Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 14/01/2025 của TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 02/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST ngày 14/01/2025 của TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thanh Miện (TAND tỉnh Hải Dương)
Số hiệu: 02/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/01/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Trần chị Nhung xin ly hôn anh Tô Xuân Tuyên, giải quyết việc nuôi dưỡng con chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 02/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/01/2025
"Về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN - HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Quang Khuyến.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Xuân Nghỉ, ông Triệu Duy Tỏi.
- Thư phiên toà: Ông Bùi Hoàng Anh - Thư Toà án nhân dân huyện
Thanh Miện.
- Đại diện VKSND huyện Thanh Miện tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị
D - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Toà án, Toà án nhân dân huyện Thanh
Miện, tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý
số 201/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp
về nuôi con, theo quyết định đưa vụ án ra xét xsố 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày
09 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày
26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị N - sinh năm 2002
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Anh Tô Xuân T - sinh năm 1992
Nơi cư trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
Chị N xin xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, quá trình khai tại Toà
án và các tài liệu khác có tại hồ sơ, nguyên đơn chị Trần Thị N trình bày: Chị và
anh Xuân T tự nguyện kết hôn, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân T,
huyện T, tỉnh Hải Dương ngày 22/01/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống h
thuận, hạnh phúc được khoảng 06 tháng thì bắt đầu mâu thuẫn, nguyên nhân là do
không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày trong làm ăn
kinh tế, không tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau.
Tháng 8/2024 chị đã bỏ về nhà đẻ ở, sau khi chị về nhà đẻ anh T đến tìm chị
một lần và 02 lần đến gây sự với chị và gia đình chị, anh T luôn nhắn tin, điện thoại
xúc phạm chị bố mẹ chị, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không biện
pháp nào để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng
8/2024 đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị xác định cuộc
sống chung không hạnh phúc, hiện chị không còn tình cảm với anh T nên chị khởi
kiện xin ly hôn anh T, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để hai
2
bên ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung cháu Thảo V, sinh ngày
01/6/2022. Cháu hiện đang với chị. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cho chị tiếp
tục nuôi dưỡng, chị đđiều kiện trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con đến khi
trưởng thành, chị tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Chị đang làm công ty gần nhà, thu nhập bình quân từ 8 triệu đến 9.000.000
đồng/tháng. Mẹ con chị đang ở cùng với bố mẹ chị, điều kiện về chỗ ăn, chỗ ở đảm
bảo. Bố mchị vẫn khỏe mạnh, sẵn sàng hỗ trợ cho chị việc chăm sóc con khi chị
đi làm, cháu V còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi nên rất cần sự chăm sóc của mẹ, do vậy
chị đề nghị Tòa án giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng cháu V đến khi trưởng
thành. Chị không đề nghị Toà án giải quyết quan hệ tài sản chung nợ chung, công
sức.
- Quá trình làm việc quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều
lần triệu tập bị đơn là anh Tô Xuân T đã giao các văn bản tố tụng cho anh T biết,
đồng thời niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh T
đều vắng mặt, không hợp tác, không cung cấp tài liệu, chứng cứ giao gửi văn bản
ghi quan điểm của anh về các nội dung liên quan đến vụ án. Tòa án mở phiên họp
kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh T vắng mặt
không do. Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần anh T đến phiên tòa nhưng anh đều
không có mặt tại phiên tòa.
Lời khai của người thân gia đình chị N là bà Ngô Thị N1 xác định: Bà là m
đẻ của chị Trần Thị N là ngoại của cháu Thảo V. Quá trình chung sống, chị
N, anh T nhiều mâu thuẫn. Tháng 8/2024 chị N đã đưa con vcùng với ông bà,
anh T có đến tìm chị N 01 lần và đến gây sự cãi nhau với ông bà 02 lần, anh T, chị
N sống ly thân từ tháng 8/2024 đến nay không quan tâm đến nhau. Nay chị N xin ly
hôn anh T bà đề nghị Toà án giải quyết theo nguyện vọng của chị N. Anh T, chị N
01 con chung là cháu Thảo V, sinh ngày 01/6/2022, cháu đang ở với mẹ,
đề nghị Tòa án giải quyết giao cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng cháu V. Trường hợp
Toà án giao cho chị N nuôi dưỡng cháu V, vợ chồng bà sẵn sàng hỗ trợ và tạo điều
kiện cho mẹ con chị N vchỗ ăn, ở với điều kiện tốt nhất. Quá trình chung sống anh
T, chị N không có tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp gì với ông bà.
Lời khai của người thân gia đình anh T An Thị T1 xác định: m
đẻ của anh Tô Xuân T và là bà nội của cháu Tô Thảo V. Quá trình chung sống anh
T, chị N sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2024 thì phát sinh mâu thuẫn,
nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cách sống trong sinh hoạt hàng
ngày. Đến cuối tháng 8/2024 chị N bỏ về nhà đẻ ở, sau khi chị N bỏ về nđẻ ở anh
T đã nhiều lần đến gặp chị N hòa giải nhưng chị N không về, hai bên gia đình
gặp nhau khuyên nhủ nhưng không thành. Anh T, chị N sống ly thân từ tháng 8/2024
đến nay. Chị N xin ly hôn anh T, đề nghị Tòa án tiếp tục hòa giải cho anh chị
đoàn tụ, nếu chị N kiên quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật. Anh T, chN 01 con chung là Thảo V, cháu đang với mẹ.
Việc giải quyết nuôi dưỡng con chung đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của
pháp luật. Quá trình chung sống anh T, chị N không tài sản chung, nợ chung,
công sức đóng góp với ông bà. Anh T đang làm công ty sáng đi tối về nhà, thu
3
nhập vài triệu đồng/tháng. Anh T đang cùng với ông bà, nhà đất rộng rãi, vợ chồng
bà vẫn khỏe mạnh. Nếu anh T được nuôi con ông bà sẽ hỗ tranh T về chỗ ăn, ở và
việc chămc con khi anh T đi làm.
Kết quả làm việc, xác minh tại chính quyền địa phương và các đoàn thể xã T
trình bày: Anh T, chị N đăng kết hôn tại UBND T, huyện T ngày
22/01/2021. Trong thời gian chung sống anh T, chị N có mâu thuẫn, việc mâu thuẫn
cụ thể như thế nào, địa phương không nắm được, khi mâu thuẫn anh chị không mời
địa phương các đoàn thể hoà giải. Nay, chị N xin ly hôn anh T, đề nghị Toà án
tiếp tục hòa giải, nếu anh chị không thể tiếp tục chung sống với nhau, đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương phát
biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký
phiên tòa những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp
luật tố tụng dân sự về việc thụ vụ án, thu thập chứng cứ cấp, tống đạt, thông
báo các văn bản tố tụng; Hội đồng xét xử tuân theo đúng quy định của pháp luật về
xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bđơn chấp hành
không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ
Điều 51, 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng
dân sự, Nghquyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc Hội.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị
Trần Thị N được ly hôn anh Tô Xuân T.
Về con chung: Xử giao cháu Tô Thảo V, sinh ngày 01/6/2022 cho chN trực
tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận stự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh T
phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh T quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung
mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung, vay nợ, công sức: Chị Trần Thị N, không yêu cầu Tòa án
xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn
thẩm, được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí số BLTU/23 số 0006773 ngày
24/10/2024 chị đã nộp.
NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị N nguyên đơn đơn khởi kiện xin ly hôn anh
Tô Xuân T bị đơn; Nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Quan h
pháp luật tranh chấp về Hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ
luật Tố tụng dân sự. Theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểu a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Thanh Miện. Chị Trần Thị N nộp đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện
Thanh Miện thụ lý giải quyết theo thủ tục thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.
Quá trình thu thập chứng cứ anh T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng
nhưng anh T không hợp tác và không chấp hành giấy triệu tập, thông báo của Tòa
4
án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định, tại
phiên tòa lần thứ hai anh T vẫn vắng mặt không do, chị N đơn xin xét xử
vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xcăn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228
và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những
người tham gia tố tụng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị N và anh Tô Xuân T kết hôn trên cơ
sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương ngày
22/01/2021. Cả hai bên đều đã đủ tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ khi đăng
kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào trình bày của chị N, lời trình bày
của đại diện hai bên gia đình và tài liệu thu thập chứng cứ có cơ sở xác định trong
quá trình chung sống, chị N xác định vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc được 06
tháng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan
điểm trong cuộc sống hàng ngày và trong m ăn kinh tế, không có tiếng nói chung.
Tháng 8/2024 chị N đã đưa con về nhà đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay
không còn quan tâm đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án anh T vắng mặt và
không gửi văn bản ghi quan điểm của anh về các nội dung của vụ án thể hiện anh
không biện pháp khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, Tòa án đã tiến hành tổ chức
hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt, cũng không văn bản ý kiến đối với yêu
cầu ly hôn ca chị N, Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh
T vẫn không hợp tác. Nhận thấy hôn nhân giữa chị N, anh T đã lâm vào tình trạng
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được,
cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chN, do vậy xcho chị Trần Thị N
được ly hôn anh Tô Xuân T là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia
đình.
[3] Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện đã công văn gửi Phòng Q, Công
an tỉnh H. Ngày 07/12/2024 Phòng Q, Công an tỉnh H công văn trao đổi: Qua tra
cứu trên phân hệ quản lý xuất nhập cảnh tại Công an tỉnh H: Trường hợp Tô Xuân
T xuất cảnh lần gần nhất xuất cảnh ngày 20/8/2023, nhập cảnh ngày 03/6/2024, đều
qua Sân bay N.
[4] Về con chung: Chị N, anh T 01 con chung cháu Thảo V, sinh
ngày 01/6/2022, ly hôn chị N đề nghị Toà án giao cho chị tiếp tục nuôi con, chị tự
nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét nguyện vọng của
chị N thấy rằng: Đến ngày xét xử, cháu V chưa đủ 36 tháng tuổi. Theo quy định tại
khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi
được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ thỏa thuận
khác phù hợp với lợi ích của con”. Chị N đang làm công ty lương thu nhập bình
quân từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng/tháng, thu nhập ổn định phợp với
bảng tổng hợp thu nhập lương do chị N cung cấp. Anh T không cung cấp chứng cứ,
chứng minh thu nhập của anh cho Tòa. Bố mẹ chN cam kết hỗ trợ chị trong việc
chăm sóc con. Chị N không thuộc trường hợp không đủ điều kiện để nuôi con. Do
vậy cần giao cháu Thảo V cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện
của chị N về việc không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung phù hợp với
quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
5
[5] Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Trần Thị N, không
yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Trần Thị N khởi kiện vụ án Hôn nhân gia đình nên phải
chịu án phí thẩm dân sự ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, Điều 81, 82 Điều 83 của Luật Hôn nhân
gia đình; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Luật phí, lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Toà án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị N được ly hôn anh Tô Xuân T.
2. Về nuôi dưỡng con chung: Xử giao con chung cháu Tô Thảo V, sinh ngày
01/6/2022 cho chị Trần Thị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị N về việc không yêu cầu anh
Xuân T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T quyền, nghĩa vụ thăm nom con
chung mà không ai được cản trở.
3-.Về tài sản chung, vay nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Trần Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
ly hôn, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị đã nộp theo biên
lai hiệu: BLTU/2023 số: 0006773 ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, chị N đã thực hiện xong nghĩa
vụ về án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo Bản án
thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được
niêm yết.
Nơi nhận:
- VKSND huyện Thanh Miện;
- VKSND tỉnh Hải Dương;
- Các đương sự;
- Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
- UBND xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện;
(để ghi vào sổ hộ tch).
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Đào Quang Khuyến
Tải về
Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST Bản án số 02/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất