Bản án số 14/2026/HC-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 14/2026/HC-PT ngày 29/09/2026 của TAND tỉnh Cà Mau
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 14/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Thị Đ yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 14/2026/HC-PT
Ngày 29 - 9 - 2026
V/v khiếu kiện quyết định và hành vi hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Yên
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét
xử phúc thẩm công khai
vụ án hành chính thụ lý số: 21/2026/TLPT-HC ngày 04
tháng 9 năm 2026, về việc “Khiếu kiện quyết định và hành vi hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 08/2026/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2026/QĐ-PT ngày 04
tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1964, căn cước công dân số
************ ngày cấp 07/8/2025.
Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đinh Văn D, sinh năm
1958, căn cước công dân số ************ ngày cấp 09/8/2021. Địa chỉ: Ấp C (nay
là ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau (là người đại diện theo uỷ quyền, hợp đồng uỷ quyền
ngày 09/6/2026, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Vũ Thị Đ: Ông Nguyễn Thanh
Đ1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số A, đường N, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau (có
mặt).
- Người bị kiện:
1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C (xin vắng mặt).
2
Địa chỉ: Số B - đường H, phường T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh C:
+ Ông Huỳnh Thanh D1, sinh năm 1973 (CCCD số ************, cấp ngày
18/12/2024), chức vụ là Phó Giám đốc Sở N (vắng mặt).
+ Ông Lê Văn M, sinh năm 1974 (CCCD số ************, cấp ngày
20/8/2021), chức vụ là Phó Chi cục trưởng C, Sở N (có mặt).
Cùng địa chỉ cơ quan: Số G - đường N, phường A, tỉnh Cà Mau.
2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ và Ủy ban nhân
dân xã Đ: Ông Trần Viết L, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã (là người đại diện theo
uỷ quyền, vắng mặt).
Cùng địa chỉ cơ quan: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
3/ Ủy ban nhân dân xã Đ (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã Đ: Ông Lê Thanh M1 -
Chức vụ: Phó trưởng phòng Kinh tế (có mặt).
Cùng địa chỉ cơ quan: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C (xin vắng mặt).
Địa chỉ: Số E - đường T, khóm D, phường T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Bà Vũ Thị Đ là người khởi kiện.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện trình bày:
Bà Vũ Thị Đ yêu cầu Toà án giải quyết hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND
ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện N (nay kế thừa là
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ); hủy Quyết định số 0805/QĐ-UBND ngày
29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C. Bà Đ yêu cầu Ủy ban nhân dân xã
Đ thực hiện bồi thường cho bà Đ toàn bộ diện tích 27.461,7m
2
tại thửa đất số 7,8,9,
tờ bản đồ số 02 tại ấp S, xã Đ gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất,
chi phí đầu tư vào đất còn lại. Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách
hỗ trợ theo quy định pháp luật, cụ thể yêu cầu bồi thường mặt nước nuôi trồng thuỷ
sản, cây trồng hỗ trợ theo giá trị thực tế 100% với mức giá bà Đ yêu cầu như sau:
- Không thống nhất mức hỗ trợ về đất diện tích 27.461,7m
2
số tiền hỗ trợ
659.080.800 đồng. Yêu cầu hỗ trợ giá đất theo giá thực tế 45.000 đồng/m
2
, không
yêu cầu bồi thường mức 24.000 đồng/m
2
.
- Đối với cây trồng trên đất thì thống nhất về số lượng cây, chủng loại nhưng
không thống nhất về giá, trước đây Uỷ ban hỗ trợ cây trồng giá 224.380.000 đồng,
3
nay mức giá bà Đ yêu cầu theo thực tế đối với cây lấy gỗ đước 100.000đ/cây, cây
keo lai 200.000đ/cây.
- Yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Đ hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm
60.000đ/m
2
x 4 = 240.000đ/m
2
.
Căn cứ khởi kiện:
Nguồn gốc đất của bà Đ nhận chuyển nhượng từ ông Phạm H, có giấy tay vào
năm 1994, bà Đ sử dụng ổn định từ năm 1994 cho đến khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo văn bản số 3620 của UBND tỉnh C ngày 10/7/2015 đã xác định đất của bà
không phải đất Quốc Phòng (thửa 6,7) nên phần đất hiện nay bà quản lý, bị thu hồi
không thuộc loại đất Quốc Phòng.
Ngày 14/10/2024, UBND huyện N (nay kế thừa là UBND xã Đ) ban hành
phương án số 07 và số 42 về việc hỗ trợ thực hiện dự án vị trí đóng quân Cục 72/Tổng
cục I nhưng không áp dụng đầy đủ các điều khoản về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 102, 103, 104, 107, 109 và Điều 117 của Luật
Đất đai năm 2024 đối với nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi, chi phí đầu tư vào đất
còn lại, chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ chuyển đổi nghề và các chính sách hỗ trợ
khác Luật đất đai năm 2024 nên ngày 02/01/2025, bà Đ gửi đơn khiếu nại phương
án số 07 và phương án số 42 nêu trên đến Chủ tịch UBND huyện N để được xem
xét, bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định của Luật đất đai 2024.
Tại Quyết định (viết tắt QĐ) số 1136 ngày 08/5/2025 của Chủ tịch UBND
huyện N (nay kế thừa là Chủ tịch UBND xã Đ) trả lời “...chỉ đạo Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư huyện lập phương án hỗ trợ phần đất cho bà Đ bằng
40% giá đất, hỗ trợ nhà và vật kiến trúc bằng 25% được quy định tại QĐ số 41 ngày
20/12/2019 của UBND tỉnh C về ban hành bảng giá các loại đất…” bác đơn khiếu
nại của bà Đ.
Ngày 19/5/2025 bà Đ khiếu nại QĐ số 1136 ngày 08/5/2025 giải quyết khiếu
nại Chủ tịch UBND huyện N.
Ngày Tại QĐ số 0805 ngày 29/8/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh C căn cứ khoản
4 Điều 81, khoản 3, 4 Điều 101 Luật đất đai năm 2024 về trường hợp không được
bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, bác khiếu nại và giữ nguyên QĐ giải
quyết khiếu nại lần đầu.
Việc UBND tỉnh căn cứ vào QĐ số 41 ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh về
bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau để áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ đối
với bà là không phù hợp, không bảo đảm sự công bằng so với một số hộ dân khác
có điều kiện sử dụng đất tương tự, cụ thể là hộ bà Cao Thị L1 và ông Trương Đức
T, mặc dù các hộ này cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
được bồi thường, hỗ trợ với mức cao hơn.
Do đó bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.
* Người bị kiện Chủ tịch UBND xã Đ và UBND xã Đ trình bày:
4
Về nguồn gốc đất: Thửa đất của bà Đ bị thu hồi có nguồn gốc là đất Q, nguồn
gốc đất trước ngày 07/6/1992 thuộc Đơn vị k51 tiếp quản căn cứ đóng quân trên địa
bàn Năm Căn diện tích 177,3ha. Trong đó khu căn cứ quân sự khoảng 105ha, phần
còn lại là khu đất sản xuất 72,3ha. Ngày 25/10/1989 UBND tỉnh M ban hành QĐ
274 giao đất cho Hải Q vùng 5. Đến ngày 23/5/1992 đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải
Quân bàn giao khu đất này cho UBND huyện N quản lý 72,3ha. Ngày 07/6/1992
Quân khu I1 ban hành QĐ số 37 bàn giao khu đất cho Bộ chỉ huy quân sự huyện N
diện tích 105ha bao gồm phạm vi Kênh Xáng 100m từ mé sông lên với diện tích
khoảng 19ha. Ngày 25/3/1994 UB tỉnh M cấp GCNQSDĐ số C146079 cho Bộ chỉ
huy quân sự tỉnh M với diện tích 105 ha. Ngày 24/8/2007 Bộ Q1 có Công văn 4579
đồng ý cho Quân K 9 chuyển giao một phần đất Quốc phòng diện tích 19ha để sử
dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội. Ngày 07 tháng 8 năm 2008 UBND tỉnh
C ban hành QĐ thu hồi đất của Ban Chỉ huy QS huyện N để giao cho UBND thị trấn
N quản lý để sắp xếp dân cư với diện tích khoảng 20,4ha. Tăng giảm do đo đạc.
Do khu đất của bà Đ nằm trong diện tích đất Quốc phòng nên căn cứ các công
văn: Công văn số 441 ngày 17/01/2024 của UBND tỉnh C V/v thực hiện thu hồi đất,
hỗ trợ di dời hộ gia đình, cá nhân; Công văn 7439 ngày 10/9/2024 của Ủy ban nhân
dân tỉnh C về việc điều chỉnh chính sách hỗ trợ, di dời các hộ gia đình, cá nhân tại
Sân bay N; Công văn 552 ngày 15/01/2022 của UBND tỉnh C về việc xin ý kiến bồi
thường, hỗ trợ các hộ ảnh hưởng trên khu vực 50ha được Bộ T2 điều chuyển từ bộ
I1 cho Tổng cục Q1 để thực hiện dự án Q (dự án vị trí đóng quân Cục 72) nên không
bồi thường về đất mà chỉ hỗ trợ về đất, cây trồng, vật nuôi, nhà ở, công trình vật kiến
trúc.
Từ đó UBND tỉnh C đã có chính sách hỗ trợ về đất: Hỗ trợ các hộ dân sử dụng
đất quốc phòng trước ngày 01/7/2014 mức hỗ trợ bằng 40% giá đất cùng loại theo
bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành x với diện tích đất đang sử dụng. Do đó Hội
đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện N đã áp giá hỗ trợ về đất cho bà Định mức
40% là đúng quy định.
Hỗ trợ khác đối với cây trồng theo quy định tại QĐ 40 ngày 18/12/2019 của
UBND tỉnh C.
Từ đó UBND xã Đ giữ nguyên quan điểm theo Quyết định số 1136 của Chủ
tịch UBND huyện N cũ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Vũ Thị Đ.
Đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của bà Đ.
- Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh C trình bày:
Nguồn gốc đất trước ngày 07/6/1992 do đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải quân
quản lý sử dụng. Trong quá trình quản lý, đơn vị K51 cấp một phần diện tích đất cho
cán bộ Hải quân để làm nhà ở, trồng trọt, chăn nuôi cải thiện cuộc sống và giao
khoán đất khu vực vành đai sân bay 3 Năm Căn cho các hộ gia đình, cá nhân nuôi
tôm (có phiếu giao khoán làm vuông tôm, Hợp đồng kinh tế về việc khoán đất nuôi
tôm).
5
Từ ngày 7/6/1992, Quân khu I1 giao cho Ban chỉ huy QS huyện Ngọc Hiển cũ
và Bộ chỉ huy quân sự quản lý. Sau khi Ban chỉ huy QS huyện Ngọc H1 cũ quản lý,
tiếp tục ký hợp đồng kinh tế khoán đất nuôi tôm khu vực vành đai sân bay Năm Căn
với các hộ gia đình, cá nhân (có Hợp đồng kinh tế, danh sách và phiếu thu thuế).
Trong quá trình sử dụng đất giao khoán nuôi tôm, một số hộ gia đình, cá nhân
tự ý chuyển nhượng cho người khác hoặc cho người khác sử dụng; bên cạnh đó, có
một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trong khu vực vành đai sân bay N cho rằng
tự chiếm sử dụng, rồi sang nhượng, hoán đổi, tặng cho nhưng không kê khai đăng
ký sử dụng đất, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Trong đó có hộ ông
Phạm H, ông Phạm H tự ý chuyển nhượng lại cho bà Đ sử dụng vào năm 1994, có
giấy tờ chuyển nhượng đất nhưng không kê khai đăng ký sử dụng đất theo quy định
luật đất đai, bà Vũ Thị Đ sử dụng đến khi Nhà nước thu hồi đất.
Tóm lại, khu vực đất vành đai sân bay N là đất quốc phòng, trước ngày 7/6/1992
do đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải quân quản lý, sử dụng. Từ ngày 7/6/1992, quân khu
9 giao Ban chỉ huy QS huyện I1 cũ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh M quản lý, sử dụng và
được UBND tỉnh M cũ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/3/1994, với
diện tích 1.050.000m
2
. Ngày 15/01/2008, chuyển giao và cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Ban chỉ huy quân sự huyện N cũ quản lý, sử dụng.
Ngày 09/12/2010, chuyển giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
BD 500039 cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh C, diện tích 916.315,2m
2
thửa đất số 24 tờ
bản đố số 38. Ngày 22/11/2021, Tổng tham mưu trưởng Q2 ban hành Quyết định số
2709/QĐ-TM về việc điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50ha đất quốc
phòng do Quân khu I1 đang quản lý tại sân bay N cho tổng cục Q1 quản lý, sử dụng
vào mục đích quốc phòng.
Theo nội dung thỏa thuận trong các Phiếu khoán, Hợp đồng khoán đất nuôi tôm
năm 1992, 1996 và 2001 “…Người nhận đất giao khoán không được sáng nhượng,
bán, đổi hoặc cho người khác thuê… Trong thời gian hợp đồng nếu có lệnh cấp trên
lấy lại phần đất khoán để sử dụng cho các công trình Quốc phòng thì người nhận
khoán phải trả lại đất và bên giao khoán sẽ không bồi hoàn tiền đầu tư vào đất cho
bên nhận khoán…”.
Căn cứ khoản 5 Điều 81 Luật đất đai năm 2024, về các trường hợp thu hồi đất
do vi phạm pháp luật về đất đai, quy định “Đất được nhà nước giao quản lý mà để
bị lấn đất, chiếm đất”; khoản 4 Điều 101 Luật đất đai năm 2024 về trường hợp không
được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, quy định: “Trường hợp không đủ
điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với
đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 96 của
Luật này”.
Mặt khác, khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án vị trí đóng quân cục
72/Tổng cục I, Ủy ban nhân dân tỉnh có công văn số 572 ngày 15/11/2022 về việc
xin ý kiến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ các hộ bị ảnh hưởng dự án và được Bộ I1,
Bộ Q1 thống nhất chủ trương tại công văn số 275 ngày 20/02/2023. Theo đó, đã xem
6
xét vận dụng quy định pháp luật để hỗ trợ cho hộ bà Vũ Thị Đ bị ảnh hưởng bởi dự
án.
Từ những cơ sở, căn cứ nêu trên nhận thấy: Nguồn gốc là đất quốc phòng, được
cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Tổng Tham
mưu trưởng Q2 ban hành Quyết định số 2709/QĐTM điều chuyển tài sản công, do
đó xác định đây là đất do Nhà nước quản lý. Căn cứ khoản 4 Điều 81, khoản 3 và
khoản 4 Điều 101 Luật Đất đai năm 2024 và các quy định pháp luật có liên quan,
xét thấy nội dung khiếu nại của bà Vũ Thị Đ là không có cơ sở để xem xét giải quyết.
Do đó, ngày 29/8/2025, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành QĐ 0805 giữ nguyên QĐ số
1136 của Chủ tịch UBND huyện N về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà
Vũ Thị Đ.
- Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3 - Đất Mới trình bày: Phần đất bà Vũ Thị Đ
quản lý có nguồn gốc là đất quốc phòng, Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 3 - Đ thống
nhất với quan điểm của Chủ tịch UBND tỉnh C và Chủ tịch UBND xã Đ, các văn
bản, quyết định được ban hành là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định nên đề
nghị không chấp nhận yêu cầu của bà Đ.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông D xác định
thửa đất bà Đ bị thu hồi theo Quyết định thu hồi đất số 2888/QĐ-UBND ngày
20/12/2024 của UBND huyện N (nay kế thừa là UBND xã Đ) có diện tích
27.461,7m
2
tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số địa chính số 01 tại khóm S, thị trấn N,
huyện N, tỉnh Cà Mau. Bảo lưu các yêu các yêu cầu khởi kiện.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2026/HC-ST ngày 31/7/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau đã quyết định:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc hủy:
- Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại
(lần đầu) của bà Vũ Thị Đ.
- Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ.
- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện bồi thường cho bà Vũ Thị Đ toàn bộ
diện tích 27.461,7m
2
tại thửa đất số 8 tờ bản đồ số 01 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau
gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại.
Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định pháp
luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm chịu án phí và quyền kháng cáo
theo quy định.
Ngày 10 tháng 8 năm 2026, bà Vũ Thị Đ kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm
giải quyết hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện người khởi kiện trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu
cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Bởi lẽ, Bản án sơ thẩm nhận định nguồn gốc đất là
đất quốc phòng là không chính xác, bà Đ đã sử dụng đất từ năm 1989 được chính
7
quyền địa phương thừa nhận tại biên bản cuộc họp ngày 19/10/1989 của UBND
huyện N. Ngoài ra, năm 1994, UBND tỉnh cấp đất cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh M
không tuân thủ quy định về pháp luật đất đai về thu hồi đất, giao đất nhưng không
bồi thường; Ngày 27/02/2015, Bộ Q1 có văn bản số 1584/BQP-PM về việc chuyển
giao đất quốc phòng do Quân K 9 quản lý cho địa phương tỉnh Cà Mau quản lý,
nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét yếu tố này. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm vi phạm thủ
tục tố tụng còn nhiều sai sót trong thu thập, xác minh nguồn gốc đất, do đất bà Đ có
nguồn gốc sử dụng trước năm 1975; Hội đồng xét xử không đánh giá khách quan
các chứng cứ, luận cứ bảo vệ của người khởi kiện.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là UBND xã Đ,
tỉnh Cà Mau trình bày: Không đồng ý với kháng cáo và căn cứ kháng cáo của người
khởi kiện bà Vũ Thị Đ bởi, phương án bồi thường, hỗ trợ Ủy ban nhân dân xã Đ đã
áp dụng đúng quy định pháp luật, căn cứ vào Luật đất đai năm 2024; Công văn
441/UBND-NNTN ngày 17/01/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc hỗ trợ di
dời các hộ gia đình, cá nhân tại sân bay N. Bà Đ có 02 phần đất, 01 phần nằm trong
Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 07/01/2008 về việc thu hồi 204.758,9m
2
và giao
cho UBND thị trấn N quản lý tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 07/01/2008,
phần này khi làm Cầu Kinh T1 đã bồi thường cho bà Đ một phần vào năm 2016; Đối
với phần đất có diện tích 27.461,7m
2
là phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C, thể hiện tại Bản vẽ hiện trạng ngày
10/11/2022 của Trung tâm Kỹ thuật , quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh C. Do
đó, phần đất này của bà Vũ Thị Đ có nguồn gốc là đất Quốc phòng nên chỉ được hỗ
trợ 40%, các cây trồng, tài sản trên đất đã bồi thường xong. Bà Đ đã nhận tiền và
cam kết giao đất cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xã Đ và Hội đồng đã
giao phần đất này cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C để bàn giao cho Cục I. Về chi phí
tố tụng đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND tỉnh C trình bày:
Thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND
xã Đ, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, các bên đương sự đã chấp
hành đúng quy định Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng
hành chính. Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Đ, giữ nguyên Bản án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy:
[1] Xét đơn kháng cáo của bà Vũ Thị Đ thực hiện trong hạn luật định và hợp
lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
8
[2] Về tố tụng:
- Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh C; Chủ tịch UBND xã Đ, tỉnh Cà Mau;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C có đơn xin xét
xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 của Luật tố tụng hành chính. Xét xử vắng mặt đương
sự theo quy định của pháp luật.
- Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Đ yêu cầu hủy Quyết
định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N
(nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của
bà Vũ Thị Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà
Vũ Thị Đ. Do đó, quan hệ pháp luật là "khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai" theo quy định tại Điều 22 Luật đất đai và các Quyết định này là
đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân, được quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
- Xét về trình tự, thủ tục ban hành hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày
08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân
xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ; Quyết định giải quyết
khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C
về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ. Hội đồng xét xử thấy các
quyết định được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu
nại theo quy định của Luật khiếu nại và Pháp luật có liên quan.
- Về thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính: Hủy Quyết định số 1136/QĐ-
UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ; Quyết
định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ, ngày
22/9/2025 bà Đ gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, nên còn thời hiệu khởi kiện được quy
định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
- Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm,
Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3 – Đ đã bị giải thể, hiện chưa có đơn vị nào thay
thế. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng vẫn đảm bảo
nội dung giải quyết vụ án.
[3] Xét kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của người khởi kiện bà Vũ Thị
Đ thấy rằng:
[3.1] Về nguồn gốc đất, khu vực đất vành đai sân bay N là đất quốc phòng,
trước năm 1992 do đơn vị K51 thuộc Vùng 5 Hải quân quản lý; được thể hiện tại
cuộc họp ngày 16/10/1989 về việc giải quyết ranh giới phạm vi căn cứ Hải quân
Năm Căn giữa Bộ Tư lệnh vùng 5 Hải quân và UBND huyện N. Trách nhiệm của
UBND huyện N giải tỏa số hộ dân cư ấp S nằm trong phạm vi đất quân sự; tạo 01
đường ranh dọc đường K đào cách 100m để phân định ranh giới đất quân sự và địa
phương theo tinh thần cuộc họp ngày 16/10/1989.
9
- Từ ngày 07/6/1992, Quân khu I1 giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh M và Ban
Chỉ huy quân sự huyện N quản lý, sử dụng. Ngày 05/3/1994, UBND tỉnh M cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy chứng nhận) cho Tỉnh đội M2,
diện tích 1.050.000m
2
, tại thị trấn N, huyện N.
- Tại Quyết định số 11/QĐ-UBND, ngày 07/01/2008 của UBND tỉnh C thu
hồi đất của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C diện tích 204,785,9m
2
và tại Quyết định số
12/QĐ-UBND, ngày 07/01/2008, UBND tỉnh C giao toàn bộ diện tích đất
204,785,9m
2
cho UBND thị trấn N quản lý. Ngày 09/12/2010, chuyển giao và cấp
Giấy chứng nhận số BD 500039 cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C, với diện tích
916.315,2m
2
, thửa số 24, thuộc tờ bản đồ số 38.
- Tại Quyết định số 2709/QĐ-TM ngày 22/11/2021 của Tổng Tham mưu
trưởng Q2 về việc điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50 ha đất quốc phòng
do Quân khu I1 đang quản lý tại sân bay N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau cho
Tổng cục Q1 quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Tại Điều 1 có nội dung:
điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50 ha đất quốc phòng...; trong đó:
Khoảng 13,6ha đất không bị lấn chiếm và 36,4ha thuộc khu đất quốc phòng, 73,4ha
bị lấn chiếm (có sơ đồ khu đất kèm theo).
Từ những nội dung trên đã xác định từ năm 1989 đã có văn bản xác định đất
quốc phòng; diện tích đất bị thu hồi của bà Đ thuộc đất quốc phòng.
[3.2] Tại Biên bản số 1093/BB-QK ngày 23/4/2024 họp thống nhất giải quyết
một số vấn đề còn khó khăn, vướng mắc trong hỗ trợ giải phóng mặt bằng di dời các
hộ gia đình, cá nhân; chủ trì cuộc họp có Phó tư lệnh Quân khu I1 và Phó Chủ tịch
UBND tỉnh C, thành phần tham dự: đại diện Quân khu I1; đại diện lãnh đạo các sở
ban ngành của tỉnh Cà Mau; Cục G, Q1.
Nội dung cuộc họp: Về kinh phí, ngày 28/02/2024 Bộ trưởng Bộ Q1 ký quyết
định số 743/QĐ-BQP về việc giao dự toán ngân sách chi thường xuyên cho quốc
phòng, trong đó bố trí vốn để hỗ trợ giải phóng mặt bằng di dời các hộ dân tại sân
bay N; UBND tỉnh C phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Xét thấy những tồn tại trên khu đất này do công tác quản lý đất đai trước đây
còn thiếu chặt chẽ, mang yếu tố lịch sử để lại, việc lấn chiếm đất trong thời gian dài
chưa được giải quyết, xử lý dứt điểm. Do đó, để tháo gỡ khó khăn, giải quyết dứt
điểm vụ việc, thống nhất khi xem xét thực hiện thu hồi đất, hỗ trợ di dời các hộ gia
đình, cá nhân bị ảnh hưởng thì không bồi thường, hỗ trợ về đất, mà chỉ hỗ trợ về cây
trồng, vật nuôi, nhà ở, công trình vật kiến trúc để người dân di dời ổn định cuộc sống
và sản xuất.
[4] Đối với phần đất diện tích 27.461,7m
2
nuôi trồng thủy sản thửa đất số 7,8,
9, tờ bản đồ số 02 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau bà Đ đang sử dụng. Quá trình sử dụng
đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không kê khai đăng ký đất đai, không
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tại Bản vẽ hiện trạng ngày 10/11/2022,
của Trung tâm Kỹ thuật , quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh C thể hiện phần
10
đất có diện tích 27.461,7m
2
bà Đ quản lý nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C.
Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 101 Luật Đất đai năm 2024 quy định trường
hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có trường hợp
đất thuộc diện vi phạm pháp luật về đất đai hoặc người sử dụng đất không đủ điều
kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ nguồn gốc và quá trình
sử dụng đất nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Vũ Thị Đ không đủ điều
kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử
dụng và không thuộc trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi. Trên
cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét hỗ trợ cho bà Đ theo chính sách của
UBND tỉnh. Vì vậy, việc không bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mà chỉ xem
xét hỗ trợ đối với bà Đ theo bản triết tính với số tiền 854.481.907 đồng là có căn cứ,
phù hợp quy định của pháp luật.
[5] Đối với kháng cáo của bà Đ yêu cầu áp dụng Luật Đất đai năm 2024, để
giải quyết quyền lợi cho bà khi thu hồi đất thì thấy rằng các chế độ bồi thường, hỗ
trợ nêu trên chỉ được xem xét khi người sử dụng đất đáp ứng các điều kiện theo quy
định của pháp luật. Trong vụ án này, diện tích đất bà Đ sử dụng thuộc đất quốc
phòng do Nhà nước quản lý; bà Đ không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất
hợp pháp và không đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất như đã phân
tích trên. Mặt khác, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét vận dụng chính sách hỗ trợ
có lợi cho các hộ dân bị ảnh hưởng theo chủ trương của UBND tỉnh và Bộ Q1 là
đúng quy định tại Điều 108 Luật đất đai 2024. Do đó, kháng cáo của bà Đ là không
có căn cứ chấp nhận.
[6] Đối với kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Đ cho rằng Công văn
1584/BQP-PM ngày 27/02/2015 của Bộ Q1 đồng ý chuyển giao 734.650m
2
đất do
Ban Chỉ huy quân sự huyện N thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C quản lý. Tuy nhiên,
đất do địa phương quản lý nhưng nguồn gốc là đất quốc phòng, việc thu hồi, bồi
hoàn, hỗ trợ chuyển giao phải thực hiện theo quy định về đất là nguồn gốc đất quốc
phòng. Mặc khác, từ ngày Bộ Q1 có chủ trương chuyển giao đất cho địa phương
quản lý ngày 27/02/2015 đến nay bà Vũ Thị Đ không được cơ quan có thẩm quyền
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Do đó, UBND tỉnh C đã có chính sách hỗ trợ về đất: Hỗ trợ các hộ dân sử dụng
đất quốc phòng trước ngày 01/7/2014 mức hỗ trợ bằng 40% giá đất cùng loại theo
bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành tương ứng với diện tích đất đang sử dụng. Từ
đó, Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện N đã áp giá hỗ trợ về đất cho bà
Định mức 40% là đúng quy định và hỗ trợ khác đối với cây trồng theo quy định tại
QĐ 40 ngày 18/12/2019 của UBND tỉnh C.
[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình xét xử cấp sơ
thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Về nội dung vụ án tuyên xử không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ là có cơ sở. Do đó, không có căn cứ
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ về việc hủy bản án sơ thẩm. Xét đề
11
nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là phù hợp, nên
chấp nhận.
[8] Về chi phí tố tụng bà Đ phải chịu theo quy định của pháp luật; Về án phí sơ
thẩm, phúc thẩm: Bà Vũ Thị Đ được miễn do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ. Giữ nguyên Bản án
hành chính sơ thẩm số: 08/2026/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc hủy:
- Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại
(lần đầu) của bà Vũ Thị Đ.
- Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ.
- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện bồi thường cho bà Vũ Thị Đ toàn bộ
diện tích 27.461,7m
2
tại thửa đất số 8 tờ bản đồ số 01 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau
gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại.
- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định
pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Vũ Thị Đ phải chịu 1.000.000 đồng, bà Đ đã nộp và
đối chiếu thanh toán xong.
3. Án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm bà Vũ Thị Đ không phải chịu do là
người cao tuổi.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau;
- Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM: TANDTCM)
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
12
Nguyễn A Đam
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2026/HC-PT Bản án số 14/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất