Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 02/2025/HNGĐ-ST
Tên Bản án: | Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 20/01/2025 của TAND huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND huyện Krông Pắk (TAND tỉnh Đắk Lắk) |
Số hiệu: | 02/2025/HNGĐ-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 20/01/2025 |
Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Văn Nhất Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/09/2015. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn…chị L yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Văn Nhất Th và nguyện vọng nuôi con chung Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG PẮC
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày 20/01/2025
V/v “Tranh chp hôn nhân và gia đình”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan; Bà Trịnh Thị Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Krông Pắc.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tham gia phiên tòa: Bà
Nguyễn Thùy Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20/01/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ
thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 438/2024/TLST-
HNGĐ, ngày 01/11/2024, về việc “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/12/2024
và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/01/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1991
Nơi cư trú: Số y đường H, tổ dân phố z, phường X, thành phố B, tỉnh Đắk
Lắk;
Chỗ ở hiện nay: Số n đường K, phường X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nhất Th, sinh năm: 1990
Nơi cư trú: Thôn Ch, xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk;
Địa chỉ liên lạc: số m đường V, phường l, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
(Các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong
hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Ý kiến của nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị Thanh L:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Văn Nhất Th yêu nhau trên cơ
sở tình yêu tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa
2
phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện P tỉnh Đắk Lắk vào ngày
21/09/2015. Sau kết hôn chúng tôi chung sống tại đường L, xã E (nhà nay đã
bán), sau đó thuê nhà ở; Hiện nay tôi đang ở phường X, thành phố B. Trong quá
trình chung sống từ năm 2021 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên
nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu
thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho
đến nay.
Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, mục
đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Nguyện
vọng của tôi xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nhất Th.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có một con chung là
cháu Nguyễn Ngọc Bảo Th sinh ngày 24/8/2016. Nguyện vọng của tôi là được
trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày
24/8/2016 đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Ý kiến của bị đơn - Anh Nguyễn Văn Nhất Th:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và chị Nguyễn Thị Thanh L yêu nhau trên cơ sở
tình yêu tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương
và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
21/09/2015. Sau kết hôn chúng tôi chung sống tại đường L, xã E (nhà nay đã bán),
sau đó thuê nhà ở; Hiện nay chúng tôi vẫn đang ở chung nhà thuê. Trong quá trình
chung sống vợ chồng không có mâu thuẫn gì, đến năm 2021 do ảnh hưởng của
dịch bệnh nên đã ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình và tình cảm của vợ chồng.
Hiện nay tôi làm việc tại thành phố L, tỉnh Lâm Đồng, tôi đi làm và ở tại Lâm
Đồng chứ chúng tôi không sống ly thân.
Nay chị L có đơn xin ly hôn thì nguyện vọng của tôi là không đồng ý ly
hôn, vì con chúng tôi còn nhỏ, tôi muốn con lớn lên trong gia đình có đầy đủ bố
và mẹ. Trong trường hợp chị L cương quyết ly hôn và Toà án xử ly hôn thì tôi có
nguyện vọng xin được nuôi con chung.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chúng tôi có một con chung là
cháu Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016. Nguyện vọng tôi là được trực
tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung cháu Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày
24/8/2016 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu
cầu Tòa án giải quyết.
Trường hợp chị L nhận nuôi con mà cam kết nếu chị L đi bước nữa sẽ giao
con cho tôi nuôi thì tôi đồng ý ly hôn với chị L và giao cháu Th cho chị L nuôi
(không tranh chấp gì nữa).
Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc phát biểu
quan điểm:
3
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải
quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu
thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự (BLTTDS); Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định
của pháp luật.
- Về nội dung: Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề
nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1
Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58,
Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Chị Nguyễn
Thị Thanh L, cho chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với anh Nguyễn Văn
Nhất Th.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016
cho chị Nguyễn Thị Thanh L chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem
xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra công
khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ vụ án,
nội dung khởi kiện của nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị Thanh L là tranh chấp hôn
nhân gia đình về ly hôn và nuôi con, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1
Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - Chị Nguyễn
Thị Thanh L và bị đơn - Anh Nguyễn Văn Nhất Th đều có đơn xin xét xử vắng
mặt; Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa
án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L và anh Nguyễn Văn
Nhất Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk vào ngày
21/09/2015, là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Chị L xác định: Trong quá trình chung sống vợ chồng từ năm 2021 chị L và
anh Th bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm
sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng
đã sống ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không
còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc
4
sống hôn nhân không thể kéo dài nên chị L cương quyết ly hôn và giữ nguyên
yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị L được ly hôn với
anh Nguyễn Văn Nhất Th.
Về phía anh Th xác định: Không đồng ý ly hôn, vì con còn nhỏ, anh Th
muốn con lớn lên trong gia đình có đầy đủ bố và mẹ. Tuy nhiên nếu chị L cương
quyết ly hôn và Toà án xử ly hôn thì anh Th có nguyện vọng xin được nuôi con
chung là cháu Th; Trường hợp chị L ký cam kết nếu sau ly hôn chị L đi bước nữa
sẽ giao con cho anh Th nuôi thì anh Th đồng ý ly hôn với chị L và giao cháu Th
cho chị L nuôi.
Theo biên bản xác minh tại địa phương nơi chị L ở thể hiện: Chị L thuê
nhà và sống tại số x đường K, phường X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cùng con là
cháu Th; anh Th không sinh sống tại địa phương.
HĐXX xét thấy: Hiện nay mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị L và
anh Th là trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân, không thể hàn gắn, đoàn tụ, mục
đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị L giữ nguyên yêu cầu Toà án giải quyết
cho ly hôn với anh Th là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình nên cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung và cp dưỡng nuôi con chung: Anh Th, chị L xác định
có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016. HĐXX xét
thấy:
- Về chỗ ở và thu nhập: Quá trình giải quyết vụ án chị L đã cung cấp được
các tài liệu, chứng cứ đủ căn cứ xác định chị L có thu nhập và có nơi ở ổn định,
cháu Th đang ở cùng với chị L, được địa phương xác nhận; Còn anh Th chỉ cung
cấp cho Tòa án tài liệu về thu nhập, mà không chứng minh được nơi ở ổn định.
- Về thời gian, điều kiện chăm sóc, giáo dục con, HĐXX xét thấy: Quá
trình giải quyết vụ án chị L đã cung cấp được các tài liệu, chứng cứ thể hiện chị L
có nộp chi phí học tập cho con, hiện đang ở cùng con và có thời gian, điều kiện
chăm sóc, giáo dục con tốt. Về phía cháu Th, hiện nay cháu đang ở và có nguyện
vọng tiếp tục được ở cùng với mẹ là chị L nên cần xem xét nguyện vọng và tôn
trọng ý kiến của cháu. Về phía anh Th có công việc ở xa nên thời gian, điều kiện
chăm sóc, giáo dục con không thuận lợi, ổn định như chị L.
Từ những nhận định nêu trên, HĐXX xét thấy: Để đảm bảo sự ổn định về
tâm sinh lý, về nơi ở, môi trường sống, nơi học hành… để cháu Nguyễn Ngọc
Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016 được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất và phát triển
đầy đủ cả thể chất lẫn tinh thần thì cần giao cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng đến tuổi trưởng thành; Anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom và có thể tự
nguyện chu cấp cho con chung.
[3.3] Về cp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên
không đề cập xem xét, giải quyết
[3.4] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
không đặt ra để giải quyết.
5
[3.4] Về nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
đặt ra để giải quyết.
[4] Về án phí: Nguyên đơn - Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối
với tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.
[5] Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Krông Pắc tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật nên HĐXX cần
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 4 Điều 147; Điều 220; khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 235; Điều
266; Điều 271; Điều 273 Bộ lut t tng dân sự;
- Áp dng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1,
khoản 3 Điều 82, Điều 83 Điều 84 Lut hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dng: Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Chị Nguyễn Thị
Thanh L về ly hôn, nuôi con chung;
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với anh
Nguyễn Văn Nhất Th;
2. Về con chung:
2.1. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Bảo Th, sinh ngày 24/8/2016 cho chị
Nguyễn Thị Thanh L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến
tuổi thành niên (đủ 18 tuổi);
Anh Nguyễn Văn Nhất Th được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con
chung không ai được quyền cản trở. Tuy nhiên, anh Nguyễn Văn Nhất Th không
được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con
chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con
chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên
không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không
xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh L phải nộp 300.000 đồng án phí dân
sự sơ thẩm đối với tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, được khấu trừ trong số
6
tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện P,
tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2023/0006190 ngày 31/10/2024.
Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Lut Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thoả thun thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và
Điều 9 Lut Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Lut thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND H. Krông Pắc; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh ĐắkLắk; (Đã ký, đóng du)
- TAND tỉnh ĐắkLắk;
- Chi cc THA DS TP. BMT;
- UBND xã B, huyện P;
- Các đương sự;
- Lưu: HS v án.
Vũ Văn Đức
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 25/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 21/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 19/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 18/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 17/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 14/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Bản án số 04/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 13/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 12/03/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm