Bản án số 98/2026/HS-ST ngày 29/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 98/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 98/2026/HS-ST ngày 29/06/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 98/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Vũ Tuân N Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 98/2026/HS-ST Bản án số 98/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 98/2026/HS-ST Bản án số 98/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
Bản án số: 98/2026/HS-ST
Ngày: 29-6-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Cận
Ông Cao Văn Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10
- Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Ninh Bình tham gia phiên
tòa: Bà Phan Thị Xuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 Ninh
Bình xét xử thẩm công khai ván hình sự thẩm thụ số 94/2026/TLST-HS
ngày 12 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
104/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2026, đối với bị cáo:
Tuấn N; sinh ngày 22-8-2002 tại G, tỉnh Ninh Bình; nơi trú: Thôn
T, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn):
9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Văn T Nguyễn Thị S; vợ Nguyễn Thị T1 01 con; tiền án;
tiền sự: Không; hiện bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “có mặt”.
- Bị hại:
1. Nguyễn Văn V, sinh năm 1968; nơi trú: trú tại xóm A, G, tỉnh Ninh
Bình; “vng mt”.
2. Nguyễn Thị T1, sinh năm 2002; nơi trú: Thôn T, G, tỉnh Ninh Bình;
“vng mặt”.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn T; “vng mặt”.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút 29-10-2025, Tuấn N (có giấy phép lái xe theo quy
định) điều khiển xe biển kiểm soát 18G1-589.92 chở theo vợ chị Nguyễn
Thị T1 và con gái Vũ Trúc Kiều A lưu thông trên đường bộ ven biển theo hướng từ
G đi G. Khi đến khu vực ngã giao nhau giữa đường ven biển (đường ưu
tiên) với đường dong vào khu dân X, G (đường không ưu tiên) mặc gặp
biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên cắm trên lề đường bên phải theo
chiều đi, nhưng Vũ Tuấn N không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại
để đảm bảo an toàn, dẫn đến lốp bánh trước xe biển kiểm soát 18G1-589.92
do N điều khiển va chạm với phần yếm xe, lốc máy bên tay ga (bên phải) xe mô
biển kiểm soát 18S8-2489 do ông Nguyễn Văn V điều khiển đi ngược chiều đang
chuyển hướng từ đường bộ ven biển vào đường dong để đi vào khu dân xóm A,
xã G khiến người và các phương tiện đổ ra đường.
Hậu quả ông Nguyễn Văn V, Tuấn N chNguyễn Thị T1 đều bị chấn
thương; 02 xe mô tô bị hư hỏng.
Ngày 31-12-2025 quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định
trưng cầu giám định đối với tỷ lệ tổn thương thể chế hình thành thương
tích của Vũ Tuấn N, ông Nguyễn Văn V và chị Nguyễn Thị T1.
Bản Kết luận giám định số 438/KLTTCT-TTPY ngày 07 tháng 01 năm 2026
của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận: Tổn thương thể của ông Nguyễn Văn V
tại thời điểm giám định là: 79% (Bảy mươi chín phần trăm), chế hình thành
thương tích: do vật tày trực tiếp gây nên; một số tổn thương đã khỏi; không xếp tỷ
lệ (Do không có trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT).
Bản Kết luận giám định số 436/KLTTCT-TTPY ngày 12 tháng 01 năm 2026
của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Tổn thương thể của anh Tuấn N tại
thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm), chế hình thành thương
tích: do vật y trực tiếp gây nên; một số tổn thương đã khỏi; không xếp tỷ lệ (Do
không có trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT).
Bản Kết luận giám định số 437/KLTTCT-TTPY ngày 09 tháng 01 năm
2026 của Trung tâm pháp y tỉnh N kết luận: Tổn thương thể của chị Nguyễn
Thị T1 tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm), áp dụng phương
pháp cộng tại Thông tư; chế hình thành thương tích: do vật tày trực tiếp gây
nên.
3
Ngày 04-12-2025 quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra Quyết định trưng cầu
giám định đối với tốc độ của xe mô tô BKS 18G1 - 589.92 và xe BKS 18S8
- 2489 ngay trước khi xảy ra va chạm và vị trí va chạm trên 02 xe mô tô trên và tại
hiện trường.
Tại Bản Kết luận giám định số: 2337/KL-KTHS ngày 24 tháng 12 năm 2025
của Phòng K ng an tỉnh N kết luận:
- Xe biển số 18G1-589.92 va chạm với xe biển số 1858-2489; vị
trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện lốp bánh trước xe biển số
18G1-589.92 với yếm xe, lốc máy bên tay ga (bên phải) xe biên số 18S8-
2489.
- Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường tại hiện trường giữa xe mô tô biển số
18G1-589.92 với xe mô tô biển số 18S8-2489 tại phía trước điểm đầu vết cày đánh
số 1 (vị trí cách mép đường bên phải theo hướng từ G đi xã G 2,4m), thuộc
phần đường bên phải theo chiều từ xã G đi xã G.
- Không xác định được tốc độ của xe biển số 18G1-589.92 xe
biển số 18S8-2489 ngay trước khi xảy ra va chạm.
Ngày 05-12-2025 quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra Yêu cầu định giá i
sản đối với 02 xe mô tô biển kiểm soát 18G1-589.92 và 18S8-2489.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng 12 năm
2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng xã G, tỉnh Ninh Bình kết luận:
- 01 (một) xe nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu xanh, biển số 18G1-
589.92, số khung RLHJA393XPY046818, số máy JA70W0062917, xe đã qua sử
dụng, không kiểm tra tình trạng máy; tại thời điểm xảy ra vụ việc, giá trị bị thiệt
hại của xe là 941.500 đồng (Chín trăm bốn mươi mốt nghìn năm trăm đồng).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Angel, loại VA6, sơn màu vàng, biển số 18S8-
2489, số khung RLGXB10AD4D001174, smáy VMVX1CD001174, xe đã qua
sử dụng, không kiểm tra tình trạng máy. Tại thời điểm xảy ra vụ việc giá trbị
thiệt hại của xe 252.250 đồng (Hai trăm năm mươi hai nghìn hai trăm năm
mươi đồng).
Kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở ngay sau khi xảy ra tai nạn xác định:
Hồi 19 giờ 15 phút ngày 29-10-2025, nồng độ cồn trong khí thở của Tuấn N
tại thời điểm kiểm tra 0.000mg/L. Dữ liệu nồng độ cồn của ông Nguyễn Văn V
trong hồ sơ bệnh án tại V vào hồi 22 giờ 25 phút ngày 29/10/2025 lượng E (M) là
56.603 mmol/l.
4
Tại Cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 12-6-2026 của Vin kim sát nhân dân
khu vực 10 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Tuấn N về tội “Vi phạm quy định về
tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 của Bộ
luật Hình sự.
Bị cáo thừa nhận hành vi, thừa nhận tính đúng đắn khách quan của các tài liệu
có trong vụ án, nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng theo Cáo trạng đã truy tố..
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm
truy tố, luận tội đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; các
điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; tuyên
bố bị cáo Tuấn N phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường
bộ”; xử phạt bị cáo Vũ Tuấn N từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án
treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; không áp dụng hình phạt bổ
sung. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên trách nhiệm dân sự không
đặt ra. Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì, tỏ săn năn hối cải và đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan Cảnh sát điều tra, Điều tra
viên,Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực
hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Ttụng hình sự.
Quá trình điều tra tại phiên tòa bị cáo, bị hại không ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,
các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều
tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai
của người tham gia tố tụng khác; kết hợp với kết luận giám định các tài liệu
khác trong hồ vụ án, từ đó đã đủ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 00 phút
29/10/2025, Tuấn N (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe
biển kiểm soát 18G1-589.92 chở vợ chị Nguyễn Thị T1 con gái lưu
thông trên đường bộ ven biển theo hướng từ G đi xã G. Khi đến khu vực ngã tư
giao nhau giữa đường bộ ven biển với đường dong vào khu dân X, G, mặc
gặp biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên cắm trên lđường bên
phải theo chiều đi, nhưng Tuấn N không chú ý quan sát, không giảm tốc độ
hoặc dừng lại để đảm bảo an toàn dẫn đến va chạm với xe biển kiểm soát
5
18S8-2489 do ông Nguyễn Văn V điều khiển đi ngược chiều đang chuyển hướng
vào đường dong để đi vào khu dân xóm A, xã G. Hậu quả: Ông V bthương
tích với tỷ lệ tổn thương thể 79%, chị T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương
cơ thể là 11%.
[3] Hành vi điều khiển xe biển kiểm soát 18G1-589.92 tham gia giao
thông đường bộ không chú ý quan sát, không giảm tốc độ hoặc dừng lại để đảm
bảo an toàn khi gặp biển biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên (thuộc
nhóm biển báo nguy hiểm) của Tuấn N đã vi phạm điểm b khoản 3 Điều 12
Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định về Chấp hành quy
định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe: “3. Người điều khiển phương tiện tham
gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an
toàn trong các trường hợp sau đây:...b. báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc
chướng ngại vật trên đường” dẫn đến hậu quả gây thương tích cho 02 người trở
với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 90% . Vì vậy, Vũ Tuấn N đã phạm tội “Vi phạm
quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260
của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 Ninh Bình truy
tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo
nhân thân tốt; phạm tội lần đầu không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự nào. Bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại; thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải; bị hại quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, trong
vụ án này cũng một phần lỗi của ông Nguyễn Văn V. vậy, bị cáo được
hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm s
khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về việc quyết định hình phạt: Hành vi của Tuấn N nguy hiểm cho
hội, xâm phạm về trật tự an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại về sức
khỏe cho người khác. Tuy nhiên, xét thấy bcáo nhân thân tốt, nơi trú
ràng, nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử nhận thấy
không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù
nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách phù hợp cũng đủ để giáo dục,
cải tạo bị cáo; quyết định này hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 65 Bộ luật
Hình sự Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày15 tháng 4 năm 2022 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân n Tối cao cũng như phù hợp với đnghị của
đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử
quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[4] Đối với ông Nguyễn Văn V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều
6
khiển xe biển kiểm soát 18S8-2489 tham gia giao thông trong tình trạng
nồng độ Ethanol trong máu 56,603 mmol/l lưu thông trên đường bộ ven biển
theo hướng t G đi G (ngược chiều với xe biển kiểm soát 18G1-
589.92 do Tuấn N điều khiển), khi đến ngã giao nhau giữa đường bộ ven
biển với đường dong đi vào khu dân cư X, xã G, ông V điều khiển xe mô tô rẽ trái
nhưng không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe đi ngược chiều nên đã
va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 18G1 - 589.92 do Vũ Tuấn N điều khiển chở
chị Nguyễn Thị T1 cháu Trúc Kiều A ngồi sau. Hậu quả: Chị Nguyễn Thị
T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương thể 11% , Tuấn N bị thương tích
với tỷ lệ tổn thương thể 15%; tổng tỷ lệ thương tích của hai người 26%.
Hành vi nêu trên của ông Nguyễn Văn V đã vi phạm quy định của Luật trật tự an
toàn giao thông đường bộ năm 2024 tại khoản 2 Điều 9 về Các hành vi bị nghiêm
cấm “2. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường btrong máu
hoặc i thở nồng độ cồn” và khoản 3 Điều 15 về Chuyển hướng xe “3. Khi
chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường
đường cho người đi bộ, xe thô sơ, xe đi ngược chiều chỉ chuyển hướng khi
không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người, phương tiện khác” tuy nhiên
không cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy
định tại Điều 260 Bluật Hình sự nên quan điều tra chuyển hồ đề nghị xử
phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn V là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 18G1-589.92, quá trình điều tra xác định là
tài sản hợp pháp của ông Văn T (là bố đẻ của Tuấn N), đăng xe mang
tên ông Văn T phù hợp với kết quả tra cứu nguồn gốc phương tiện, xe không
nằm trong hệ thống dữ liệu xe vật chứng nên quan điều tra đã trả lại chiếc xe
trên cho ông T là phù hợp
Đối với xe biển kiểm soát 18S8-2489 Giấy phép lái xe mang tên
ông Nguyễn Văn V: quá trình điều tra xác định, đăng ký xe mang tên ông Bùi Đức
D. Tháng 5/2025, ông D đã bán chiếc xe trên cho ông Nguyễn Văn V với giá
5.000.000 đồng; hai bên tự nguyện mua bán, không lập hợp đồng, chưa sang tên
đổi chủ. Kết quả tra cứu hệ thống dữ liệu xe vật chứng, chiếc xe trên không nằm
trong hệ thống dữ liệu xe vật chứng nên xác định chiếc xe tài sản hợp pháp của
ông Nguyễn Văn V. quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho ông V
phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn giao thông xảy ra, Tuấn N đã
tích cực đến hỏi thăm tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn V số tiền
2.000.000 đồng. Ông V đã nhận đủ số tiền trên không không yêu cầu hay
khiếu nại gì. Đối với chị Nguyễn Thị T1, bị cáo cũng đã tự nguyện chăm sóc, cùng
7
chị T1 điều trị thương tích khắc phục hậu quả do vụ tai nạn gây ra. Do các bị
hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem
xét.
[9] Về án phí: Bị cáo Tuấn N bị kết án nên phải nộp án phí hình s
thẩm.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại quyền kháng cáo theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 260; các điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bbị cáo Tuấn N phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”;
Xử phạt bị o Tuấn N 01 năm 03 tháng nhưng được hưởng án treo,
thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao Tuấn N cho Ủy ban nhân dân G, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo
dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi tthì thực hiện theo quy định tại
khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì a án thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
buộc: Bị cáo Vũ Tuấn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, tuyên bố: bị cáo Vũ Tuấn N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án; bị hại quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì bị cáo quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
8
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Trần Thị Thu Hiền
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 98/2026/HS-ST Bản án số 98/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 98/2026/HS-ST Bản án số 98/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất