Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 25/04/2025 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2025/DS-ST ngày 25/04/2025 của TAND huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Cao Lộc (TAND tỉnh Lạng Sơn) |
| Số hiệu: | 01/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/04/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LỘC
TỈNH LẠNG SƠN
Bản án số: 01/2025/DS-ST
Ngày: 25-4-2025
V/v tranh chấp nghĩa vụ
thanh toán tiền mua bán hàng hoá
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hứa Văn Nghiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Mạnh Sằn.
Ông Trần Đình Đông.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Tùng – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham
gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-DS ngày
10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền mua bán
hàng hoá" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-DS ngày
10 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 14/2025/QĐST-DS ngày 28
tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/QĐST-DS ngày 15
tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn X (sau viết tắt là Công ty).
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
1. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1978; cư trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn
T, huyện Q, tỉnh Cao Bằng là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn
(Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn X); vắng mặt.
2. Ông Phạm Duy K, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số E, đường T, xã H, thành
phố L, tỉnh Lạng Sơn là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Hợp
đồng uỷ quyền số 009/FTC-HĐUQ ngày 21-8-2024); có mặt.
- Bị đơn: Ông Bùi Thanh T, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số A, đường H, thị
trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21-8-2024 và quá trình giải quyết vụ án, người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 10-4-2023, Công ty và ông Bùi Thanh T có xác lập hợp đồng mua
bán chân gà số 01/2023/HĐMBHH-ONLINE. Thực hiện hợp đồng, Công ty đã
tiến hành giao hàng như đã thoả thuận. Việc giao hàng được ghi nhận theo Hoá
đơn giá trị gia tăng ngày 25-4-2023 với số tiền hàng là 103.400.176 đồng và
Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 26-4-2023 với số tiền hàng là 69.480.101 đồng.
Tổng số tiền hàng là 172.880.277 đồng. Công ty đã nhiều lần liên hệ yêu cầu
ông Bùi Thanh T thanh toán nhưng ông Bùi Thanh T vẫn không thanh toán.
Công ty yêu cầu tính lãi đối với số tiền 172.880.277 đồng, với lãi suất là
15%/năm. Thời gian tính lãi từ ngày 25-4-2023 đến ngày 21-8-2024 là 482
ngày, với số tiền lãi là 34.244.504 đồng.
Do đó, Công ty khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết những vấn đề sau:
Yêu cầu buộc ông Bùi Thanh T phải thanh toán cho Công ty tổng số tiền
là 207.124.781 đồng (hai trăm linh bẩy triệu một trăm hai mươi tư nghìn bẩy
trăm tám mươi mốt đồng). Trong đó, số tiền nợ gốc là 172.880.277 đồng, số tiền
lãi chậm trả là 34.244.504 đồng.
Tại Bản tự khai ngày 14-11-2024, ông Nguyễn Xuân H trình bày: Ông và
ông Bùi Thanh T có thoả thuận sau khi nhận hàng, trong vòng 15 ngày ông Bùi
Thanh T phải thanh toán tiền đầy đủ. Hai bên không nói về lãi suất chậm trả
tiền. Sau đó, đến hạn thanh toán nhưng ông Bùi Thanh T không trả tiền mặc dù
ông đã nhiều lần đòi tiền. Đến ngày 25-02-2024, ông Bùi Thanh T có viết Giấy
xác nhận nợ, xác nhận ông Bùi Thanh T có nợ Công ty số tiền 200.000.000
đồng, hẹn đến ngày 30-4-2024 sẽ thanh toán cho Công ty. Việc ông Bùi Thanh
T ghi số tiền nợ là 200.000.000 đồng là do lúc đó ông chưa tính toán chính xác
số tiền ông Bùi Thanh T còn nợ Công ty. Hiện nay, ông đã tính toán chính xác
số tiền ông Bùi Thanh T còn nợ Công ty là 172.880.277 đồng. Do đó, ông yêu
cầu Toà án buộc ông Bùi Thanh T phải thanh toán cho Công ty số tiền
172.880.277 đồng và buộc ông Bùi Thanh T phải trả tiền lãi theo quy định của
pháp luật.
Tại Biên bản làm việc ngày 10-3-2025, người đại diện theo uỷ quyền trình
bày: Tại đơn khởi kiện đề ngày 21-8-2024, bản tự khai đề ngày 21-8-2024, Công
ty yêu cầu tính lãi suất chậm trả là 15%/năm, thời gian bắt đầu tính lãi từ ngày
25-4-2023. Tuy nhiên, do giữa ông Nguyễn Xuân H và ông Bùi Thanh T có thoả
thuận sau khi nhận hàng trong vòng 15 ngày ông Bùi Thanh T phải thanh toán
đầy đủ tiền cho Công ty. Do đó, Công ty yêu cầu ông Bùi Thanh T phải trả lãi
chậm trả đối với số tiền nợ gốc 172.880.277 đồng là 10%/năm, thời điểm tính lãi
từ ngày 12-5-2023 đến ngày 10-3-2025 là 668 ngày.
Do vậy, Công ty yêu cầu ông Bùi Thanh T phải trả cho Công ty số tiền sau:
Tiền nợ gốc: 172.880.277 đồng.
3
Tiền nợ lãi: 172.880.277 đồng x 10%/365 ngày x 668 ngày = 31.639.458
đồng.
Tổng tiền nợ gốc và nợ lãi là 204.519.735 đồng (hai trăm linh tư triệu
năm trăm mười chín nghìn bẩy trăm ba mươi lăm đồng).
Tại bản tự khai, bị đơn ông Bùi Thanh T trình bày: Ông Nguyễn Xuân H
cho rằng ông còn nợ tiền mua hàng ngày 25-4-2023 với số tiền hàng là
103.400.176 đồng và ngày 26-4-2023 với số tiền hàng là 69.480.101 đồng. Tổng
số tiền hàng là 172.880.277 đồng. Ngày 25-02-2024, ông có viết Giấy xác nhận
nợ thể hiện ông có nợ Công ty số tiền 200.000.000 đồng, hẹn đến ngày 30-4-
2024 sẽ trả tiền. Tuy nhiên, do tại thời điểm viết Giấy xác nhận nợ, do hai bên
không nhớ chính xác số tiền ông còn nợ Công ty nên ông đã viết ông còn nợ
Công ty số tiền 200.000.000 đồng. Hiện nay, Công ty đã xác định số tiền ông
còn nợ là 172.880.277 đồng. Ông đồng ý trả số tiền 172.880.277 đồng cho Công
ty. Do hai bên không có thoả thuận về nghĩa vụ trả lãi nên ông chỉ đồng ý trả
tiền nợ lãi theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Công ty có đơn
đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải. Do đó, Tòa án đã mở phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tiến hành phiên họp hoà
giải. Toà án đã thông báo kết quả phiên họp cho bị đơn theo quy định.
Ngày 04-4-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
có Yêu cầu xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ số 01/YC-VKS-DS về việc yêu
cầu Toà án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh những nội dung
sau:
Thu thập sao kê tài khoản Ngân hàng để chứng minh bị đơn chưa thanh
toán tiền mua hàng cho nguyên đơn đối với đơn hàng các ngày 25, 26 tháng 4
năm 2023.
Thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ thời điểm vi phạm nghĩa vụ chậm
trả tiền và số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn. Do có mâu thuẫn về thời điểm
thanh toán tiền mua hàng và số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn được thể hiện tại
Giấy xác nhận nợ ngày 25-02-2024 với đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên
đơn.
Ngày 9-4-2025, Toà án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn có văn
phúc đáp số 833/CV-TA, có nội dung không chấp nhận yêu cầu thu thập tài liệu,
chứng cứ của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Do bị đơn
thừa nhận và đồng ý trả số tiền nợ gốc là 172.880.277 đồng cho nguyên đơn. Do
đó, có căn cứ xác định bị đơn thừa nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối
với yêu cầu trả tiền nợ gốc. Do vậy, tình tiết này thuộc trường hợp không cần
phải chứng minh theo quy định của Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự và không có
mâu thuẫn về số tiền nợ gốc. Về thời điểm vi phạm nghĩa vụ chậm trả: Nguyên
đơn cho rằng thời hạn thanh toán tiền đối với 02 (hai) mã hàng chân gà là sau
khi nhận hàng trong vòng 15 ngày. Bị đơn cho rằng không có thoả thuận cụ thể
về thời gian trả tiền. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận giữa các bên không có
4
thoả thuận về nghĩa vụ chậm trả tiền lãi. Bị đơn đồng ý trả tiền nợ lãi theo quy
định của pháp luật. Do vậy, thời điểm vi phạm nghĩa vụ chậm trả tiền được xác
định theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên nội dung khởi kiện.
Yêu cầu Toà án buộc ông Bùi Thanh T phải trả cho Công ty số tiền sau:
Tiền nợ gốc: 172.880.277 đồng.
Tiền nợ lãi: 172.880.277 đồng x 10%/365 ngày x 668 ngày = 31.639.458
đồng.
Tổng tiền nợ gốc và nợ lãi là 204.519.735 đồng (hai trăm linh tư triệu
năm trăm mười chín nghìn bẩy trăm ba mươi lăm đồng).
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền,
nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Do hồ sơ còn thiếu nhiều tài liệu, chứng
cứ và bị đơn không có mặt tại phiên toà nên không thể làm rõ được những nội
dung còn mâu thuẫn. Do đó, Kiểm sát viên không phát biểu quan điểm về nội
dung giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về việc vắng mặt của bị đơn: Toà án đã thực hiện triệu tập hợp lệ bị
đơn lần thứ hai. Tuy nhiên, bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà và bị đơn không
có yêu cầu phản tố. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị
đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[2] Về thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn: Mặc dù Toà án đã thực hiện
thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng bị đơn không tham gia phiên họp,
phiên toà. Do đó, bị đơn không thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự theo
quy định của khoản 15 Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán
tiền mua bán hàng đã xác lập giữa các bên. Do đó, Tòa án xác định quan hệ
tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền mua
bán hàng hoá theo quy định của khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Giữa nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất với nhau về nội dung có việc mua
bán chân gà (hợp đồng mua bán chân gà số 01/2023/HĐMBHH-ONLINE). Về
5
số tiền chưa thanh toán, cả hai bên đều ghi số tiền chưa thanh toán lúc đầu là
200.000.000 đồng và đều khẳng định không chính xác. Sau đó nguyên đơn và bị
đơn đều thống nhất khẳng định: Hiện nay, giữa nguyên đơn và bị đơn có hai mã
hàng chưa thanh toán vào ngày 25-4-2023 với số tiền hàng là 103.400.176 đồng
và ngày 26-4-2023 với số tiền hàng là 69.480.101 đồng. Tổng số tiền hàng bị
đơn chưa thanh toán và còn nợ là 172.880.277 đồng. Đây là tình tiết không phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do
đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ gốc,
cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền hàng chưa thanh toán là
172.880.277 đồng.
[5] Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả lãi chậm trả do vi phạm nghĩa vụ
thanh toán. Hội đồng xét xử thấy rằng: Về tiền nợ lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị
đơn phải trả tiền lãi chậm trả là 31.639.458 đồng. Nguyên đơn cho rằng bị đơn
phải thanh toán tiền mua hàng trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hàng. Bị
đơn cho rằng giữa các bên không có thoả thuận cụ thể về thời gian phải thanh
toán tiền mua hàng. Các bên không có tài liệu, chứng cứ chứng minh giữa các
bên có thoả thuận về thời điểm, thời hạn thanh toán tiền mua hàng. Các bên đều
thừa nhận không có thoả thuận về lãi suất chậm trả. Nên xác định các bên không
có thoả thuận về thời hạn thanh toán tiền và lãi suất chậm trả. Nguyên đơn yêu
cầu bị đơn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định của pháp luật. Bị
đơn đồng ý trả tiền nợ lãi theo quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử
xác định bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng cho nguyên đơn tại
thời điểm nhận hàng là ngày 25 và ngày 26 tháng 4 năm 2023 theo quy định của
khoản 2 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn
phải thanh toán tiền lãi từ ngày 12-5-2023 là phù hợp với quy định của pháp luật
và quyền tự định đoạt của nguyên đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do
bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nên phải trả lãi trên số tiền chậm
trả. Các bên đều thừa nhận giữa các bên không có thoả thuận về lãi suất chậm
trả. Do đó, lãi suất chậm trả được xác định theo quy định của pháp luật. Nguyên
đơn yêu cầu bị đơn phải chịu mức lãi suất chậm trả là 10%/năm là phù hợp với
quy định tại khoản 3 Điều 440, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015
nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Bùi Thanh T phải thanh
toán số tiền nợ lãi chậm trả là 31.639.458 đồng cho nguyên đơn.
[6] Về tổng số tiền bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn: Do toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bị đơn
ông Bùi Thanh T phải thanh toán tổng số tiền là 204.519.735 đồng (hai trăm linh
tư triệu năm trăm mười chín nghìn bẩy trăm ba mươi lăm đồng) cho nguyên
đơn.
[7] Xét yêu cầu thu thập tài liệu chứng cứ của Viện kiểm sát tại Yêu cầu
xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ số 01/YC-VKS-DS ngày 04-4-2025 của
Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn (sau viết tắt là Viện kiểm
sát), Hội đồng xét xử thấy rằng: Viện kiểm sát yêu cầu Toà án thu thập sao kê tài
6
khoản ngân hàng để làm rõ bị đơn còn nợ nguyên đơn hai mã hàng các ngày 25,
26 tháng 4 năm 2023 nhưng không nêu rõ Toà án cần phải thu thập những tài
liệu, chứng cứ nào; thu thập tại cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào và yêu cầu thu
thập tài liệu bảng sao kê này là không cần thiết, không nắm bản chất vụ việc, bởi
trong vụ án này các bên đương sự đều thừa nhận có việc mua bán hàng hoá
nhiều lần giữa các bên và các bên không có tranh chấp gì đối với các lần mua
bán hàng hoá đã thực hiện xong mà các bên đều thừa nhận chưa thực hiện nghĩa
vụ thanh toán tiền mua bán hàng hoá các ngày 25, 26 tháng 4 năm 2023. Về số
tiền chưa thanh toán thì: Ngày 25-02-2024, bị đơn viết Giấy xác nhận nợ thể
hiện năm 2023 bị đơn có lấy hàng chân gà của nguyên đơn với số tiền là
200.000.000 đồng, nên khi khởi kiện, nguyên đơn đã gửi kèm theo đơn khởi
kiện Sổ phụ tài khoản ngân hàng của Công ty để chứng minh giao dịch phát sinh
từ ngày 08-01-2024 đến ngày 20-8-2024, bị đơn không có giao dịch thanh toán
tiền cho nguyên đơn. Mặt khác, chính bị đơn trong bản tự khai đã thừa nhận còn
nợ hai mã hàng chưa thanh toán cho nguyên đơn, phù hợp với số tiền nguyên
đơn đưa ra sau này và bị đơn cũng không phản đối các tài liệu, chứng cứ mà
nguyên đơn đã giao nộp cho Toà án và đồng thời không giao nộp tài liệu, chứng
cứ nào thể hiện bị đơn đã thanh toán tiền mã hàng các ngày 25, 26 tháng 4 năm
2023 cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng việc xác minh, thu thập
tài liệu, chứng cứ để làm rõ việc bị đơn còn nợ nguyên đơn 02 (hai) mã hàng là
không cần thiết.
Đối với yêu cầu thu thập tài liệu làm rõ số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn
và thời điểm vi phạm nghĩa vụ chậm trả: Viện kiểm sát cho rằng Giấy xác nhận
nợ ngày 25-02-2024 thể hiện số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn là 200.000.000
đồng, thời điểm thanh toán là ngày 30-4-2024. Tuy nhiên, tại đơn khởi kiện, các
bản tự khai thì nguyên đơn xác định bị đơn còn nợ số tiền 172.880.277 đồng và
tính lãi chậm trả từ ngày 25-4-2023 là có sự mâu thuẫn. Do đó, yêu cầu Toà án
thu thập tài liệu làm rõ. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại bản tự khai (bút lục số 42,
43), các bên đều thừa nhận khi viết Giấy xác nhận nợ ngày 25-02-2024 thể hiện
số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn 200.000.000 đồng là do chưa tính toán chính
xác. Nay các bên xác định lại chính xác số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn là
172.880.277 đồng. Nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả. Bị đơn chỉ đồng ý trả tiền nợ lãi theo quy định của pháp luật. Do đó,
Hội đồng xét xử thấy rằng việc xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ là
không cần thiết nên không chấp nhận yêu cầu này của Viện kiểm sát.
[8] Về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự
sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn được trả lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp theo quy định.
[9] Kiểm sát viên tham gia phiên toà không phát biểu ý kiến về việc giải
quyết vụ án và ngay sau khi kết thuc phiên toà không gửi văn bản phát biểu ý
kiến cho Toà án để lưu vào hồ sơ vụ án là chưa thực hiện đúng và đầy đủ quy
định của Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
7
[10]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 3 Điều 144, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1
Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 385, Điều 401, Điều 410, Điều 430,
Điều 433, Điều 440, Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty trách
nhiệm hữu hạn X.
1. Buộc ông Bùi Thanh T phải thanh toán tổng số tiền là 204.519.735
đồng (hai trăm linh tư triệu năm trăm mười chín nghìn bẩy trăm ba mươi lăm
đồng) cho Công ty trách nhiệm hữu hạn X, cụ thể như sau:
Số tiền nợ gốc là: 172.880.277 đồng (một trăm bẩy mươi hai triệu tám
trăm tám mươi nghìn hai trăm bẩy mươi bẩy đồng).
Số tiền nợ lãi tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2023 đến ngày 10 tháng 3 năm
2025 là: 31.639.458 đồng (ba mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn bốn
trăm năm mươi tám đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của
số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468
của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
2.1. Công ty trách nhiệm hữu hạn X được trả lại số tiền tạm ứng án phí
dân sự sơ thẩm đã nộp là 5.178.119 đồng (năm triệu một trăm bẩy mươi tám
nghìn một trăm mười chín đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Toà án số 0000842 ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
2.2. Ông Bùi Thanh T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là
10.225.986 đồng (mười triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn chín trăm tám mươi
sáu đồng), nộp vào ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
8
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lạng Sơn;
- VKSND H. Cao Lộc, T. Lạng Sơn;
- CCTHADS H. Cao Lộc, T. Lạng Sơn;
- Các đương sự;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hứa Văn Nghiệp
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm