tường xây trên diện tích chiều dài khoảng 10m, chiều rộng 0,6m để làm ngõ
đi chung của hai gia đình.
Tại văn bản trình bày ý kiến và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông
Lương Văn R và vợ là bà Hoàng Thị L trình bày:
Diện tích đất ngõ đi từ gia đình Ông R, L gia đình Chị T ra đường 357
là ngõ đi chung của hai gia đình. Trước đó ngõ đi này của gia đình Ông R. L
với gia đình ông Hoàng Văn P. Sau đó Ông P bán nhà đất cho vợ chồng ChT, hai
gia đình vẫn sử dụng ngõ đi chung này. Ngõ đi chung chiều dài từ nhà của gia
đình Ông R gia đình Chị T ra đến đường 357 còn chiều rộng bao nhiêu thì
ông, không biết. Năm 2016 Ông R, L xây dựng bức tường chiều dài
khoảng 11m trên phần đất của gia đình Ông R mua từ năm 1996 hiện chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay Chị T đơn khởi kiện đòi lại phần
đất làm ngõ đi chung là không đúng, đề nghị Tòa án xem xét.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn Phạm Thị N trình bày: Giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Ông R và vợ là Bà L phá
bức tường xây để trả diện tích đất ngõ đi chung của hai gia đình chiều dài
khoảng 11m, chiều rộng khoảng 0,6m. Ông R và Bà L phải trả lại cho bà số tiền đo
đạc và định giá tài sản là 3.000.000đ (ba triệu đồng).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão tại phiên tòa có quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ cũng như diễn biến tại phiên tòa Thẩm phán, Hội
đồng xét xử tuân thủ quy định của Pháp luật tố tụng, đảm bảo cho các đương sự
được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung khởi kiện: Áp dụng khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 Luật
đất đai năm 2013; Điều 174, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị
Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị T, buộc Ông R và vợ là L
phải dỡ bỏ bức tường bao trả lại nguyên trạng cho ngõ đi chung. Ông R vợ
L phải trả lại cho ChT số tiền định giá tài sản 3.000.000đ. Về án phí: Gia
đình Ông R phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án về việc tranh chấp quyền sử
dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 25 Bộ luật Tố tụng dân sự Điều 203
Luật đất đai năm 2013 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An
Lão, thành phố Hải Phòng.
Về tố tụng: Bị đơn L vắng mặt tại phiên tòa mặc Tòa án nhân n
huyện An Lão tống đạt hợp lệ đến phiên tòa ngày 08 tháng 9 năm 2017; phiên tòa
ngày 14 tháng 9 năm 2017 và phiên tòa ngày hôm nay nhưng L vắng mặt. Ông
R đã được tống đạt hợp lệ văn bản tạm ngừng phiên tòa hôm nay nhưng vẫn vắng
mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng
dân sự xét xử vắng mặt ông Lương Văn R, bà Hoàng Thị L.
[2]. Về nội dung xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị T như sau:
Hộ gia đình Chị T và hộ gia đình Ông R và vợ là Lụa sử dụng diện tích đất
giáp nhau sử dụng ngõ đi chung từ nra đường 357. Chị T, Ông R vợ là
Bà L đều xác nhận ngõ là ngõ đi chung của hai gia đình ra đường 357.
Năm 2016 Ông R vợ L xây dựng bức tường bằng gạch chỉ dài 11m,
cao 2m, rộng 0,1m thì xảy ra tranh chấp giữa các bên đương sự. ChT cho rằng
Ông R, L xây bức tường lấn đất ngõ đi chung chiều dài 11m, chiều rộng
khoảng 0,6m nên có đơn đề nghị với chính quyền địa phương giải quyết, Ông R và
L vẫn tiếp tục xây dựng. Nay Chị T đề nghị Tòa án xét xử buộc Ông R, L
phải phá bức tường trả lại diện tích đất chiều dài 11m, chiều rộng 0,6m để làm
ngõ đi chung của hai gia đình. Ông R vL không chấp nhận bởi Ông
R, L xây dựng bức tường trên diện tích đất Ông R, L đã mua không lấn
vào diện tích đất ngõ đi chung.
Vậy diện tích đất hiện Ông R, L xây bức tường lấn ra ngõ đi chung của
hộ gia đình Chị T với gia đình hộ Ông R, Bà L hay không?
Căn cứ bản đồ địa chính năm 1995 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành
phố Hải Phòng thể hiện ngõ đi chung của hai hộ gia đình ông Hoàng Văn P
hộ gia đình Ông R vợ L chiều rộng là 2m đi qua cái ao để đi ra đường
357. Theo Ông R, L trình bày năm 1996 Ông R, L mua diện tích ao san
lấp thành diện tích đất như hiện nay. Sau khi Ông R, L san lấp ao thì gia đình
Ông R, L sử dụng diện tích đất thành hai mảnh khác nhau bởi ngõ đi chung của
hai gia đình. Giữa gia đình ông Hoàng Văn P hộ gia đình Ông R, L thỏa
thuận đổi đất của Ông R, L làm ngõ đi của hai gia đình như hiện nay. Diện tích
đất của Ông R, L thành một diện tích liền nhau. Ngõ đi chung được sử dụng
chung hai gia đình Ông P Ông R, L. Việc chuyển đổi nay không qua chính
quyền địa phương xác nhận. Năm 2008 Ông P chuyển nhượng diện tích nhà đất
ở cho vợ chồng Chị T. Vợ chồng Chị T và Ông R, Bà L sử dụng đến năm 2016 xảy
ra mâu thuẫn. Theo sổ địa chính năm 1995 của Ủy ban nhân dân T tại thửa số
40 bản đồ số 196-C-2 Ông R vợ L sdụng 81 m
2
chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất nhưng thực tế đo đạc diện tích đất hiện nay Ông R
và vợ là L sử dụng là 100m
2
. Diện tích đất ngõ đi của giữa Ông P vợ chồng
Ông R, Bà L theo sơ đồ địa chính năm 1995 có chiều rộng là 2m. Theo lời khai của
Ông P trình bày khi đổi đất diện tích đất ngõ đi hiện nay chiều rộng tương tự
như ngõ khoảng 2m. Đo đạc thực tế hiện nay ngõ đi chung giữa gia đình Chị
T gia đình Ông R, L có chiều rộng giáp đường 357 2,3m, chiều rộng phía
trong ngõ là 1,35m. Như vậy có cơ sở để xác định Ông R và vợ là Bà L đã xây bức
tường chiếu dài 11, cao 2m, rộng 0,1m lấn ra diện tích đất ngõ đi chung
chiều dài 11m, chiều rộng phía ngoài đường là 0,2m chiều giáp đất Ông R, L
0,6m.
Tòa án nhân dân huyện An Lão đã tiến hành hòa giải rất nhiều lần bức
tường Ông R, L xây ra phần đất ngõ đi chung không nhiều các bên đương sự
không thỏa thuận được. Qua xác minh thực tế diện tích đất ngõ đi chung rất hẹp,
hiện tại gia đình Chị T gia đình Ông R, L đang sử dụng đi chung. Gia đình
Chị T và gia đình Ông R, Bà L sử dụng đều không đáp ứng được việc đi lại của hai
gia đình. Do vậy cần buộc Ông R vợ L phải tháo dỡ bức tường xây có
chiều dài 11m, chiều cao 2m, chiều rộng 0,1m để trả lại diện tích đất ngõ đi
chung chiều dài 11m, chiều rộng giáp nhà Ông R, L (phía trong) là 0,6m
chiều rộng phía ngoài ngõ 0,2m (có đồ kèm theo) căn cứ phù hợp
pháp luật.
Về số tiền định giá tài sản là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Do yêu cầu khởi kiện
của chị Nguyễn Thị T được chấp nhận nên ông Lương Văn R vợ Hoàng
Thị L phải có trách nhiệm trả lại số tiền này cho chị Nguyễn Thị T.
Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Chị T được chấp nhận nên Chị T không
phải chịu án phí dân sự, hoàn trả lại cho Chị T số tiền tạm ứng án phí n sự đã
nộp.
Bị đơn là Ông R vợ là Bà L phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 174; Điều 175 và Điều 176 Bộ luật dân sự 2015.
Điều 170; Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
Buộc ông Lương Văn R vHoàng Thị L phải tháo dỡ bức tường xây
có chiều dài 11, chiều cao 2m, chiều rộng 0,1m tại thửa đất số 40 tờ bản đồ số 196-
C-2 thôn L, T, huyện A, thành phố Hải Phòng để trả lại diện tích đất lấn ra ngõ
đi chung của gia đình ông Lương Văn R vợ là Hoàng Thị L gia đình chị
Nguyễn Thị T có ví trí, kích thước như sau:
- Chiều rộng giáp ngõ phía mặt đường 357 dài 0,2m.
- Chiều rộng giáp ngõ phía trong dài 0,6m
- Chiều dài giáp ngõ đi chung là 11m.
- Chiều dài giáp nhà ông Lương Văn R và vợ là bà Hoàng Thị L11m
(Có sơ đồ kèm theo).
Ông Lương Văn R vợ Hoàng Thị L phải trả lại cho chị Nguyễn Thị T số
tiền định giá tài sản là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Về án phí: Ông Lương Văn R và vợ là bà Hoàng Thị L phải nộp 300.000đ (ba
trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho chNguyễn Thị T số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0002491 ngày 21 tháng 4 năm 2017 của
Chi cục thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
Kể từ ngày bản án này hiệu lực pháp luật, chị Nguyễn Thị T đơn yêu
cầu thi nh án, nếu ông Lương Văn R vợ Hoàng Thị L không thi hành
khoản tiền trên thì hàng tháng ông Lương Văn R và vợ là bà Hoàng Thị L còn phải
trả thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 1
Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trong trường hợp quyết định được thi hành theo đúng quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a Điều 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ
sung năm 2014. Thời hạn thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nguyên đơn mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
N¬i nhËn:
- TAND thµnh phè H¶i Phßng;
- VKSND huyÖn An L·o;
- Chi côc Thi hµnh ¸n huyÖn An L·o.
- §-¬ng sù.
- L-u hå s¬;
- L-u VP.
T.M héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NguyÔn V¨n H¶i
Tải về
Bản án số 10/2017/DSST Bản án số 10/2017/DSST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất