Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 04/2026/HC-PT ngày 28/09/2026 của TAND tỉnh Quảng Trị
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Quảng Trị
Số hiệu: 04/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Công ty Cổ phần Đ - Chủ tịch UBND tỉnh Q - KK QĐHC trong lĩnh vực đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
Bản án số: 04/2026/HC-PT
Ngày: 28-9-2026
V/v Kiện Quyết định
hành chính trong quản lý đất đai
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thnh phn Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thị Hải Dương.
Các Thẩm phán: Ông Võ Bá Lưu; Bà Hoàng Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Ta án nhân dân
tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Ta án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2026/TLPT-HC về việc “Khiếu kiện
Quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị bị người khởi kiện kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 05/2026/QĐ-PT ngày
28/7/2026 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Công ty Cổ phần Đ; địa chỉ: Khu phố C, phường Q,
tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1953;
CCCD: ************ - Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Công H; địa chỉ: Khu phố A,
phường N, tỉnh Quảng Trị (theo văn bản ủy quyền ngày 01/10/2025), có mặt.
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp: ông Nguyễn Đức T, Luật sư-
Văn phng L; địa chỉ: B H, khu phố A, phường N, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
2. Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q; địa chỉ: F H, phường
Đ, tỉnh Quảng Trị, có đơn đề nghị xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền v lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Hữu
D – Phó giám đốc Sở Tư pháp; ông Nguyễn Anh P – Phó giám đốc Sở T2; ông
Trà Đình H1 – Trưởng phng Quản lý Văn bản – Sở Tư pháp; ông Nguyễn Hải Q
– Trưởng phng Quản lý Giá, Công sản và Tài chính Doanh nghiệp – Sở T2; ông
Trần Quang V – Phó Trưởng phng Quản lý đầu tư – Sở T2; ông Đoàn Xuân T1
– Phó Trưởng phng Đo đạc, bản đồ và Viễn thám – Sở N, đều có mặt.
3. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:
2
- Thanh tra Chính Phủ; địa chỉ: Số B đường H - phường C - Hà Nội; vắng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02/10/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án,
Công ty Cổ phần Đ trình bày:
Công ty cổ phần Đ là chủ đầu tư Dự án Khu đô thị Bắc Thành Cổ Q, theo
Giấy chứng nhận đầu tư số 30121000028 ngày 25/8/2008, thay đổi lần thứ nhất
ngày 27/12/2012. Mục tiêu là đầu tư xây dựng, kinh doanh kết cấu hạ tầng khu đô
thị mới, khu công nghiệp sạch, hạ tầng phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
du lịch... nhằm góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội, cơ cấu sản xuất trên
địa bàn thị xã Q.
Tại khoản 2, khoản 4, Điều 7 của Giấy chứng nhận đầu tư ngày 25/8/2008,
về các ưu đãi đối với dự án, nêu rõ: "2. Được Nhà nước giao đất sử dụng ổn định
lâu dài có thu tiền sử dụng đất theo giá đất tại Quyết định số 1318/QĐ-UBND
ngày 15/7/2008 của UBND tỉnh Q... 4. Được giảm 20% tiền sử dụng đất phải nộp
Ngân sách Nhà nước".
Ngày 08/9/2025, Chủ tịch UBND tỉnh Q căn cứ Kết luận Thanh tra số
2282/KL-TTCP ngày 16/12/2019 của Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử
dụng đất đai, môi trường, đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị để ra Quyết
định số 1339/QĐ-UBND về việc thu hồi kinh phí nộp Ngân sách Nhà nước số
tiền 14.115.418.000đồng đối với Công ty Cổ phần Đ. Nhận thấy đây là Quyết
định hành chính trái với quy định tại khoản 2 Điều 11 của Luật đầu tư số
59/2005/QH11 ngày 29/11/2005, ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của chủ
doanh nghiệp có dự án đầu tư.
Vì vậy, Công ty cổ phần Đ khởi kiện yêu cầu Ta án hủy toàn bộ Quyết
định số 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Q nói trên với
các lý do sau:
Thứ nhất: Địa bàn thực hiện “Dự án khu đô thị M” mà Công ty cổ phần Đ
được UBND tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu ngày 25/8/2008, trước
đó đã được UBND tỉnh Q phê duyệt quy hoạch xây dựng “Khu K thị xã Q, tỉnh
Quảng Trị” tại Quyết định số 630/QĐ-UBND ngày 09/4/2008; Giá đất tại “Khu
kinh tế Bắc Thành C1, thị xã Q” được quy định tại Quyết định số 1318/QĐ-UBND
ngày 15/7/2008.
Công ty cổ phần Đ có dự án đầu tư vào khu kinh tế, nên được hưởng chính
sách ưu đãi theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định số 29/2008/NĐ-CP
ngày 14/3/2008 của Chính phủ.
Do đó, UBND tỉnh Q đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 30121000028 ngày
25/8/2008, theo đó đã ghi rõ các ưu đãi đối với Dự án tại Điều 7 của Giấy chứng
nhận đầu tư.
Thứ hai: Kết luận số 2282/KL-TTCP của thanh tra Chính phủ ngày
16/12/2019 cho rằng UBND tỉnh Q xác định tiền sử dụng đất không đúng, gây
thất thoát 14.115.418.000đồng, kết luận này không dựa trên những căn cứ pháp
luật, bởi lẽ:
3
- Kết luận thanh tra cho rằng: “Đối với diện tích 272.215 m
2
đất được giao
theo Quyết định số 2653/QĐ-UBND ngày 12/12/2011…, nhưng UBND tỉnh lại
phê duyệt cho Công ty được nộp tiền theo giá đất năm 2008 (Quyết định số
31/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007) là không đúng quy định của Luật đất đai
năm 2003, Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ, đã
làm thiệt hại ngân sách Nhà nước 12.932.894.000 đồng …”.
Thực tế, diện tích 272.215 m
2
đã được giao lần đầu tại Quyết định số
2163/QĐ-UBND ngày 23/10/2009 là 117.618 m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số: AO 910501 ngày 23/10/2009; Quyết định số 2653/QĐ-UBND ngày
12/12/2011 là quyết định điều chỉnh giao đất đợt 1 và đợt 2 (lý do: Kết quả đo đạc
thu hồi đất, giao đất trước đây theo phương pháp đo độc lập không gắn với hệ tọa
độ quốc gia, nên giữa bản đồ và thực địa có sự sai lệch và do điều chỉnh quy hoạch
chi tiết).
Rõ ràng, diện tích đất 117.618 m
2
đã giao ngày 23/10/2009 trước ngày có
Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 có hiệu lực; Mặt khác, diện tích
giao đợt 2 chỉ 154.597 m
2
nhưng lại tính tiền thất thoát trên diện tích 272.215 m
2
là không đúng.
- Kết luận Thanh tra Chính phủ cho rằng, “UBND tỉnh cấp Giấy chứng
nhận đầu tư cho Công ty CP Đ được hưởng ưu đãi đầu tư không đúng quy định
theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006…; xác định giá trị tiền sử
dụng đất không đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2003, gây thất thoát
ngân sách Nhà nước 14.115.418.000 đồng…”.
Công ty CP Đ là chủ đầu tư dự án “Khu đô thị M” tại địa bàn đã được quy
hoạch “Khu kinh tế” nên được hưởng các ưu đãi áp dụng đối với địa bàn thuộc
Danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn.
Thứ ba: Quyết định số 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 của Chủ tịch
UBND tỉnh Q rõ ràng là trái pháp luật, dựa trên những căn cứ:
- Căn cứ để ban hành quyết định thu hồi kinh phí nộp ngân sách Nhà nước
chỉ duy nhất dựa vào “Kết luận thanh tra số 2282/KL-TT-CP ngày 16/12/2019”.
Như đã phân tích trên, Kết luận thanh tra Chính phủ rõ ràng là không có cơ sở,
nhưng Chủ tịch UBND tỉnh Q căn cứ vào kết luận này để ra quyết định số
1339/QĐ-UBND để buộc doanh nghiệp dự án phải nộp số tiền 14.115.418.000
đồng là không có căn cứ, trái pháp luật, gây ảnh hưởng quyền lợi của doanh
nghiệp;
- Tại thời điểm Thanh tra và đến thời điểm hiện tại, Giấy chứng nhận đầu
tư số 30121000028 đang cn giá trị pháp lý, chưa bị cơ quan có thẩm quyền thu
hồi;
- Quyết định số 1318/QĐ-UBND ngày 15/7/2008 của UBND tỉnh Q về quy
định giá đất tại Khu K, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị là văn bản hành chính đã có hiệu
lực pháp luật, không bị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ.
- Tại Mục 3 của Thông Báo số 18-TB/TU ngày 18/11/2020, về việc kết
luận kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện dự án Khu đô thị M, tỉnh ủy Quảng
Trị đã khẳng định:
“Công ty CP Đ đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tài chính khi được giao đất”
4
Mục 4: “ Đề nghị UBND tỉnh làm việc với Thanh tra Chính phủ và có văn
bản báo cáo với Thủ tướng Chính phủ về những khó khăn khi thực hiện dự án;
xin phép không thu hồi số tiền trên do chênh lệch vị trí đất ”
- Tại thời điểm Thanh tra dự án năm 2019 thì giấy Chứng nhận đầu tư số
30121000028 đang có hiệu lực đến tháng 12 năm 2022.
Tại Điều 7 mục 2 của Giấy chứng nhận đầu tư: “Được nhà nước giao đất
sử dụng ổn đinh lâu dài có thu tiền sử theo giá đất tại Quyết định số 1318/QĐ-
UBND ngày 15/7/2008 của UBND tỉnh Q”.
Tại Điều 11 điểm 2 của Luật Đầu tư có quy định:
“Trường hợp pháp luật chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến
lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi quy định của pháp luật
chính sách đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi như quy định tại
Giấy chứng nhận đầu tư...”
Như vậy, chính sách mới ban hành là giá đất quy định tại quyết định số
27/2010/QĐ-UBND ngày 31/12/2010 của UBND tỉnh Q làm ảnh hưởng bất lợi
đến dự án Khu đô thị B, có Giấy chứng nhận đầu tư số 30121000028 cấp ngày
25/8/2008, trước thời điểm Chính phủ ban hành Nghị định số 120/2010/NĐ-CP
ngày 30/12/2010).
Tại công văn số 1662/UBND-NC ngày 30/10/2025 và trong quá trình giải
quyết vụ án, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày:
- Ngày 08/9/2025, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1339/QĐ-
UBND về việc thu hồi kinh phí nộp ngân sách nhà nước theo kiến nghị của Thanh
tra Chính phủ tại Kết luận thanh tra số 2282/KL-TTCP ngày 19/12/2019, theo đó
giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Q thu hồi số tiền sử dụng đất là
14.115.418.000 đồng của Công ty cổ phần Đ (tại Mục II, Phần III); thực hiện ý
kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Công văn số 182/VPCP-V.I ngày
07/01/2025 của Văn phng C2 về kết quả thực hiện Kết luận thanh tra số
2282/KL-TTCP ngày 16/9/2019 về việc quản lý, sử dụng đất đai, môi trường, đầu
tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị; chỉ đạo của Ban Thường vụ Tỉnh ủy tại
Báo cáo số 05-BC/TU ngày 17/7/2025 về kết quả thực hiện Thông báo số 645-
TB/TW ngày 12/4/2024 của Ủy ban K; chỉ đạo của Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh
tại Công văn số 74-CV/ĐU ngày 22/7/2025 về tiếp tục khắc phục dứt điểm các
nội dung theo Thông báo số 645-TB/TW ngày 12/4/2024 của Ủy ban Kiểm tra
Trung ương.
- Quyết định 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 được Chủ tịch UBND tỉnh
ban hành theo thẩm quyền quy định tại khoản 18 Điều 17 Luật Tổ chức Chính
quyền địa phương số 72/2025/QH15: “18. Ban hành quyết định, chỉ thị và các văn
bản hành chính khác về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bãi
bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản do mình ban hành khi xét thấy không cn
phù hợp hoặc trái pháp luật”; Việc ban hành Quyết định này đã đảm bảo trình tự,
thủ tục theo đúng quy định.
- Việc thu hồi tiền nộp ngân sách nhà nước: Số tiền 14.115.418.000 đồng
theo kiến nghị thu hồi đã được làm rõ, kiến nghị tại Kết luận thanh tra số 2282/KL-
TTCP ngày 16/12/2019 của Thanh tra Chính phủ; được Thanh tra Chính phủ
khẳng định tại Báo cáo số 2685/BC-TTCP ngày 18/12/2024 về việc báo cáo kết
5
quả theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Kết luận thanh tra số 2282/KL-
TTCP ngày 16/12/2019 của Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất đai,
môi trường, đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị, được Phó Thủ tướng
Chính phủ chỉ đạo UBND tỉnh thực hiện tại Công văn số 182/VPCP-V.I ngày
07/01/2025 của Văn phng C2, cụ thể:
- Nội dung kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền sử dụng đất là
1.182,524 triệu đồng:
+ Về giá đất áp dụng tại Khu K, thị xã Q (sau này là Khu đô thị M): Xét Tờ
trình số 1136/TTr-STC ngày 12/6/2008 của Sở T2, UBND tỉnh ban hành Quyết
định số 1318/QĐ-UBND ngày 15/7/2008 về việc quy định giá đất tại Khu K, thị
xã Q (áp dụng thu theo các nội dung tại Điều 2 Quyết định số 31/2007/QĐ-UBND
ngày 28/12/2007 của UBND tỉnh về ban hành giá đất trên địa bàn). Theo đó, giá
đất ở được tính theo khoảng cách từ Quốc lộ A vào sâu 20 m = 560.000đ/ m
2
, từ
trên 20m đến 40m = 198.000đ/m
2
; từ trên 40m đến 60m = 54.000đ/m
2
; từ trên
60m trở lên =40.000đ m
2
là chưa đúng. Vì theo Quyết định số 31/2007/QĐ-UBND
không có đường nào có vị trí và giá đất như trên.
+ Tra cứu cụ thể đường 4c bảng giá đất 8.1 áp dụng cho thị xã Đ và thị xã
Q, phụ lục 1, trang 6 Quyết định số 31/2007/QĐ-UBND thì vị trí 1 là 560.000 đ/
m
2
; vị trí 2 là 198.000 đ/ m
2
; vị trí 3 là 108.000 đ/ m
2
; vị trí 4 là 54.000 đ/ m
2
.
Đường 4f bảng giá đất 8.1 áp dụng cho thị xã Đ và thị xã Q, phụ lục 1, trang 6
Quyết định số 31/2007/QĐ-UBND thì vị trí 1 là 224.000 đ/ m
2
; vị trí 2 là 90.000
đ/ m
2
; vị trí 3 là 54.000 đ/ m
2
; vị trí 4 là 40.000 đ/ m
2
.
+ Tại Quyết định số 1318/QĐ-UBND ngày 15/7/2008 quy định giá đất tại
Khu K, thị xã Q (áp dụng thu theo các nội dung tại Điều 2, Quyết định số
31/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007 của UBND tỉnh về ban hành giá đất trên
địa bàn), giá đất được tính như sau: Từ Quốc lộ vào sâu 20 m = 560.000đ/ m
2
; từ
trên 20m đến 40m = 198.000đ/ m
2
; từ trên 40m đến 60m = 54.000đ/ m
2
; từ trên
60m trở lên = 40.000đ/ m
2
là chưa đúng theo Quyết định số 31/2007/QĐ-UBND
(vị trí 1 và 2 áp dụng theo đường 4c; vị trí 3 và 4 lại áp dụng theo đường 4f), do
đó giá đất áp dụng cho Khu kinh tế Bắc Thành C1 phải được áp dụng theo đường
4c.
+ Kết luận thanh tra số 2282/KL-TTCP ngày 16/12/2019 của Thanh tra
Chính phủ xác định: Việc áp dụng sai vị trí, đã gây thất thoát ngân sách nhà nước
1.182.524.000 đồng = 84.466 m
2
x (54.000 đồng- 40.000 đồng) là có căn cứ.
- Nội dung kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền sử dụng đất là
12.932.894.000 đồng:
+ Dự án đầu tư Khu đô thị M, thị xã Q không thuộc danh mục lĩnh vực ưu
đãi đầu tư theo quy định tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của
Chính phủ, nhưng UBND tỉnh vẫn cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 30121000028
ngày 25/8/2008 cho phép dự án được hưởng ưu đãi đầu tư. Sai phạm này đã được
chỉ ra trong Kết luận thanh tra và đã được UBND tỉnh Q khắc phục tại Quyết định
số 1707/QĐ-UBND ngày 04/8/2023 về việc quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ
trương đầu tư, đồng thời chấp thuận nhà đầu tư; theo đó Dự án Khu đô thị M, thị
xã Q không được hưởng ưu đãi đầu tư theo Giấy chứng nhận đầu tư số
30121000028 ngày 25/8/2008 của UBND tỉnh.
6
+ Kết luận thanh tra số 2282/KL-TTCP ngày 16/12/2019 của Thanh tra
Chính phủ đã kết luận việc UBND tỉnh Q giao đất cho Chủ đầu tư năm 2011
nhưng sử dụng đơn giá năm 2008 là không đúng quy định của Luật Đất đai năm
2003, Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ, đồng thời
kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền sử dụng đất là 12.932.894.000
đồng.
Tại công văn số 975/TTCP-C.II ngày 06/4/2026, Thanh tra Chính Phủ trình
bày:
Ngày 16/12/2019, Thanh tra Chính phủ ban hành Kết luận thanh tra số
2282/KL-TTCP, Kết luận thanh tra được ban hành trên cơ sở kết quả thanh tra
được thực hiện đúng quy định của pháp luật và đã được Phó Thủ tướng Thường
trực Trương Ha B đồng ý với nội dung và kiến nghị của Thanh tra Chính phủ
(tại Văn bản số 378/VPCP-V.I ngày 15/01/2020 của Văn phng C2). Theo đó,
Phó Thủ tướng thường trực giao Chủ tịch UBND tỉnh Q thực hiện các nội dung
kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại Kết luận thanh tra số 2282/KL-TTCP ngày
16/12/2019 (Gửi kèm Văn bản số 378/VPCP-V.1 ngày 15/01/2020).
Theo quy định của pháp luật về thanh tra, Kết luận thanh tra đã ban hành
phải được đối tượng thanh tra và các tổ chức, cá nhân có liên quan nghiêm túc
chấp hành. Việc thi hành kết luận thanh tra, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước
phải tổ chức chỉ đạo, thi hành đúng, đầy đủ nội dung tại kết luận thanh tra và theo
đúng ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ. Trường hợp, đối
tượng thanh tra không đồng ý với quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh Q thì có
quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật Tố tụng Hành chính. Đối với vụ kiện
này, Thanh tra Chính phủ không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
nên không tham gia phiên tòa ngày 09/4/2026.
Bản án sơ thẩm số 04/2026/HC-ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án
nhân dân khu vực 6 – Quảng Trị quyết định:
Căn cứ khoản 1, 2 Điều 3; khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 2 Điều 116, điểm
b khoản 2 Điều 157, khoản 1, 2 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều
348 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 50 Luật thanh tra 2025, khoản 2 Điều 17 Luật tổ
chức chính quyền địa phương 2025, xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Đ về yêu cầu huỷ Quyết định
số: 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Q về việc thu hồi
kinh phí nộp Ngân sách nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm cn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương
sự.
Ngày 27/4/2026, nguyên đơn Công ty cổ phần Đ có đơn kháng cáo và ngày
05/6/2026, nguyên đơn có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung đề nghị Toà án
cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo và yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn với các lý do sau: các Quyết định của UBND tỉnh
Q về phê duyệt đầu tư, giấy chứng nhận đầu tư của Công ty Cổ phần Đ đang cn
giá trị pháp lý, chưa bị hủy bỏ hoặc thu hồi. Công ty Cổ phần Đ được giao đất lần
7
đầu theo quyết định 2163/QĐ-UBND ngày 23/10/2009 của UBND tỉnh Q có tổng
diện tích được giao là 117.618 m
2
, trong đó giao đất có thu tiền sử dụng đất là
84.446 m
2
. Tại Quyết định 2653/QĐ-UBND ngày 12/12/2011 của UBND tỉnh Q
về điều chỉnh giao đất đợt 1 và đợt 2 để xây dựng công trình khu đô thị M Quảng
Trị của Công ty CP Đ, tổng diện tích cả hai đợt là 272.215 m
2
, trong đó đợt 2 là
154.597 m
2
(bao gồm cả diện đất không thu tiền sử dụng đất). Tuy nhiên trong
kết luận thanh tra đã nêu: Với diện tích đất 84.466 m
2
(cấp năm 2009) gây thất
thoát 1.182.524.000 đồng; Đối với diện tích 272.215m
2
(cấp năm 2011) gây thất
thoát 12.932.894.000 đồng là có sự nhầm lẫn về diện tích được giao đợt hai (diện
tích giao đợt 1 bị tính 2 lần). Chủ tịch UBND tỉnh cũng không giải trình được số
tiền 14.115.418.000 đồng được tính toán dựa trên căn cứ nào ngoài kết luận thanh
tra trong khi kết luận thanh tra cũng không có lý giải cụ thể.
Mặt khác, diện tích đất mà Công ty CP Đ được giao lần đầu năm 2009 trước
khi Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 có hiệu lực nhưng Thanh tra
Chính phủ viện dẫn Nghị định này để buộc Doanh nghiệp dự án nộp tiền sử dụng
đất là trái pháp luật. Diện tích giao đợt hai là điều chỉnh ranh giới thực địa do kết
quả đo đạc độc lập, không gắn với hệ tọa độ Quốc gia. Như vậy, toàn bộ thửa đất
của Doanh nghiệp sử dụng dựa trên cơ sở Quyết định giao đất từ năm 2009 trước
khi có Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010.
Công ty CP Đ thực hiện Dự án khu đô thị mới do đó thuộc trường hợp được
Điều chỉnh tại Điều 3 Nghị định 120/2010 và Nghị quyết số 33/2008/NQ-UBND
ngày 31/12/2008 của Chính phủ.
Bản án sơ thẩm không phân tích đánh giá căn cứ pháp luật về lý do buộc
doanh nghiệp phải tiền sử dụng đất mà chỉ viện dẫn thẩm quyền ban hành Quyết
định số 1339/QĐ-UBND là trái với quy định tại khoản 3 Điều 191, điểm b khoản
2 Điều 194 Luật Tố tụng Hành chính.
Vì vậy, Công ty Cổ phần Đ kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm có văn bản
gửi Thanh tra Chính phủ làm rõ số tiền nói trên. Việc UBND tỉnh Q cấp giấy
chứng nhận đầu tư cho Doanh nghiệp với các ưu đãi ghi trong Điều 7 Giấy chứng
nhận đầu tư và Doanh nghiệp được hưởng các ưu đãi theo quy định của pháp luật
và không có lỗi trong việc nộp tiền không đúng. Vì những lý do trên, đề nghị chấp
nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm của Ta án nhân dân khu vực 6 - Quảng Trị,
chấp nhận yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025
của Chủ tịch UBND tỉnh Q.
Tại phiên ta, người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo. Người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện đề nghị Ta có công văn gửi Thanh tra
Chính phủ làm rõ số tiền nói trên. Sở dĩ UBND tỉnh ban hành Quyết định 1318 áp
dụng mức giá: Từ Quốc lộ vào sâu 20 mét: 560.000 đồng/m
2
; từ trên 20 đến 40
mét: 198.000 đồng/m
2
, từ trên 40 m đến 60 mét: 54.000 đồng/m
2
và từ trên 60 mét
trở lên là 40.000 đồng/m
2
. Đối chiếu quy định tại Quyết định 31 vị trí 1: 560.000
đồng/m
2
, vị trí 2: 198.000 đồng/m
2
tương ứng với đường phố loại 4c. Và với
đường 4c thì vị trí 4 là 54.000 đ/m
2
thay vì 40.000 đ/m
2
. Giá trên không đúng về
mặt logic so với quy định tại quyết định 31, tuy nhiên căn cứ vào đặc điểm khu
vực đất giao cho dự án thì phía tiếp giáp bờ sông là vùng đất trủng sâu, không có
đường nên UBND tỉnh căn cứ quyết định 31 áp giá tương đương, phù hợp với đặc
8
điểm của khu vực đất giao cho dự án, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Ngày 21/8/2026, Ta án nhân dân tỉnh đã có công văn số 712/TAND-HC
đề nghị Thanh tra Chính phủ có văn bản về một số nội dung kiến nghị liên quan
đến dự án Khu đô thị B được nêu tại Kết luận Thanh tra số 2282/KL-TTCP ngày
16/12/2019 của Thanh tra Chính phủ về việc quản lý, sử dụng đất đai, môi trường,
đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Ngày 05/9/2026, Thanh tra Chính phủ có Công văn 3163/TTCP-CII phúc
đáp với nội dung sau: Thực hiện chương trình kế hoạch thanh tra được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt, Thanh tra chính phủ đã tiến hành thanh tra và ban hành kết
luận 2282/KL-TTCP ngày 16/12/2019 theo quy định của Pháp luật về Thanh tra.
Kết luận Thanh tra đã được phó thủ tướng thường trực đồng ý giao cho Chủ tịch
UBND tỉnh thực hiện nội dung kết luận thanh tra nói trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc
chấp hành pháp luật tố tụng của Ta án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, hủy Quyết
định số 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Q để Chủ tịch
UBND tỉnh Q tính toán lại số tiền sử dụng đất, từ đó truy thu số tiền sử dụng đất
có căn cứ theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên
ta, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét các nội dung kháng cáo của kháng cáo của người khởi kiện liên quan
đến số tiền truy thu nộp Ngân sách nhà nước theo Quyết định 1339/QĐ-UBND
ngày 08/9/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Q, Hội đồng xét xử thấy:
[1.1]. Về trình tự thẩm quyền ban hành Quyết định số 1339/QĐ-UBND ngày
08/9/2025. Tại khoản 18 Điều 17 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương số
72/2025/QH15 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh:
“Ban hành quyết định, chỉ thị và các văn bản hành chính khác về những vấn đề
thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bãi bỏ, sửa đổi, bổ sung, thay thế văn bản
do mình ban hành khi xét thấy không còn phù hợp hoặc trái pháp luật”. Do đó,
việc Chủ tịch UBND tỉnh Q ban hành Quyết định số 1339/QĐ-UBND ngày
08/9/2025 là đúng thẩm quyền theo quy định.
[1.2] Về căn cứ ban hành Quyết định số 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025:
Ngày 16/12/2019, Thanh tra Chính phủ ban hành Kết luận thanh tra số:
2282/KL-TTCP về việc quản lý, sử dụng đất đai, môi trường, đầu tư xây dựng
trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có nội dung: “Thu hồi số tiền 14.257.482.000 đồng
(tiền sử dụng đất 14.115.418.000 đồng của Công ty cổ phần Đ và phí bảo vệ môi
trường của 29 chủ đầu tư là 142.064.000 đồng) về ngân sách nhà nước”. Và ngày
08/9/2025, Chủ tịch UBND tỉnh Q đã ban hành Quyết định số 1339/QĐ-UBND
về việc truy thu tiền sử dụng đất nhà nước đối với Công ty Cổ phần Đ số tiền
14.115.418.000 đồng.
9
Qua nghiên cứu các tài liệu hồ sơ vụ án thấy rằng: Ngày 25/8/2008, UBND
Tỉnh Q cấp giấy chứng nhận đầu tư cho Công ty Cổ phần Đ thực hiện dự án đầu
tư Khu đô thị M cổ Quảng Trị với mục tiêu, quy mô, tiến độ được quy định rõ
trong giấy chứng nhận đầu tư.
Về ưu đãi đầu tư được quy định tại Điều 7 Giấy chứng nhận Đầu tư: Giao
đất không thu tiền sử dụng đất đối với đất giao thông, đất xây dựng công trình văn
hóa, giáo dục y tế, thể dục thể thao phục vụ lợi ích cộng đồng và các công trình
không vì mục đích kinh doanh. Đây là các lĩnh vực được ưu đãi đầu tư theo quy
định tại các điểm 35,36,37,39 Mục VI phụ lục I. Phụ lục kèm theo Nghị định
108/2026/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ.
Khoản 2 Điều 7 giấy chứng nhận đầu tư ghi rõ: Thu tiền sử dụng đất theo
Quyết định 1318/QĐ-UBND ngày 17/8/2008 (gọi tắt là Quyết định 1318) của
UBND tỉnh quy định giá đất của khu kinh tế B cổ Quảng Trị. Quy định về giá đất
này dựa trên quyết định số 31/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007 (gọi tắt là Quyết
định 31) của UBND tỉnh Q ban hành hành giá đất và phân loại đường phố trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị. (Quyết định 31/2008/QĐ-UBND ngày 28/12/2008 có hiệu
lực từ 01/01/2008 đến 01/01/2009).
Theo đó, UBND tỉnh Q đã giao cho chủ dự án đầu tư 272.215 m
2
đất theo 2
đợt: Đợt 1 giao 117.638 m
2
trong đó đất ở: 84.466 m
2
và đất giao thông: 33.173
m
2
theo quyết định giao đất số 2163/QĐ-UBND ngày 23/10/2009 của UBND tỉnh
Q (gọi tắt là Quyết định 2163) và đợt 2 giao 154.577 m
2
theo Quyết định giao đất
số 2653/QĐ-UBND ngày 12/12/2011 (gọi tắt là quyết định 2653). Trong 272.215
m
2
đất theo 2 đợt có 168.879 m
2
đất ở, 20.856 m
2
đất sản xuất kinh doanh và
82.480 m
2
đất khác không thu tiền sử dụng đất. Như vậy, đất ở được giao theo
quyết định 2653 (đợt 2) là 84.413 m
2
.
Dự án khu đô thị B cổ Quảng Trị được UBND tỉnh giao đất theo các quyết
định giao đất ở các thời điểm khác nhau nhưng UBND tỉnh Q quy định thu tiền
sử dụng đất theo Quyết định 1318 riêng biệt áp dụng chung cho toàn bộ dự án là
không đúng so với quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn
thi hành về cách tính tiền sử dụng đất. Tiền sử dụng đất được tính tại thời điểm
giao đất.
Đối với khoản tiền truy thu 1.182.524.000 đồng thấy rằng: Quy định về giá
đất tại quyết định 1318 không đúng với Quyết định 31 ở chỗ: Theo nội dung Quyết
định 1318 thì giá đất ở theo khoảng cách so với Quốc lộ A: Từ Quốc lộ vào sâu
20 mét: 560.000 đồng/m
2
; từ trên 20 đến 40 mét: 198.000 đồng/m
2
, từ trên 40 m
đến 60 mét: 54.000 đồng/m
2
và từ trên 60 mét trở lên là 40.000 đồng/m
2
. Đối
chiếu quy định tại Quyết định 31 vị trí 1: 560.000 đồng/m
2
, vị trí 2: 198.000
đồng/m
2
tương ứng với đường phố loại 4c. Và với đường 4c thì vị trí 4 là 54.000
đ/m
2
thay vì 40.000 đ/m
2
như giá đất tại Quyết định 1318. Tuy nhiên, theo trình
bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện thấy rằng, khu
vực đất được giao theo quyết định 2163/QĐ- UBND ngày 23/10/2009 ở vị trí 4
chưa có đường, địa hình trũng sâu nên áp giá đất tương đương với đường 4f là
phù hợp. (vị trí 1:224.000 đ/m
2
; vị trí 2: 90.000/m
2
, vị trí 3 54.000 đ/m
2
và vị trí
4: 40.000đ/m
2
. Vì vậy, kết luận thanh tra căn cứ vào giá đất tại vị trí đất 1,2 được
10
quy định tại Quyết định 1318 để suy ra loại đường 4c, từ đó cho rằng áp giá sai
gây thất thoát 1.182.524.000 đồng là không có căn cứ.
Đối với số tiền thất thoát 12.932.894.000 đồng, nội dung kết luận thanh tra
nêu: “Đối với diện tích 272.215 m
2
đất được giao theo Quyết định số 2653/QĐ-
UBND ngày 12/12/2011. Trong đó: Đất ở 168.879 m
2
(vị trí 1: 468 m
2
, vị trí 2:
377 m
2
, vị trí 3: 1.105 m
2
, vị trí 4: 166.929 m
2
); đất SXKD 20.768 m
2
(vị trí 1:
2768 m
2
, 2, vị trí 2: 3466 m
2
, vị trí 3: 3511 m
2
, vị trí 4: 11.111 m
2
), nhưng UBND
tỉnh lại phê duyệt cho Công ty được nộp tiền theo giá đất năm 2008 (Quyết định
số 31/2007/QĐ-UBND ngày 28/12/2007) là không đúng quy định của Luật Đất
đai năm 2003, Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ,
đã làm thiệt hại ngân sách Nhà nước 12.932.894.000 đồng (17.910.010.000 đồng
- 4.977.116.000 đồng).”, Hội đồng xét xử thấy: Theo Quyết định số 2163/QĐ-
UBND ngày 23/10/2009 diện tích đất giao cho Công ty cổ phần Đ là 117.638 m
2
,
trong đó đất ở là 84.466 m
2
, đất giao thông 33.172 m
2
(Bút lục 153-154) và theo
Quyết định số 2653/QĐ-UBND ngày 12/12/2011 diện tích đất giao cho Công ty
cổ phần Đ là 154.577 m
2
(Bút lục 157-158). Do quá trình ban hành Kết luận Thanh
tra, Thanh tra Chính phủ có nhầm lẫn trong diện tích đất giao đợt 1 và đợt 2 cho
Công ty cổ phần Đ, khi xác định diện tích đất giao cho Công ty cổ phần Đ để thực
hiện dự án bị tính sai số tiền sử dụng đất ở đợt 2 là 168.879 m
2
mà lẽ ra diện tích
đất ở được tính đợt 2 là 84.413 m
2
. Theo kết luận thanh tra thì diện tích đất ở theo
quyết định giao đất số 2163 bị tính hai lần. Chủ tịch UBND tỉnh Q cần căn cứ vào
Quyết định ban hành giá các loại đất và phân loại đường phố, thị xã, thị trấn trên
địa bàn tỉnh Quảng Trị tại thời điểm giao đất để tính lại tiền sử dụng đất theo đúng
quy định.
Từ những nhận định trên thấy rằng: Việc thu hồi kinh phí nộp Ngân sách
nhà nước là có căn cứ tuy nhiên cần tính toán lại số tiền hợp lý, phù hợp với diện
tích đất được giao. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo, hủy Quyết định số 1339/QĐ-
UBND ngày 08/9/2025 về việc thu hồi kinh phí nộp Ngân sách nhà nước của Chủ
tịch UBND tỉnh Q để Chủ tịch UBND tỉnh Q tính lại số tiền buộc doanh nghiệp
nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
[2]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên nguyên đơn Công ty cổ phần
Đ không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định. Chủ tịch UBND
tỉnh Q phải chịu án phí Hành chính sơ thẩm theo luật định.
[3]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, không bị kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 30, 32 khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính, Điều 37,
49, 54, 55, 56 Luật Đất đai 2003, khoản 2 Điều 34 Nghị quyết 326/2016/NQ-
UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí
và lệ phí Ta án, tuyên xử:
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Đ, sửa bản án Hành
chính sơ thẩm số 04/2026/HC-ST ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Toà án nhân dân
khu vực 6 – Quảng Trị, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, hủy Quyết
11
định số: 1339/QĐ-UBND ngày 08/9/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh Q về việc thu
hồi kinh phí nộp Ngân sách Nhà nước để tính lại số tiền sử dụng đất theo đúng
quy định.
2. Về án phí hành chính:
- Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí sơ thẩm,
hoàn trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Công ty cổ phần Đ tại
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000592 ngày 08/10/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chủ tịch UBND tỉnh Q phải chịu án phí hành
chính sơ thẩm 300.000 đồng.
- Về án phí phúc thẩm: Công ty cổ phần Đ không phải chịu án phí phúc
thẩm theo quy định, hoàn trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí cho Công ty
cổ phần Đ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Ta án số 0002015 ngày
05/5/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 28/9/2026.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- TAND khu vực 6 – Quảng Trị;
- Phng THADS khu vực 6 - Quảng
Trị;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA, Toà HC.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Từ Thị Hải Dương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2026/HC-PT Bản án số 04/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất