Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 04/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 30/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng
Số hiệu: 04/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phạm Thi T - Nguyễn Văn H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 -HẢI PHÒNG
Bản án số: 04 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 7 - 2025
"V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do - Hạnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.
c Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hằng.
Ông Vũ Hồng Điệp .
- Thư ký phiên toà: Phùng Thị Mai - Thư ký a án nhân n khu vực
11, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, thành phố Hải Phòng
tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 11, Thành
phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số
92/2025/TLST-HNngày 20 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST- HNGĐ
ngày 20 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà giữa:
- Nguyên đơn: ChPhạm Thị T, sinh năm 1985; CCCD: 030185013660
Nơi ĐKHHTT: Thôn B, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay là Tn B, xã
Y, thành phHải Png);
Nơi hiện nay: Thôn N, T, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay Thôn N,
xã G, thành phố Hải Phòng). Có đơn xin xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; CCCD: 030080006031
Nơi trú: Thôn B, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay thôn B, Y,
thành phố Hải Phòng). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa
giải của nguyên đơn là chị Phạm Thị T trình bày:
Chị anh Nguyễn Văn H được tổ chức tìm hiểu, tnguyện kết hôn,
đăng kết hôn tại UBND L vào ngày 21/8/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng
sống chung cùng bố mẹ chồng 01 năm tại thôn B, L, huyện G. Sau đó vợ
chồng chị mua ao chuyển đổi xây nhà ra riêng tại thôn B. Vợ chồng chung
sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Anh Nguyễn Văn
H thường xuyên uống rượu với bạn bè về nhà đánh đập, chửi bới chị. Chị đã trao
2
đổi với mẹ chồng anh trai của anh H để khuyên bảo anh Huấn nhưng anh H
không thay đổi nên sau khi sinh cháu thứ ba vào năm 2012 thì vợ chồng chị
sống ly thân. Đến năm 2022 chị đi lao động xuất khẩu sang Nhật Bản mục đích
để lấy tiền trả nợ vợ chồng làm ao bị thua lỗ. Trước khi đi chị đã nói với anh
Huấn là khi trả nợ xong thì vợ chồng sẽ ly hôn. Anh H bảo chị mày đi đâu thì đi,
ly hôn thì ly hôn. Đến ngày 03/3/2025 chị hết hợp đồng về nước nhưng tình cảm
vợ chồng không hạnh phúc, anh H vẫn rượu chè thường xuyên về muộn. Nên
ngày 10/5/2025 chị về nhà mẹ đẻ thôn N, T, huyện G sống. Anh H đến
tìm ch vài lần nhưng chị xác định không còn tình cảm với anh Huấn nên không
về. Hai bên gia đình đều khuyên bảo hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị xác
định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung
không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được n chị xin được ly hôn
anh H.
Về con chung: Chị anh Huấn 03 con chung là: Nguyễn Văn Tr, sinh
ngày 08/10/2007; Nguyễn Thị Yến N, sinh ngày 23/09/2009; Nguyễn Thị Th,
sinh ngày 04/8/2012. Khi ly hôn, chị tôn trọng nguyện vọng của các con, ch
không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị anh H không tài sản chung, nợ
chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai anh Nguyễn Văn H trình bày:
Anh chị Nguyễn Thị T tự nguyện tìm hiểu kết hôn như chị Tuyết đã
trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn B, xã Lê, huyện G, tỉnh
Hải Dương hạnh phúc. Đến năm 2022 chị T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản
đến khoảng tháng 9/2024 chị T về Việt Nam thăm n chê anh nhà bẩn
thỉu, hôi hám. Chị T chỉ về khoảng 13 ngày sau đó lại sang Nhật Bản để làm
việc, sau đó chị T liên lạc ít hơn. Đầu tháng 3/2025 chị Tuyết về Việt Nam và về
nhà chung sống với anh nhưng cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt, anh nhiều lần hỏi
chị T nhưng chị T không trả lời, khoảng 1 tháng nay chị T đi đâu anh không biết
chị T chặn liên hệ với anh. Chị T khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn
anh không có ý kiến, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh chị T 03 con chung là: Nguyễn n Tr, sinh
ngày 08/10/2007; Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 23/09/2009; Nguyễn Thị Th,
sinh ngày 04/8/2012. Sau khi ly hôn anh tôn trọng nguyện vọng của các con, nếu
các con nguyện vọng với anh thì anh nhất tkhông yêu cầu chTuyết
cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị T không có tài sản chung, nợ chung
nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh xác định không đến Toà án làm việc
đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt không kết bất kỳ văn bản nào khi làm
việc với Toà án.
Tại biên bản ghi lời khai của bà Lê Thị T1 (mẹ đẻ chị T) trình bày:
3
Chị Phạm Thị T anh Nguyễn Văn H được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết
hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L vào ngày 21/8/2006. Sau khi kết hôn vợ
chồng chị T chung sống với bố mẹ đẻ anh H 01 năm sau đó ra ở riêng.
Về thời gian cụ thể xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng chị T không biết, ch
biết thời gian chị T sinh cháu thứ 3 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, anh H gọi
sang để phân tích cho chị T chị T muốn bỏ đi, anh H níu kéo con còn
nhỏ, chị T chịu đựng vẫn ở cùng với anh Huấn, sau này bà mới biết anh chị sống
với nhau nhưng không hạnh phúc. Vợ chồng ly thân từ lâu. Khi chị T quyết
định đi nước ngoài để lấy tiền trả nợ, nay chT vnước nhưng cuộc sống vợ
chồng không hạnh phúc nên đã về nhà sống từ ngày 10/5/2025 đến nay.
gia đình đều khuyên chị T về sống cùng với anh H anh H cũng đến
để khuyên chị T quay về nhưng chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn
nên không về. Nay chị T xin ly hôn anh H, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định pháp luật.
Chị T anh H 03 con chung Nguyễn Văn Tr sinh ngày
08/10/2007; Nguyễn Thị Yến Nh sinh ngày 23/09/2009 Nguyễn Thị Th
sinh ngày 04/8/2012. Hiện nay các cháu đang sống cùng anh Huấn
Nếu Tòa án giải quyết cho chị T anh H ly hôn đề nghị Tòa án giao
con chung cháu Nguyễn Thị Y Nguyễn Thị Th cho chị Tuyết chăm sóc,
giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu thành niên (đủ 18 tuổi), gia đình
sẽ có trách nhiệm trông nom chăm sóc cháu trong khi chị T đi làm hoặc có công
việc bận. Điều kiện ăn của gia đình đầy đủ, đáp ứng được toàn bộ các nhu
cầu cho sự phát triển tự nhiên, học tập của các cháu.
Tại Biên bản xác minh tại công an xã L và cơ sở thôn xác định: anh Nguyễn
Văn H chị Phạm Thị T sau khi kết hôn sinh sống tại thôn B, L, huyện G,
tỉnh Hải Dương. Quá trình vợ chồng chung sống địa phương không nắm được
mâu thuẫn do vchồng anh H chị T chưa xảy ra xát lớn hay nh chính
quyền địa phương hoà giải. Hiện nay chị T đã về nhà mẹ đẻ tại Toàn Thắng,
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương sinh sống.
Tại bản tự khai cháu Nguyễn Thị Yến Nh, Nguyễn Văn Tr trình bày
nguyện vọng được ở với bố; cháu Nguyễn Thị Th có nguyện vọng ở với mẹ.
Tại phiên tòa, chị Phạm Thị T vắng mặt đơn xin xét xử vắng mặt giữ
nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện VKSND khu vực 11 Hải Phòng phát biểu ý kiến: Việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, HĐXX,
Thư ký Tòa án từ khi thu lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị
án đều được đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật, bị
đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.
* Hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình, Điều
4
147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024
của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật
trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình; Luật phí
lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị T, cho
chị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 08/10/2007
và Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 23/9/2009 cho anh Nguyễn Văn H nuôi
dưỡng; con chung là Nguyễn Thị Th, sinh ngày: 04/8/2012 cho chị Phạm Thị T
nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tnguyện của anh H, chị T: Không ai phải cấp dưỡng
nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Tuyết chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị
T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, giải quyết con chung
tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án;
Bđơn anh Nguyễn Văn H trú tại: B, L, huyện G, tỉnh Hải Dương (nay
Y, thành phố Hải Phòng), nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân n khu vực 11 Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Chị Phạm Thị T đơn đ nghị xét xử vắng mặt, anh
Nguyễn Văn H vắng mặt lần thứ hai không do. Do vậy căn cứ khoản 1
Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T và anh H.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T anh Nguyễn Văn H kết hôn
trên sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân L, huyện G, tỉnh Hải Dương
(nay Y, thành phố Hải Phòng) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày
21/8/2006, nên theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật hôn nhân gia đình,
đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, các tài liệu, chứng cứ do
nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ cơ sở xác định:
Quá trình chung sống, chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Văn H đã phát sinh
mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng được thể hiện cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt,
không có tiếng nói chung, hai bên không trao đổi, chia sẻ. Chị T xác định không
còn tình cảm với anh H, hiện chị đang sống cùng bố mẹ đẻ tại thôn N, xã T. Quá
5
trình làm việc với tòa án anh H có quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết theo quy
định của pháp luật.
[5] Xét thấy quá trình chung sống, chị T và anh H đã xảy ra mâu thuẫn,
đời sống vợ chồng lạnh nhạt, vchồng sống ly thân thời gian dài, đến nay mâu
thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Bản thân anh H cũng
không biện pháp tích cực để khắc phục mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ
chồng. Tại các buổi lảm việc, hòa giải, phiên tòa do Tòa án triệp tập anh H đều
vắng mặt, điều đó chứng tỏ anh không mong muốn được đoàn tụ cùng chị T. Do
vậy, căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tuyết xử cho chị T được ly hôn anh H.
[6] Về con chung: Chị T anh H 03 con chung là: Nguyễn Văn Tr,
sinh ngày 08/10/2007; Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 23/09/2009; Nguyễn Thị
Th, sinh ngày 04/8/2012 hiện nay đang vi anh H. Chị T anh H đều có
quan điểm tôn trọng nguyện vọng ca các con và không u cầu cấp dưỡng
nếu nuôi con chung. Các cháu Nguyễn Thị Yến Nh, Nguyễn Văn Tr trình bày
nguyện vọng được với bố; cháu Nguyễn Thị Th có nguyện vọng với mẹ sau
khi bố mẹ ly hôn.
Hội đồng xét x thấy các cháu Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Thị Yến Nh,
Nguyễn Thị Th đều đã trên 7 tuổi; cháu Trung và cháu Yến Nh trình bày
nguyện vọng xin được bố; cháu Nguyễn Thị Th có nguyện vọng với mẹ.
Ch T anh H đu quan điểm tôn trọng nguyện vọng của c con không
u cầu cấp dưỡng nếu nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận
u cầu của chT và anh H, giao cháu Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Thị Yến Nh
cho anh H trực tiếp ni dưỡng; giao cháu Nguyễn Thị Th cho chị T trực tiếp
nuôi dưỡng. ChT anh H kng phải cấp dưỡng tiền ni con chung.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T anh H không tài sản chung
nên không yêu cầu giải quyết.
[8] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn thẩm theo quy định của
pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn H được
quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271;
Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 39 B luật dân sự;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm
2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định
6
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí và lệ phí Tòa án
của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị T.
1. Về quan hệ n nhân: Xử cho chị Phạm Thị Tuyết được ly hôn anh
Nguyễn Văn H
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 08/10/2007;
Nguyễn Thị Yến Nh, sinh ngày 23/09/2009 cho anh H trực tiếp ni ỡng đến
khi mỗi con trưởng thành. Giao cháu Nguyễn Thị Th, sinh ngày 04/8/2012 cho
chị T trực tiếp nuôi ỡng đến khi trưởng thành. ChT và anh H không phải
cấp dưỡng tiền ni con chung.
Ch T anh H quyền đi lại thăm nom con chung không ai được ngăn
cản.
3. Ván phí: Ch Phạm Thị T phải chịu 300.000
đ
án phí ly hôn sơ thẩm, đưc
đối tr vào số tiền tm ng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000
đ
theo bn lai số
0000722 ngày 20/5/2025 ca Chi cục Thi nh án dân shuyện Gia Lộc, tỉnh Hi
Dương (nay Phòng thi hành ánn sự khu vực 11 Hi Png). Chị Phạm Thị T
đã nộp xong án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T anh Nguyễn Văn H được
quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 11 – Hải Phòng;
- Chi cục THA dân sự khu vực 11 Hải
Phòng;
- UBND xã Yết Kiêu Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Khánh Thiện
7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Khánh Thiện
Tải về
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất