Bản án số 06/2020/DS-PT ngày 25/02/2020 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 06/2020/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 06/2020/DS-PT ngày 25/02/2020 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Yên
Số hiệu: 06/2020/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/02/2020
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 06/2020/DS-PT
Ngày: 25/02/2020
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN N TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Quang.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Trúc và bà Vũ Ngọc Hà.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Thanh Trà Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n tỉnh Pn: Ông Văn Hùng -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 02 năm 2020 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 112/2019/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2019
về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Do bản án dân sự thẩm số:
106/2019/DS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2019 của Toà án nhân dân thành phố T
bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2019/-PT ngày 25 tháng 12
năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2020/QĐ-PT ngày 09 tháng 01
năm 2020; Thông báo mở lại phiên tòa số: 10/2020/TB-TA ngày 04 tháng 02
năm 2020; Thông báo mở lại phiên tòa số: 22/2020/TB-TA ngày 19 tháng 02
năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trương Thị Mỹ N, sinh năm 1982; Nơi trú: Thôn 1,
H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Ngô Minh T, sinh năm
1975; Địa chỉ: 265 H, Phường 5, Tp. T, tỉnh Phú Yên; Vắng mặt.
2. Bị đơn: Phan Thị Y, sinh năm 1966; Nơi trú: Tổ 3, khu phố L,
Phường 9, Tp. T, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
3. Người làm chứng: Bùi Thị Th; Nơi trú: Thôn Đ, H, huyện P,
tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Phan Thị Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tài liệu tại hồ , nguyên đơn Trương Thị Mỹ N
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lưu Thị Tuyết A trình bày:
Giữa Y N quan hệ mua bán thịt heo với nhau, Y mượn của
N nhiều lần số tiền 100.000.000đ và 05 chỉ vàng y. Đến ngày 15/9/2016 bà
2
Y đã trả chốt snợ còn lại 40.000.000đ 05 chỉ vàng y. Sau đó Y gửi
H1 trả cho bà N 05 chỉ vàng y, n lại 40.000.000đ chưa trả. Ngoài giấy cam
kết ngày 15/9/2016 thì không còn giấy tờ gì chứng minh khoản nợ giữa hai bên.
Việc bà Y cho rằng đã trả cho bà N 40.000.000đ bằng cách hàng tháng bà Y
đưa tiền cho N để N nộp tiền hcho Bùi Thị Th; N không biết
Th ai, không chơi hkhông chơi giúp Y chân huê nào với Th. Nay
bà N yêu cầu bà Y phải trả đủ số tiền 40.000.000đ và không yêu cầu trả lãi.
Bị đơn Phan Thị Y trình bày: Y quen N chỗ bạn hàng mua bán
thịt heo với nhau. Năm 2015, hai bên chốt nợ 100.000.000đ và 05 chỉ vàng y như
bà N trình bày là đúng. Đến năm 2016, bà Y trả cho bà N 30.000.000đ, không
viết giấy tờ gì, sau đó chơi 01 chân huê với chị N; thực chất chân huê này
chị N chơi, thay Y trả một lần khoản nợ cho N thì bà Y hàng tháng nộp
cho bà N 4.000.000đ để chơi chân huê này.
Trong khi đó, tháng 9/2016, con gái Y trả cho N 30.000.000đ và Y
xác nhận nợ tính đến ngày 15/9/2016 còn nợ N 40.000.000đ và 05 chỉ vàng y.
Cuối năm 2016, bà Y mang lên trả 05 chỉ vàng y cho bà N nhưng không có bà N
nhà nên bà gửi lại cho H1 trả thay. Số tiền nợ chơi chân hcó ttrước
với bà N, nộp được 12 tháng đến năm 2017 mới xong chân huê. Bà Bùi Thị Th
chủ cái huê N chơi, chính N người dẫn đến nhà mới biết nhà Th,
Y không trực tiếp nộp tiền huê cho Th đều đưa qua cho N nộp, mục
đích trừ nợ bà N. Hàng tháng N nộp 4.000.000đ nộp 12 tháng nhưng bà N
nói hlỗ nên Y nộp thêm 5.600.000đ nữa. Như vậy, Y đã trả xong số nợ
40.000.000đ nhưng khi đòi lại giấy nợ N lại nói còn số nợ 40.000.000đ. Việc
chơi huê cũng tin ởng lẫn nhau nên không viết giấy tờ , bà Y không có tài
liệu gì khác liên quan đến việc chơi huê. Nay N yêu cầu bà Y trả 40.000.000đ
bà Y không chấp nhận.
Người làm chứng bà Bùi Thị Th: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng
Th đều vắng mặt, không tiến hành lấy được lời khai.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 106/2019/DS-ST ngày 01 tháng 11 năm 2019
của Toà án nhân dân thành phố T đã quyết định:
Căn cứ các Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự 2015, Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14, tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Mỹ N đề ngày
07/12/2018.
Buộc bị đơn bà Phan Thị Y trả lại cho bà Trương Thị MN số tiền
40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) về khoản vay tài sản; ngoài ra, bản án
thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 14 tháng 11 năm 2019, bị đơn Phan Thị Y đơn kháng cáo toàn
bộ bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn Phan Thị Y giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo cho rằng đã trả đủ số tiền 40.000.000đ, không còn nợ bà N.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án
tại phiên tòa đã tiến hành tố tụng đúng pháp luật tố tụng dân sự, các đương sự
tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung vụ án: Bị đơn kháng
cáo, nhưng không xuất trình được chứng cứ, chứng minh sau ngày 15/9/2016 đã
trả cho nguyên đơn số tiền 40.000.000đ. Đề nghị Hội đồng xét xcăn cứ khoản
1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị
đơn bà Phan Thị Y - giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ tại hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ vào ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, người đại diện hợp pháp của nguyên
đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ ba nhưng vắng mặt, căn cứ Điều
228 BLTTDS năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về yêu cầu kháng cáo của bị đơn cho rằng đã trả số tiền nợ cho nguyên
đơn:
[2.1] Về số nợ: Nguyên đơn N, bị đơn Y thống nhất xác định tại giấy
nợ ngày 15/9/2016Y còn nợ N 40.000.000đ và 05 chỉ vàng y, sau đó Y
trả tiếp 05 chỉ vàng y.
[2.2] Việc trả nợ số tiền 40.000.000đ còn lại: N khẳng định Y chưa
trả. Còn bà Y cho rằng đã trả xong nợ, cụ thể: Hàng tháng, Y đưa cho N
4.000.000đ để bà N nộp tiền huê cho bà Th (chân huê này bà N là người chơi, bà
Th cái huê) nộp 12 tháng (đến năm 2017) nhưng bà N nói huê lỗ nên Y
nộp thêm 5.600.000đ nữa, xem như đã trả xong số tiền nợ 40.000.000đ. Nhưng
tại phiên tòa thẩm (Biên bản phiên tòa thẩm bút lục số 38) phiên tòa
phúc thẩm Y xác định việc Y đưa tiền cho N không giấy tờ, Th
không biết. Nay N không thừa nhận, Y cũng không xuất trình được chứng
cứ, chứng minh việc đưa tiền cho N mỗi tháng 4.000.000đ trong khoảng thời
gian 12 tháng. Do đó, không căn cứ để xác định sau ngày 15/9/2016 bà Y đã
trả cho N số tiền 40.000.000đ. Bản án thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền nợ 40.000.00 căn cứ,
đúng pháp luật. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ, Hội
đồng xét xử không thể thỏa mãn với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Phan Thị
Y.
[3] Về án phí: Bị đơn bà Phan Thị Y kháng cáo không được chấp nhận nên
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phan Thị Y; Giữ nguyên quyết
định của bản án sơ thẩm.
4
Áp dụng các Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết
số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Mỹ N. Buộc
bị đơn Phan Thị Y phải trả cho nguyên đơn Trương Thị Mỹ N s tiền
40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) về khoản vay tài sản.
Về án phí: Bị đơn Phan Thị Y phải chịu 2.000.000đ án phí dân sự
thẩm; 300.000đ án phí phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tại
biên lai thu tiền số 0015020 ngày 25 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.
Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng 1.000.000đ theo Biên lai thu tiền
số 0013270 ngày 21 tháng 01 năm 2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P,
tỉnh Phú Yên.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành
xong khoản tiền trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền thời gian chưa
thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án n
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Phú Yên (2);
- TAND TP. T (2);
- CCTHADS TP. T;
- CCTHADS huyện P;
- P.KTNV-THA;
- VP-TNV;
- Các đương sự;
- Lưu AV, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lương Quang
Tải về
Bản án số 06/2020/DS-PT Bản án số 06/2020/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất