Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 03/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 03/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 03/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/01/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 03 /2026/DS-PT
Ngày 07 01 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Toàn.
Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình, bà Nguyễn Thị Thu Trang.
- Thư phiên tòa: Nông Thị Quỳnh Hoa - Thư Tòa án nhân n
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân n tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông
Phan Văn Công - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án thụ lý số: 304/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do kháng cáo của bị đơn Đặng Thị T đối với Bản án sơ thẩm số
19/2025/DS-ST ngày 30/5/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk
Lắk (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Đắk Lắk).
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 426/2025/QĐ-PT
ngày 25/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 398/2025/QĐ-PT ngày
25/12/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Thị Diệu N, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 15 Bế Văn
Đ, tổ dân phố 4, phường AL, thị xã BH, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường BH, tỉnh
Đắk Lắk), vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đỗ M, sinh năm
1983; địa chỉ: Số 136 đường AK, phường B, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
* Bị đơn: Bà Đặng Thị T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số 19 Lê Văn H, tổ dân
phố 1, phường ĐK, thị BH, tỉnh Đắk Lắk (Nay là phường BH, tỉnh Đắk
Lắk), vắng mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Minh H, sinh năm 1995;
địa chỉ: Số 18 đường số 03, KDC H, phường 5, quận G, thành phố H Chí
Minh (Nay là phường AN, thành phố Hồ Chí Minh), đơn xin xét xử vắng
mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
2
+ Ông Lê Hà Long V, sinh năm 1996 mặt;
+ Ông Trần Văn N, sinh năm 1992 Có mặt;
Đều Luật sư thuộc Công ty luật TNHH VP; địa chỉ: Số 18 đường số 03,
KDC H, phường 5, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường AN, thành
phố Hồ Chí Minh).
* Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Thị
Diệu N và người đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Do mối quan hệ quen biết với nhau, bà T cần một số vốn làm ăn nên đã vay
của N số tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng). Cụ
thể như sau:
Ngày 11/01/2022 Âm lịch (tức ngày 11/02/2022 Dương lịch) T vay của
bà N số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 11/01/2023 Âm lịch (tức ngày
01/02/2023 Dương lịch).
Ngày 25/7/2022 Âm lịch (tức ngày 22/8/2022 Dương lịch) T vay của bà
N số tiền 135.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 25/8/2022 Âm lịch (tức ngày
20/9/2022 Dương lịch), khoản vay này được lập thành 02 giấy vay tiền (một
giấy ghi vay số tiền 35.000.000 đồng; 01 giấy ghi vay số tiền 100.000.000
đồng).
Ngày 29/6/2022 Âm lịch (tức ngày 27/7/2022 Dương lịch) T vay của bà
N số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 28/7/2022 Âm lịch (tức ngày
25/8/2022 Dương lịch).
Ngày 19/10/2022 Âm lịch (tức ngày 12/11/2022 Dương lịch) T vay của
N số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 28/10/2022 Âm lịch (tức
ngày 21/11/2022 Dương lịch).
Ngày 13/12/2022 Âm lịch (tức ngày 04/01/2023 Dương lịch) T vay của
bà N số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 12/01/2023 Âm lịch (tức ngày
02/02/2023 Dương lịch).
Ngày 23/12/2022 Âm lịch (tức ngày 14/01/2023 Dương lịch) T vay của
bà N số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 22/01/2023 Âm lịch (tức ngày
12/02/2023 Dương lịch).
Ngày 23/12/2022 Âm lịch (tức ngày 14/01/2023 Dương lịch) T vay của
bà N số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 23/01/2023 Âm lịch (tức ngày
13/02/2023 Dương lịch).
Ngày 27/12/2022 Âm lịch (tức ngày 18/01/2023 Dương lịch) T vay của
bà N số tiền 95.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 27/01/2023 Âm lịch (tức ngày
17/02/2023 Dương lịch); khoản vay này được lập thành 02 giấy vay tiền (một
giấy ghi vay số tiền 35.000.000 đồng; 01 giấy ghi vay số tiền 60.000.000 đồng).
3
Ngày 16/7/2023 Âm lịch (tức ngày 31/8/2023 Dương lịch) T vay của bà
N số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 26/7/2023 Âm lịch (tức ngày
10/9/2023 Dương lịch).
Năm 2022 và năm 2023 T đã trả cho Thị Diệu N số tiền
85.000.000 đồng còn lại số tiền là 510.000.000 đồng. T xin trả số tiền còn lại
cho N vào ngày 26/7/2023 Âm lịch (tức ngày 10/9/2023 Dương lịch) nhưng
đến nay bà T mới chỉ trả cho bà N được 160.000.000 đồng. Cụ thể:
Ngày 24/6/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 50.000.000 đồng
Ngày 30/6/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 20.000.000 đồng
Ngày 11/7/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 12/7/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 25/7/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 20.000.000 đồng
Ngày 12/8/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 13/8/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 05/9/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 09/9/2024 bà T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Ngày 19/9/2024 T đã trả cho bà N số tiền 10.000.000 đồng
Tại phiên tòa, nguyên đơn xác định lại khoản 10.000.000 đồng mà bị đơn
đã trả vào ngày 19/9/2024 do nhầm lẫn, ngày trả khoản này ngày
19/10/2024.
Số tiền còn lại 350.000.000 đồng T vẫn chây không chịu trả nợ cho
bà N.
vậy, N khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc Đặng Thị T
nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 350.000.000 đồng tiền gốc.
Về lãi suất, theo đơn khởi kiện qtrình giải quyết vụ án, thì bà N yêu
cầu tính lãi suất với mức lãi 20%/năm kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho
đến khi trả hết nợ. Tại phiên toà thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu tính lãi
suất, với mức lãi suất 10%/năm, kể từ ngày 11/9/2023 đến ngày xét xử thẩm
(ngày 30/5/2025) tiếp tục nh lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến
khi bà T trả hết nợ gốc cho bà N.
Nguyên đơn bà Thị Diệu N trình bày: Nhất trí với ý kiến trình bày của
người đại diện theo uỷ quyền, không có ý kiến bổ sung gì khác.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Đặng Thị T và người đại diện theo
uỷ quyền trình bày:
T thừa nhận vay tiền của N bằng các giấy vay tiền mà N cung
cấp kèm theo đơn khởi kiện. Tuy nhiên, T xác định đã trả hết cho N bằng
tiền mặt với số tiền gốc 350.000.000 đồng N đang khởi kiện; T khẳng
định bà không còn nợ N số tiền nào nữa. Bà T không có tài liệu chứng cứ nào
4
chứng minh cho việc đã trả hết tiền cho bà N bằng tiền mặt. Do khi T trả tiền
cho N, không lập giấy tờ trả tiền, cũng không yêu cầu huỷ các giấy vay
tiền mà bà đã vay.
T cho rằng việc N khởi kiện không căn cứ, bởi lẽ, sau các lần
vay tiền, T đã thanh toán trả đầy đủ số tiền vay theo các giấy vay nợ. Nếu
số tiền vay chưa trả thì phải được cộng dồn vào các lần sau chứ không thể lập
giấy vay nmới nhưng nợ vẫn còn, hơn nữa thời hạn vay các khoản nợ
ngắn hạn. Nếu bà T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thì lần sau sao lại được
N tiếp tục cho vay. Trường hợp tại thời điểm đó, T đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ thì bà N đã phải chấm dứt việc cho vay đối với bà.
Ngoài ra, do giữa hai bên làm ăn với nhau nên có những lần T nhờ N
chuyển khoản cho cho những người khác (theo bảng sao mà N đã
cung cấp cho Toà án). Tuy nhiên, các giao dịch chuyển khoản này không liên
quan đến việc vay mượn tiền mặt giữa hai bên. Vì vậy, bà T không có yêu cầu
đối với những người mà bà đã nhờ bà N chuyển khoản vì họ không có liên quan.
Tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn xác định khoản tiền cho bị đơn vay
của nhân nguyên đơn, không phải tài sản chung của gia đình hay liên quan
đến ai khác. Về yêu cầu khởi kiện, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện về số tiền nợ gốc. Về lãi suất, yêu cầu buộc bị đơn phải trả mức lãi suất
10%/năm, kể từ ngày 11/9/2023 đến ngày xét xử thẩm (ngày 30/5/2025) và
tiếp tục tính lãi suất theo quy định của pháp luật cho đến khi T trả hết nợ gốc
cho bà N
Tại Bản án thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 30/5/2025 của Tòa án
nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án nhân dân Khu vực
8 Đắk Lắk) đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều
466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết s326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị
Diệu N.
Buộc bị đơn bà Đặng Thị T phải trả cho bà Lê Thị Diệu N tổng số tiền tính
đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/5/2025) là 410.180.555 đồng (Bốn trăm mười
triệu, một trăm tám mươi ngàn, năm trăm lăm mươi năm đồng), trong đó: Tiền
nợ gốc là 350.000.000 đồng, tiền lãi là 60.180.555 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
5
đương sự theo quy định của pháp luật.
* Kháng cáo: Ngày 09/6/2025, bị đơn bà Đặng Thị T kháng cáo toàn bản
án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ
nguyên nội dung đơn khởi kiện. Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt và
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Chấp nhận
việc trả nợ gốc 350.000.000 đồng và xin không trả khoản lãi suất. Nếu nguyên
đơn không đồng ý thì cần xem xét số tiền nợ gốc 350.000.000 đồng nguyên đơn
khởi kiện hai bên chưa xác định, đối chiếu nợ nên việc quyết định của Bản
án sơ thẩm giải quyếtchưa phù hợp. Về phần lãi suất, khi vay các bên không
thỏa thuận lãi suất cấp thẩm tính lãi suất chậm trả không phù hợp
quan hệ vay nợ của các bên là từ việc mua bán sầu riêng nên các bên có vay nợ
bằng nhiều hình thức. Việc Tòa án cấp thẩm thực hiện việc xem xét thẩm
định tại chỗ đối với đất của bị đơn, trong khi không thông báo cho bị đơn
không đúng, gây tâm hoang mang cho bị đơn. vậy, đề nghị Hội đồng xét
chấp nhận kháng cáo của bị đơn sửa một phần bản án sơ thẩm về phần lãi suất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa
phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng
xét xThư đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các
đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong hồ
vụ án tranh tụng tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử
căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Không chấp nhận
toàn bộ kháng cáo của bị đơn – Giữ nguyên toàn bộ Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm
sát:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của Đặng Thị T nộp trong thời
hạn luật định đã nộp tạm ứng án phí. Do đó, Tòa án nhân nhân tỉnh Đắk Lắk thụ
lý và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Đặng Thị T đại diện theo ủy quyền
bà Trần Thị Minh Huệ vắng mặt nhưng bà H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Do đó, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N và bà H.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Đặng Thị T, thì thấy:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đa thu thập trong hồ sơ vụ án và lời
khai của các đương sự đều thừa nhận: Trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến
6
năm 2023, bà Lê Thị Diệu N cho bà Đặng Thị T vay tiền nhiều lần, với tổng số
tiền 595.000.000 đồng (Năm trăm chín mươi lăm triệu đồng). Cụ thể như sau:
- Ngày 11/01/2022 Âm lịch (tức ngày 11/02/2022 Dương lịch) T vay
của N số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 11/01/2023 Âm lịch (tức
ngày 01/02/2023 Dương lịch).
- Ngày 25/7/2022 Âm lịch (tức ngày 22/8/2022 ơng lịch) bà T vay của
N số tiền 135.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 25/8/2022 Âm lịch (tức
ngày 20/9/2022 Dương lịch), khoản vay này được lập thành 02 giấy vay tiền
(một giấy ghi vay số tiền 35.000.000 đồng; 01 giấy ghi vay số tiền 100.000.000
đồng).
- Ngày 29/6/2022 Âm lịch (tức ngày 27/7/2022 ơng lịch) T vay của
bà N số tiền 70.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 28/7/2022 Âm lịch (tức ngày
25/8/2022 Dương lịch).
- Ngày 19/10/2022 Âm lịch (tức ngày 12/11/2022 Dương lịch) T vay
của N số tiền 110.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 28/10/2022 Âm lịch
(tức ngày 21/11/2022 Dương lịch).
- Ngày 13/12/2022 Âm lịch (tức ngày 04/01/2023 Dương lịch) T vay
của N số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 12/01/2023 Âm lịch (tức
ngày 02/02/2023 Dương lịch).
- Ngày 23/12/2022 Âm lịch (tức ngày 14/01/2023 Dương lịch) T vay
của N số tiền 15.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 22/01/2023 Âm lịch (tức
ngày 12/02/2023 Dương lịch).
- Ngày 23/12/2022 Âm lịch (tức ngày 14/01/2023 Dương lịch) T vay
của N số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 23/01/2023 Âm lịch (tức
ngày 13/02/2023 Dương lịch).
- Ngày 27/12/2022 Âm lịch (tức ngày 18/01/2023 Dương lịch) T vay
của N số tiền 95.000.000 đồng, thời hạn trả là ngày 27/01/2023 Âm lịch (tức
ngày 17/02/2023 Dương lịch); khoản vay này được lập thành 02 giấy vay tiền
(một giấy ghi vay số tiền 35.000.000 đồng; 01 giấy ghi vay số tiền 60.000.000
đồng).
- Ngày 16/7/2023 Âm lịch (tức ngày 31/8/2023 ơng lịch) T vay của
N số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn trả ngày 26/7/2023 Âm lịch (tức
ngày 10/9/2023 Dương lịch).
Tại thời điểm vay, các khoản vay nêu trên đều được hai bên xác lập giấy
vay/mượn tiền, thoả thuận về thời hạn trả nợ nhưng không thỏa thuận về lãi
suất.
Các tình tiết nêu trên đều được các đương sự thừa nhận nên không phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Xét lời khai của nguyên đơn cho rằng, kể từ ngày vay các khoản vay
nêu trên cho đến ngày 10/9/2023 bị đơn mới trả cho nguyên đơn tổng số tiền
7
245.000.000 đồng (trong đó thanh toán bằng tiền mặt 85.000.000 đồng
chuyển khoản 160.000.000 đồng) còn nợ lại số tiền gốc 350.000.000
đồng. Trong khi đó, quá trình giải quyết vụ án bị đơn lại cho rằng bị đơn đã trả
hết nợ cho nguyên đơn, các khoản vay đều ngắn hạn phải trả hết khoản vay
trước thì mới cho vay các khoản vay tiếp theo, đến nay bị đơn không còn nợ
nguyên đơn; nhưng lúc thì bị đơn cho rằng đã thanh toán bằng tiền mặt, lúc thì
cho rằng đã trả bằng hình thức chuyển khoản cung cấp các sao chuyển
khoản từ tài khoản của bà T một số tài khoản khác sang cho N với tổng
số tiền 1.076.180.000 đồng, cộng với số tiền 85.000.000 đồng tiền mặt mà phía
nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả từ năm 2022 và năm 2023. Hội đồng xét xử
thấy rằng:
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn thừa nhận chữ ký, chviết trong các
giấy vay tiền (tổng số tiền vay là 595.000.000 đồng) mà nguyên đơn khởi kiện
do b đơn viết ra. Mặc bị đơn cho rằng đã trả hết tổng số tiền
595.000.000 đồng bằng hình thức trả tiền mặt nhưng lại không cung cấp được
chứng cứ chứng minh việc đã trả nợ. Căn cứ vào các sao kê chuyển khoản từ tài
khoản của T một số tài khoản khác sang cho N với tổng số tiền
1.076.180.000 đồng, cộng với số tiền 85.000.000 đồng tiền mặt mà nguyên đơn
thừa nhận bị đơn đã trả từ năm 2022năm 2023, tổng số tiền T đã chuyển
trả bằng hình thức chuyển khoản đưa tiền mặt cho N 1.161.180.000
đồng. Trong khi đó, nguyên đơn cung cấp sao chuyển khoản từ số tài khoản
của N đến số tài khoản của T các số tài khoản khác 1.349.670.000
đồng, cộng với số tiền 595.000.000 đồng tiền mặt mà nguyên đơn xác định đã
giao cho bị đơn theo các giấy vay tiền thì tổng số tiền bà N đã chuyển khoản và
đưa trực tiếp bằng tiền mặt cho T 1.944.670.000 đồng. Như vậy, tổng số
tiền mà bà N chuyển khoản và đưa tiền mặt cho T vẫn lớn hơn so với số tiền
mà bà T chuyển khoản và trả tiền mặt cho bà N là 783.490.000 đồng. Do đó, bị
đơn cho rằng đã trả hết nợ cho nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Như vậy, có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ năm 2022 đến năm
2023, Thị Diệu N cho Đặng Thị T vay tiền nhiều lần, với tổng số tiền
595.000.000 đồng. Tổng các khoản nợ nêu trên được xác lập bằng nhiều giấy
vay, mượn tiền với thời hạn trả nợ khác nhau, trong đó thời hạn trả nợ của
khoản vay sau cùng là ngày 10/9/2023, do đó nguyên đơn đề nghTòa án tính
lãi suất của các khoản vay kể từ ngày 11/9/2023 là hoàn toàn tự nguyện, không
trái quy định của pháp luật có lợi cho bị đơn. Tính đến ngày 10/9/2023 bị
đơn mới trả cho nguyên đơn tổng số tiền là 245.000.000 đồng, còn nợ lại số
tiền gốc là 350.000.000 đồng. Mặc dù, quá thời hạn trả nợ nhưng bà T vẫn chưa
trả nợ cho bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn ông Trần Văn Nam ông Long Vân đề nghị được trả số tiền nợ
gốc 350.000.000 đồng xin không trả lãi suất, tuy nhiên phía nguyên đơn
khôgn đồng ý và đnghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ông
Nam cho rằng đây vụ án tranh chấp hợp đồng vay taì sản nhưng Tán cấp
thẩm tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với quyền sử dụng đất của bị
8
đơn không đúng, không cần thiết, gây hoang mang tâm cho bị đơn. Hội
đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đơn đề nghị
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”
đối với quyền sử dụng đất thửa đất số 129, tờ bản đồ số 21 được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số DL529214 ngày 27/4/2023 mang thên
Đặng Thị T. Do đó, để có căn cứ xác định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
theo đơn yêu cầu của bà N hay không, a án cấp thẩm tiến hành xác minh
và xem xét thẩm định tại chỗ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, nhận định trên xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để buộc bị đơn phải trả tổng số tiền
410.180.555 đồng, trong đó 350.000.000 đồng nợ gốc 60.180.555 đồng tiền
lãi (tính từ ngày 11/9/2023 đến ngày xét xử thẩm 30/5/2025) và khoản lãi
suất của khoản vay kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm đến khi thi
hành án xong hoàn toàn căn cứ. Do đó, không căn cứ đchấp nhận
kháng cáo của bị đơn mà giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[3] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí n sphúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
Đặng Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn co khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo ca bị đơn bà Đặng Thị T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 19/2025/DS-ST ngày 30/5/2025 của a án
nhân dân thị Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk (Nay Tòa án nhân dân Khu vực 8
Đắk Lắk).
[2] Căn cứ vào Điều 144, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 357, Điều 463, Điều 465, Điều
466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị
Diệu N.
Buộc bị đơn bà Đặng Thị T phải trả cho bà Lê Thị Diệu N tổng số tiền tính
đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/5/2025) là 410.180.555 đồng (Bốn trăm mười
triệu, một trăm tám mươi ngàn, năm trăm lăm mươi năm đồng), trong đó: Tiền
nợ gốc là 350.000.000 đồng, tiền lãi là 60.180.555 đồng).
9
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn Thị Diệu N không phải
chịu án phí dân sự thẩm. Hoàn trả lại cho Thị Diệu N số tiền tạm ứng
án pđã nộp 10.599.440 đồng theo biên lai thu tạm ng án phí số 0001791
ngày 07/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn Đặng Thị T phải chịu 20.407.222 đồng tiền án phí dân sự
thẩm.
[3.3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc Đặng Thị T phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng bà T đã nộp tạm
ứng theo Biên lai thu số 0004276 ngày 12/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự
thị Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk (Nay Phòng thi hành án dân sự Khu vực 8
Đắk Lắk).
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi
hành án n sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Tòa pc thẩm TANDTC ti Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 8 Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 8 Đắk Lắk ;
- Các đương sự;
- Cổng thông tin điện tử Tòa án;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trịnh Văn Toàn
Tải về
Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 03/2026/DS-PT Bản án số 03/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất