Bản án số 08/2026/HC-ST ngày 06/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/HC-ST

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/HC-ST ngày 06/08/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 08/2026/HC-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 08/2026/HC-ST
Ngày 06-8-2026
V/v khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực thu hồi đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Khúc Thị Minh
2. Bà Tạ Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Nhật Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 6 - Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 tháng 7 và ngày 06 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án
nhân dân khu vực 6 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số
08/2025/TLST-HC, ngày 06 tháng 11 năm 2025 về “khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực thu hồi đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
10/2026/TLST-HC ngày 05 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A, cùng địa chỉ:
Số nhà 195 đường số 30, khu phố 19, phường TH, thành phố Hồ Chí Minh; ông
Tiến có mặt, bà Ánh vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Công ty Luật TNHH HQC;
địa chỉ trụ sở: Số 102 đường LH, phường HN, tỉnh Ninh Bình; là người đại diện
theo ủy quyền của người khởi kiện (văn bản ủy quyền ngày 10/10/2025).
Người đại diện tham gia tố tụng:
- Ông Phạm Bá Ngọc H, Luật sư Công ty Luật TNHH HQC; có mặt;
- Ông Phạm Minh H1, Luật sư Công ty Luật TNHH HQC; có mặt.
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK.
2
Địa chỉ: Số 869 đường PVĐ, phường DK, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Đào Hữu C - Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân phường DK; địa chỉ: Số 869 đường PVĐ, phường DK, thành phố
Hải Phòng (theo văn bản số 1860/UBND-KTHTĐT ngày 24/11/2025); có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Đặng Minh
T1 - Chuyên viên phòng Xây dựng và Môi trường - Ủy ban nhân dân phường DK;
địa chỉ: Số 869 đường PVĐ, phường DK, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong các đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung, các lời khai trong
hồ sơ và tại phiên tòa, người khởi kiện trình bày:
- Ông Trần Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A là chủ sử dụng thửa đất số 591, tờ
bản đồ số 2, diện tích 1225 m
2
, mục đích sử dụng: đất ở; địa chỉ: thôn HP, xã HN,
huyện KT, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố HP, phường DK, thành phố
Hải Phòng) được Ủy ban nhân dân huyện KT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số AC 031009 ngày 24/11/2005 cho chủ sử dụng đất là ông Đỗ Hùng V và vợ
là Lê Thị N; ngày 30/12/2022 đã đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông Trần
Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A.
- Ngày 29/07/2024 UBND quận DK ban hành quyết định số 1914/QĐ-
UBND Về việc thu hồi đất thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới tại khu
vực quận DK và huyện KT và Quyết định số 1855/QĐ-UBND về việc Phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất. Cụ thể: thu hồi
1225 m
2
đất ở; 712,4 m
2
đất trồng cây hằng năm của hộ ông bà Trần Quang T và
Vũ Thị Ngọc A thuộc thửa đất số 72, mảnh số 2, mảnh trích đo địa chính số:
TDD617-2023, tỷ lệ 1/1000 do Sở tài nguyên và Môi trường ký duyệt ngày
27/11/2023. Tổng số tiền hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A nhận được là
7.891.578.481 đồng (số tiền bồi thường người khởi kiện chưa nhận). Trong đó:
+ Đối với 1225 m
2
đất ở được bồi thường về đất 7.509.250.000 đồng và bồi
thường vật kiến trúc 289.716.481 đồng;
+ Đối với 712,4 m
2
đất trồng cây hằng năm đã được bồi thường đất nông
nghiệp, trồng lúa, trồng cây hàng năm khác 92.612.000 đồng.
- Tuy nhiên, đối với việc thu hồi 1225 m
2
đất ở hộ ông Trần Quang T và bà
Vũ Thị Ngọc A không đồng ý nhận bồi thường bằng số tiền và yêu cầu được bồi
thường thêm về cây trồng trên đất, bởi những căn cứ sau:
+ Về yêu cầu bồi thường cây trồng lâu năm trên 1225 m
2
đất ở: Theo khoản
1 Điều 90 Luật Đất đai 2013 quy định khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại
đối với cây trồng thì được bồi thường bằng giá trị hiện có của vườn cây theo giá ở
3
địa phương tại thời điểm thu hồi đất. Tuy nhiên Quyết định số 1855/QĐ-UBND về
việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất chưa
có tính thêm giá trị bồi thường đối với tài sản trên đất là cây cối của ông Trần Quang
T, bà Vũ Thị Ngọc A. Số lượng, giá trị cây trồng trên diện tích đất 1225 m
2
đất ở
được thể hiện tại bút lục số 133 trong hồ sơ, với giá trị là 14.940.000 đồng.
+ Về yêu cầu thay đổi phương án bồi thường từ 7.509.250.000 đồng thành
bồi thường đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Căn cứ khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai
2013 và điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định: khi Nhà
nước thu hồi đất mà không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị
trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư. Mặc
dù thực tế ông Tiến bà Ánh không sinh sống trên đất nhưng ông Tiến bà Ánh bị
thu hồi hết đất và không còn thửa đất nào khác trên địa bàn phường DK.
- Quyết định cưỡng chế 441/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND phường DK:
Hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A không đồng ý một phần Quyết định số
1855/QĐ-UBND của UBND quận DK về phương án bồi thường bằng tiền khi nhà
nước thu hồi thửa đất số 591, tờ bản đồ số 2, diện tích 1225 m
2
, nên hộ ông Trần
Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A cũng không đồng ý quyết định cưỡng chế này.
Ngoài ra, việc tổ chức cưỡng chế không đúng quy định của pháp luật vì ngày
22/10/2025 Ban cưỡng chế đã thực hiện cưỡng chế, trong khi đến ngày 30/10/2025
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK mới ban hành Quyết định số 910/QĐ-
UBND về việc gia hạn thời gian thực hiện cưỡng chế, nên tại thời điểm tổ chức
cưỡng chế chưa có căn cứ pháp lý về thời gian thực hiện cưỡng chế.
Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:
- Hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 27/8/2025 của Chủ tịch ủy ban
nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi đất.
- Hủy một phần quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024 của Chủ
tịch ủy ban nhân dân phường DK về việc Phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ
về đất và tài sản gắn liền với đất đối với ông T bà Anh.
Tại văn bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa, người bị kiện trình bày: Không
đồng ý với toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện và trình bày về các tài liệu, chứng
cứ, tình tiết của vụ án như sau:
- Về yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024
phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất khi Nhà
nước thu hồi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới tại khu vực quận DK
và huyện KT (diện tích đất thuộc địa bàn quận DK) (đợt 2) của Ủy ban nhân dân
quận DK. Thay đổi phương án bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư đối
với hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A khi Nhà nước thu hồi đất:
4
Tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất, trên diện tích 1.225 m² đất ở của hộ ông
Trần Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A không có nhà ở, các đương sự không sinh sống
trên diện tích đất này và không thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở.
Tại khoản 1 Điều 86 Luật đất đai 2013 về việc bố trí tái định cư cho người
có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở, quy định cụ thể: “1. Tổ chức làm nhiệm
vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân
dân cấp huyện giao trách nhiệm bố trí tái định cư phải thông báo cho người có đất
ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở về dự kiến phương án bố trí tái
định cư và niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp
xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi và tại nơi tái định
cư trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định
cư”. Đối chiếu theo quy định, hộ gia đình ông Trần Quang T không thuộc trường
hợp phải di chuyển chỗ ở nên không đủ điều kiện để bố trí tái định cư.
Về giá đất bồi thường: Thực hiện Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 06/5/2023 của
Chính phủ về việc uỷ quyền quyết định giá đất cụ thể cho UBND cấp huyện quyết
định đơn giá. Ủy ban nhân dân quận DK trước đây đã thuê đơn vị Tư vấn khảo sát,
xác định giá đất. Hội đồng thẩm định giá đất của Ủy ban nhân quận thông qua và
đã thống nhất ban hành Quyết định số 1029/QĐ-UBND ngày 18/06/2024 của
UBND quận DK về phê duyệt giá đất ở cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây khu đô thị mới tại khu vực quận DK
và huyện KT. Ủy ban nhân dân quận đã áp dụng đơn giá đền bù về đất đảm bảo
đúng quy định của pháp luật.
- Về yêu cầu bồi thường cây trồng lâu năm trên 1225 m
2
đất ở:
Tại khoản 1 Điều 6 Luật Đất đai 2013 quy định về nguyên tắc sử dụng đất,
cụ thể: “Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất”; tại
khoản 2 Điều 92 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp Nhà nước thu hồi đất
không được bồi thường tài sản gắn liền với đất: “2. Tài sản gắn liền với đất được
tạo lập trái quy định của pháp luật”. Đối chiếu theo các quy định, do hộ gia đình
ông Trần Quang T sử dụng đất không đúng mục đích nên không được tính toán,
bồi thường theo quy định của pháp luật. Như vậy, căn cứ theo các nội dung trên, lý
do khởi kiện của gia đình ông Trần Quang T là không có cơ sở.
- Về yêu cầu hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 27/8/2025 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi đất: Quyết định số
441/QĐ-UBND được ban hành trên cơ sở Quyết định số 1914/QĐ-UBND ngày
29/7/2024 về việc thu hồi đất đối với hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A.
Sau khi có quyết định thu hồi đất, cơ quan có thẩm quyền đã thực hiện đầy đủ việc
tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhưng hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị
Ngọc A không chấp hành việc bàn giao mặt bằng theo quy định. Chủ tịch Ủy ban
5
nhân dân phường DK đã ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất, quyết định
thành lập Ban thực hiện cưỡng chế và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo đúng trình
tự, thủ tục quy định tại Điều 89 Luật Đất đai năm 2024.
Tại phiên tòa, các đương sự tranh luận:
Người khởi kiện trình bày: Giữ nguyên toàn bộ ý kiến và căn cứ pháp luật
đã nêu. Yêu cầu người bị kiện cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cơ quan có
thẩm quyền không còn quỹ đất để bồi thường. Theo Điều 85 Luật Đất đai năm
2013, Ủy ban nhân dân có trách nhiệm lập và thực hiện dự án tái định cư trước khi
thu hồi đất. Do đó, nếu thực tế không còn quỹ đất để bồi thường thì đây là trách
nhiệm của cơ quan nhà nước, còn người dân phải được bồi thường bằng đất. Ngoài
ra, hiện nay ông Tiến và bà Ánh chưa sinh sống trên thửa đất do còn công tác ở nơi
khác; tuy nhiên, sau khi nghỉ hưu, ông bà có nguyện vọng trở về sinh sống lâu dài
trên thửa đất này. Trong khi đó, Nhà nước thu hồi toàn bộ thửa đất để giao cho
Công ty Cổ phần Vinhomes thực hiện Dự án, sau đó chuyển nhượng cho người dân
với giá rất cao nhưng lại không bồi thường bằng một thửa đất khác cho người khởi
kiện là không hợp tình, hợp lý.
Người bị kiện tranh luận, đối đáp: Giữ nguyên toàn bộ ý kiến và căn cứ pháp
luật đã nêu. Địa phương chỉ bố trí được quỹ đất tái định cư để giao đất cho những
trường hợp phải di chuyển chỗ ở để đảm bảo an sinh xã hội mà chưa xem xét bố trí
bồi thường bằng đất đối với bất kỳ trường hợp nào do không có quỹ đất để bồi
thường bằng đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ
khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng hành chính trong quá
trình giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật
tố tụng hành chính. Tại phiên tòa, bà A vắng mặt nhưng đã có người đại diện hợp
pháp tham gia phiên tòa; đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đương sự theo
quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31,
điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 157, Điều 158, điểm a, b khoản 2 Điều 193, Điều
194, Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Căn cứ vào các điều 66, 67, 69, 74,
75, 79, 90 Luật Đất đai năm 2013; Điều 89 Luật Đất đai năm 2024; Căn cứ vào
Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Căn cứ vào khoản 2 Điều
32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
6
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T và bà Vũ
Thị Ngọc A, về việc hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024
của Ủy ban nhân dân quận DK, thành phố Hải Phòng (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường DK) về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản
gắn liền với đất đối với hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A khi Nhà nước
thu hồi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới tại khu vực quận DK và
huyện KT; phần bị hủy là: Phần không bồi thường đối với cây trồng trên diện tích
1.225 m² đất ở.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T và bà Vũ Thị
Ngọc A về việc:
- Hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024 của Ủy ban
nhân dân quận DK, thành phố Hải Phòng; đối với phần phê duyệt bồi thường bằng
tiền đối với diện tích 1.225 m² đất ở.
- Hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 27/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi đất.
- Về án phí: Người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa,
kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Trần Quang T và
bà Vũ Thị Ngọc A khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK, thành phố Hải
Phòng về quyết định hành chính trong lĩnh vực thu hồi đất. Người bị kiện là Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường DK, thành phố Hải Phòng; có địa chỉ tại số 869
đường PVĐ, phường DK, thành phố Hải Phòng; căn cứ khoản 1 Điều 31 Luật Tố
tụng hành chính, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Hải Phòng.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, bà A vắng mặt nhưng
đã có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa; Căn cứ vào Điều 157, Điều 158
Luật Tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự
theo quy định của pháp luật.
7
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Người khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết
định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024 của Ủy ban nhân dân quận DK (nay là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK) về việc phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất và hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày
27/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi
đất. Ông T bà A gửi đơn đến Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng theo đường
dịch vụ bưu điện, ngày 10/10/2025 là ngày được ghi trên bì thư của tổ chức dịch
vụ bưu chính nơi gửi; xác định ngày khởi kiện là ngày 10/10/2025. Căn cứ quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính, vụ án còn trong thời
hiệu khởi kiện.
- Về nội dung:
[4] Về yêu cầu khởi kiện hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND
ngày 29/7/2024 của Ủy ban nhân dân quận DK, thành phố Hải Phòng (nay là Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường DK, thành phố Hải Phòng) về việc phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu
hồi đất đối với diện tích 1225 m
2
thuộc quyền sử dụng của hộ ông T bà A.
[4.1] Về nguồn gốc thửa đất ở: Thửa đất số 591, tờ bản đồ số 2, diện tích
1225 m
2
, mục đích sử dụng: đất ở; địa chỉ: thôn HP, xã HN, huyện KT, thành phố
Hải Phòng (nay là tổ dân phố HP, phường DK, thành phố Hải Phòng) được Ủy ban
nhân dân huyện KT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 031009 ngày
24/11/2005 cho chủ sử dụng đất là ông Đỗ Hùng V và vợ là Lê Thị N; ngày
30/12/2022 đã đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông Trần Quang T, bà Vũ
Thị Ngọc A.
[4.2] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành: Ủy ban nhân dân quận DK
ban hành Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024 về việc phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất đối với hộ ông Trần
Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A khi Nhà nước thu hồi 1.225 m² đất ở và 712,4 m² đất
trồng cây hằng năm thuộc thửa đất số 72, mảnh trích đo địa chính số TDD617-
2023, tại phường HN, quận DK (nay là phường HN, thành phố Hải Phòng), là
đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 66, 67, 69 Luật Đất
đai năm 2013. Tại thời điểm giải quyết vụ án, thực hiện mô hình chính quyền địa
phương hai cấp, Ủy ban nhân dân quận DK đã chấm dứt hoạt động; theo khoản 1
Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ, thẩm quyền
của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong lĩnh vực đất đai được chuyển giao cho Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện. Vì vậy, Tòa án xác định Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường DK là người bị kiện.
[4.3] Về việc xác định căn cứ pháp luật áp dụng khi bồi thường đất ở:
8
[4.3.1] Người bị kiện cho rằng hộ ông Trần Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A
không thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nên không thuộc đối tượng được bố
trí tái định cư theo khoản 1 Điều 86 Luật Đất đai năm 2013. Tuy nhiên, Hội đồng
xét xử thấy rằng khoản 1 Điều 86 Luật Đất đai năm 2013 chỉ quy định về trình tự,
thủ tục bố trí tái định cư cho người có đất ở thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở, theo
đó tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thông
báo, niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày về dự kiến phương án bố trí tái định cư
đối với người có đất ở thu hồi thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở trước khi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bố trí tái định cư. Quy định
này không xác định điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở.
[4.3.2] Khoản 1 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 là quy định trực tiếp điều
chỉnh việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở, xác định điều kiện và
hình thức bồi thường đối với người sử dụng đất. “1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất ở … mà có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật
này khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường như sau:
a) Trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường,
thị trấn nơi có đất thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở; trường hợp
không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở thì Nhà nước bồi thường bằng
tiền;”
Quy định này được hướng dẫn cụ thể tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định
số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, theo đó trường hợp thu hồi hết
đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo
quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở,
nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi
thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.
[4.4] Về điều kiện “không còn đất ở, nhà ở nào khác” của người khởi kiện:
Người khởi kiện trình bày sau khi thửa đất bị thu hồi thì ông Trần Quang T và bà
Vũ Thị Ngọc A không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn phường DK. Quá
trình giải quyết vụ án, người bị kiện không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng
minh ông T bà A còn quyền sử dụng đất ở hoặc quyền sở hữu nhà ở nào khác trên
địa bàn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất, ông
Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A không còn đất ở, nhà ở nào khác trên địa bàn
phường DK.
[4.5] Tuy nhiên, việc lựa chọn hình thức bồi thường còn phải căn cứ khoản 2
Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Theo quy định này, việc bồi thường được thực
hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không
có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất
thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi
9
đất. Vì vậy, để xác định thời điểm ban hành Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày
29/7/2024 có thuộc trường hợp “không có đất để bồi thường” hay không, Tòa án
đã gửi công văn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK cung cấp bổ sung ý
kiến, tài liệu và chứng cứ đối với các nội dung sau: Tên, vị trí, diện tích Khu tái
định cư? Tổng số lô đất tại Khu tái định cư theo quy hoạch được phê duyệt? Số lô
đất đã được bố trí, giao cho các hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện? Số lô đất còn lại
chưa bố trí, giao tại thời điểm ngày 29/7/2024? Số lô đất chưa bố trí, giao tại thời
điểm trả lời công văn này? Ngoài ra, trên địa bàn phường DK có quỹ đất ở, quỹ đất
tái định cư nào thuộc dự án khác đã hoàn thành hạ tầng, còn lô đất chưa sử dụng để
thực hiện bồi thường bằng đất ở cho người có đất bị thu hồi hay không?
[4.6] Tại công văn số 2394 ngày 17/7/2026 và công văn số 2585 ngày
04/8/2026 của Chủ tịch UBND phường DK trình bày: hộ gia đình ông Trần Quang
T thuộc đối tượng được bồi thường bằng việc giao đất ở do bị thu hồi đất ở. Tuy
nhiên, căn cứ theo nội dung chủ trương của thành phố tại Quyết định số 1916/QĐ-
UBND ngày 05/7/2023 thì xác định: Dự án trên chỉ bố trí khu tái định cư để phục
vụ cho các hộ gia đình đủ điều kiện được giao tái định cư (thuộc diện phải di
chuyển chỗ ở); không bố trí quỹ đất ở để thực hiện bồi thường bằng đất ở đối với
các hộ gia đình có đất thu hồi (thuộc diện không phải di chuyển chỗ ở). Mặt khác,
trên địa bàn phường chỉ bố trí được quỹ đất tái định cư để giao đất cho những
trường hợp phải di chuyển chỗ ở để đảm bảo an sinh xã hội mà chưa xem xét bố trí
bồi thường bằng đất đối với bất kỳ trường hợp nào do không có quỹ đất để bồi
thường bằng đất. Như vậy, người bị kiện xác định tại thời điểm ban hành Quyết
định số 1855/QĐ-UBND, cơ quan có thẩm quyền không có quỹ đất để thực hiện
bồi thường bằng đất ở cho hộ ông T bà A. Ngoài ra, hộ ông T nhận chuyển nhượng
thửa đất từ năm 2022 đến nay và không sinh sống tại thửa đất, hiện ông T đang cư
trú tại thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, hộ ông T được bồi thường bằng tiền theo
giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời
điểm quyết định thu hồi đất là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Đất
đai năm 2013.
[4.7] Về giá đất bồi thường: Thực hiện Nghị quyết 73/NQ-CP ngày
06/5/2023 của Chính phủ về việc uỷ quyền quyết định giá đất cụ thể cho UBND
cấp huyện quyết định đơn giá. Ủy ban nhân dân quận DK trước đây đã thuê đơn vị
Tư vấn khảo sát, xác định giá đất. Hội đồng thẩm định giá đất của Ủy ban nhân
quận thông qua và đã thống nhất ban hành Quyết định số 1029/QĐ-UBND ngày
18/06/2024 của UBND quận DK về phê duyệt giá đất ở cụ thể để tính tiền bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án đầu tư xây khu đô thị mới tại khu
vực quận DK và huyện KT. Ủy ban nhân dân quận đã áp dụng đơn giá đền bù và
bồi thường về đất 7.509.250.000 đồng, bồi thường vật kiến trúc 289.716.481 đồng
10
cho hộ ông T bà A là đã đảm bảo quyền lợi của ông T bà A, đúng quy định của
pháp luật.
[5] Về yêu cầu bồi thường đối với cây trồng trên đất: Người bị kiện cho rằng
các cây trồng trên diện tích 1.225 m² đất ở không được bồi thường theo khoản 2
Điều 92 Luật Đất đai năm 2013 vì được tạo lập trái quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, người bị kiện không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ chứng minh các cây trồng của hộ ông Trần Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A
thuộc trường hợp tạo lập trái quy định của pháp luật; đồng thời cũng không có tài
liệu, chứng cứ thể hiện cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã xác định hành vi trồng
cây của hộ ông T bà A là hành vi sử dụng đất trái pháp luật hoặc thuộc trường hợp
không được bồi thường theo Điều 92 Luật Đất đai năm 2013. Mặt khác, khoản 1
Điều 90 Luật Đất đai năm 2013 quy định khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại
đối với cây trồng thì chủ sử dụng được bồi thường theo giá trị của cây trồng tại
thời điểm thu hồi đất. Cây trồng là tài sản gắn liền với đất và thuộc đối tượng được
bồi thường nên có căn cứ xác định hộ ông Trần Quang T, bà Vũ Thị Ngọc A được
bồi thường đối với số cây trồng trên diện tích đất bị thu hồi theo quy định pháp
luật.
[6] Về yêu cầu hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 27/8/2025 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi đất.
[6.1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành: Căn cứ các tài liệu có trong
hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày
27/8/2025 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK ban hành trên cơ sở Quyết
định thu hồi đất số 1914/QĐ-UBND ngày 29/7/2024, sau khi cơ quan có thẩm
quyền đã thực hiện việc tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhưng người có đất bị
thu hồi không chấp hành việc bàn giao mặt bằng theo quy định. Đồng thời, Chủ
tịch Ủy ban nhân dân phường DK đã ban hành Quyết định thành lập Ban thực hiện
cưỡng chế, xây dựng phương án cưỡng chế và tổ chức thực hiện cưỡng chế theo
quy định của pháp luật. Việc ban hành Quyết định số 441/QĐ-UBND và tổ chức
cưỡng chế thu hồi đất phù hợp với quy định tại Điều 89 Luật Đất đai năm 2024.
Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định Quyết định số 441/QĐ-UBND được
ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
[6.2] Về nội dung: Người khởi kiện cho rằng việc tổ chức cưỡng chế không
đúng quy định của pháp luật vì ngày 22/10/2025 Ban cưỡng chế đã thực hiện
cưỡng chế, trong khi đến ngày 30/10/2025 Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK
mới ban hành Quyết định số 910/QĐ-UBND về việc gia hạn thời gian thực hiện
cưỡng chế, nên tại thời điểm tổ chức cưỡng chế chưa có căn cứ pháp lý về thời
gian thực hiện cưỡng chế. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, người bị
kiện đã chứng minh việc cưỡng chế ngày 22/10/2025 chỉ thực hiện đối với phần
1.225 m² đất ở, còn Quyết định số 910/QĐ-UBND ngày 30/10/2025 được ban
11
hành để gia hạn thời gian thực hiện cưỡng chế đối với phần 712,4 m² đất trồng cây
hằng năm. Do đó, việc Quyết định số 910/QĐ-UBND được ban hành sau ngày
22/10/2025 không làm ảnh hưởng đến tính hợp pháp của việc tổ chức cưỡng chế
đối với phần đất ở đã được thực hiện trước đó. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận
yêu cầu của người khởi kiện về việc hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày
27/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường DK.
[7] Về án phí: Do một phần yêu cầu của người khởi kiện được Tòa án chấp
nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116,
Điều 157, Điều 158, điểm a, b khoản 2 Điều 193, Điều 194, Điều 348 của Luật Tố
tụng hành chính;
Căn cứ vào các điều 66, 67, 69, 74, 75, 79, 90 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 89 Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính
phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30
tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T và bà Vũ
Thị Ngọc A, về việc hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024
của Ủy ban nhân dân quận DK, thành phố Hải Phòng (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân
dân phường DK, thành phố Hải Phòng) về việc phê duyệt phương án bồi thường,
hỗ trợ về đất và tài sản gắn liền với đất đối với hộ ông Trần Quang T và bà Vũ Thị
Ngọc A khi Nhà nước thu hồi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới tại
khu vực quận DK và huyện KT; phần bị hủy là:
Phần không bồi thường đối với cây trồng trên diện tích 1.225 m² đất ở.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T và bà Vũ Thị
Ngọc A về việc:
12
- Hủy một phần Quyết định số 1855/QĐ-UBND ngày 29/7/2024 của Ủy ban
nhân dân quận DK, thành phố Hải Phòng (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường DK, thành phố Hải Phòng); về phần phê duyệt bồi thường bằng tiền đối
với diện tích 1.225 m² đất ở.
- Hủy Quyết định số 441/QĐ-UBND ngày 27/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường DK về việc cưỡng chế thu hồi đất.
3. Về án phí:
- Ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A không phải chịu án phí hành
chính sơ thẩm; hoàn trả lại ông Trần Quang T và bà Vũ Thị Ngọc A số tiền tạm
ứng án phí hành chính sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005933 ngày 06 tháng 11 năm 2025
tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Chủ tịch UBND phường DK phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí hành chính sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTP Hải Phòng;
- VKSND khu vực 6 – Hải Phòng;
- THADS thành phố Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Ngà
13
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-ST Bản án số 08/2026/HC-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất