Bản án số 101/2026/HS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 101/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 101/2026/HS-PT ngày 08/07/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 101/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đỗ Trọng K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Mạnh Hùng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Quang Tuấn
Bà Hoàng Ngọc Liễu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý Hằng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03, 08 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ (Cơ sở C) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số
115/2026/TLPT-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo Đỗ Trọng K, do có
kháng o của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 17
tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 17 - Phú Thọ.
Bị cáo có kháng cáo:
ĐỖ TRỌNG K, sinh ngày 28/11/1991 tại S, thành phNội. Nơi
trú: thôn Đ, S, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Căn cước
công dân số ************; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn:
09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đỗ Trọng H và bà Nguyễn Thị H1;
có vợ là Phạm Thị Thu H2, con có 01 con: sinh năm 2023.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Tại Bản án số 26/2018/HSST ngày 13/3/2018 của Tòa án nhân
dân huyện Sóc Sơn, tnh phố Nội, xử phạt bị cáo Đỗ Trọng K 24 tháng
nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/9/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 3 Công
an tỉnh P, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra còn có các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không
có kháng cáo, không bị kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 101/2026/HS-PT
Ngày: 08 - 7 - 2026
2
Đỗ Trọng K người giấy pp lái xe hạng B2 do Sở Giao thông vận tải
thành phố H cấp ngày 31/3/2021, có hiệu lực đến ngày 31/3/2031. Khoảng 11 giờ
trưa ngày 25/5/2025 Đỗ Trọng K một mình điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29K-
057.78, loại xe ti thùng chở hàng đi từ huyện T, tỉnh Bắc Giang đến huyện T, tỉnh
Thanh Hóa để tiêu thụ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày K điều khiển xe đi
đến đoạn đường Q hướng huyện N, tỉnh Ninh Bình đi huyện Y, tỉnh Hòa Bình
thuộc địa phận xóm T, Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (nay xóm T, Y, tỉnh
Phú Thọ). Lúc này K đi với tốc độ khoảng 50Km/h và đi tại phần đường bên phải,
K quan sát về pa trước cách vị trí xe của K khoảng 50m 01 xe tải thùng
đang dừng cùng chiều tại phần đường bên phải, phía trước ngược chiều cách vị t
của K khoảng 150m có 01 xe mô tô biển kiểm soát 35N6-1419 do Bùi Văn L điều
khiển chở theo 03 cháu nhỏ là: Bùi Thị Khánh L1; Bùi Khánh D và i Ngọc K1
đang đi đến. Thấy vậy thì K vẫn điều khiển xe đi bình thường, khi còn cách đuôi
xe ô tô tải đang dừng khoảng 10m thì bất ngờ từ phía sau bên phải có 01 xe mô tô
ba bánh (loại xe lam) vượt lên từ bên phải xe ô của K, nhưng K vẫn đánh lái
sang phần đường bên trái để vượt xe mô tô ba bánh và xe tải nêu trên thì đúng lúc
này xe mô tô do Bùi Văn L điều khiển đi ngược chiều cũng đi đến. Thấy vậy thì K
đạp phanh nhưng do khoảng cách gn nên phần đầu xe bên trái xe ô của K
đã đâm vào xe do Bùi Văn L điều khiển dẫn đến tai nn, sau khi va chạm thì
xe của K tiếp tục đi về phía trước khoảng một đoạn thì mới dừng hẳn. Hậu quả:
Bùi Văn L bị tổn thương thể với tỷ lệ thương tích 86%, Bùi Khánh D tỷ lệ
thương tích là 02%, Bùi ThKhánh L1 tỷ lệ thương tích là 75%, Bùi Ngọc K1 tỷ
lệ thương tích là 68%; xe ô tô tải và xe mô tô bị hư hỏng.
Ngay sau khi tai nạn xảy ra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã tiến hành
đo nồng độ cồn và kiểm tra chất ma túy đi với người điều khiển xe ô Đỗ Trọng
K cho kết quả: Trong hơi thở của K không nồng độ cn và âmnh với chất ma
túy.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 36 + 700m, Quốc lộ A, thuộc địa
phận xóm T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình (nay xóm T, Y, tỉnh Phú Th)
còn nguyên vẹn. Đây đoạn đường thẳng, mặt đường rải nhựa, chiều rộng lòng
đường là 6,50m.T đường đến mép đường chuẩn là 3,25m.
- Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm
chuẩn: Xác định mốc lộ giới H7/36 Quốc lộ A nằm phía bên phải (hướng đi từ thị
trấn N đi thị trấn H) làm mốc cố định.
- Về dấu vết:
+ Hiện trường vụ tai nn giao thông để lại vết chà sát trên mặt đường nằm
làn đường bên trái (hướng đi từ thị trấn N đi thị trấn H) trongđồ ký hiệu là (1)
có kích thước 7,70 x 0,45m dính tạp chất màu đen được xác định là vết chà sát ca
lốp xe ô tô phía sau bên trái xuống mặt đường chiều hướng đi của xe. Đầu 01 cách
3
mép đường là: 1,97m; Đầu 01 cách M là: 42,95m; Cuối 01 cách mép đường là:
2,70m; Cuối 01 cách M là: 33,80m.
+ Hiện trường vụ tai nạn giao thông để lại vết chà sát của lốp xe ô tô phía sau
bên phải trên mặt đường nằm làn đường bên trái (hướng đi của xe ô kích
thước 3,95 x 0,45m dính tạp chất màu đen: Đầu 02 cách mép đường là: 3,20m;
Đầu 02 cách M là: 40,15m; Cuối 02 cách mép đường là: 3,25m; Cuối 02 cách M
là: 32,95m. Đồng thời vết chà sát của lốp xe ô phía trước bên phải xuống mặt
đường nằm ở làn đường bên trái (hướng đi của xe ô tô, kích thước 6,05 x 0,20m
dính tạp chất màu đen: Đầu 03 cách mép đường là: 2,02m; Đầu 03 cách M là: 38m;
Cuối 03 cách mép đường là: 2,16m; Cuối 03 cách M là: 29,1m.
+ Mặt đường có vết chà sát của lốp bánh trước xe mô tô trên mặt đường nằm
làn đường bên trái (hướng đi từ thị trấn N đi thị trấn H), kích thước 3,50 x
0,07m: Cách mép đường là: 1,75m; Đầu 04 cách M là: 34,70m; Cuối 04 ch mép
đường là: 2,28m; Cuối 04 cách M là: 29,42m.
+ Hiện trường vụ tai nạn giao thông để lại nhiều vết máu trên mặt đường
một số phần mảnh nhựa vỡ nằm ở làn đường bên trái (hướng đi từ thị trấn N đi thị
trấn H)
+ Hiện trường một xe biển số: 35N6 - 1419 nằm làn đường bên
trái (hướng đi từ thị trấn N đi thị trấn H) đầu phương tiện hướng ra tâm đường,
phần đuôi xe hướng về mép đường chuẩn. Trong sơ đồ ký hiệu là (9): Trục trước
xe mô tô cách mép đường là: 02m; Trục sau xe mô tô cách mép đường là: 1,05m.
Cùng một xe ô tô biển số: 29K- 057.78 nằm ở làn đường bên trái (hướng đi tthị
trấn N đi thị trấn H) đầu xe ô hướng đi từ thị trấn N đi thị trấn H. Trong sơ đồ
hiệu là (10): Trục sau bên trái xe ô cách M là: 36,50m; Trục trước bên trái xe
ô tô cách M là: 32m.
Từ các tài liệu, dấu vết đã thu thập được trên hiện trường và trên phương tiện
xác định: điểm va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát: 35N6 - 1419 (9) và xe ô tô
biển kiểm soát: 29K - 057.78 nằm trên bề mặt lề đường trái hướng đi từ thị trấn N
đi thị trấn H.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông:
Các dấu vết để lại trên hai phương tiện phù hợp với các dấu vết để lại hiện
trường và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án: xe ô tô biển kiểm
soát: 29K-057.78 hỏng tại phần đầu xe, bên trái (Kính chắn gió, mặt nạ ca-lăng,
lưới tản nhiệt, cụm đèn chiếu sáng, đèn gầm chắn bùn bên trái phía trước) với
đặc điểm móp méo, nứt vỡ theo hướng từ trước ra sau; xe mô biển kiểm soát:
35N6-1419 hư hỏng nặng toàn bộ cụm đầu xe, chắn bùn trước gãy rơi, vành bánh
trước cong vênh, lốp trước vết mài trượt giảm xóc trước vết mài trượt,
bám dính tạp chất. Các dấu vết nêu trên phù hợp với chế va chạm giữa phần đầu
xe mô tô biển kiểm soát: 35N6-1419 với phần đầu trước, bên trái của xe ô tô biển
4
kiểm soát: 29K-057.78. Sau va chạm, xe biển kiểm soát: 35N6-1419 đổ
nghiêng và trượt trên mặt đường, tạo các vết mài trượt trên lốp và giảmc trước.
Kết quả trưng cầu giám định:
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số B08/KLTTCT-
TTPY, ngày 15/09/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P kết luận: Xác định tỷ
lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn L tại thời điểm giám định là: 86% (T1
mươi sáu phần trăm), Kết luận khác: Gãy xương sườn V bên trái, xương sườn VI,
VII bên phải mâu thuẫn giữa các hồ sơ bệnh án do Cơ quan điều tra cung cấp, nạn
nhân từ chối chụp CLVT nên chưa xác định tỷ lệ tổn hại. Đề nghị cho giám định
bổ sung.
Ngày 15/10/2025 quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã ra Quyết định
trưng cầu giám định bổ sung số D1233/QĐ-VPCQCSĐT giám định bổ sung tỷ lệ
tổn thương cơ thể của Bùi Văn L.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số B56/KLTTCT-
TTPY, ngày 23/10/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P kết luận: Căn cứ
Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm
tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác
định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Văn L tại thời điểm giám định là:
86% (Tám mươi sáu phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương thể trên người sống số B04/KLTTCT-
TTPY, ngày 29/8/2025, đối với Bùi Khánh D của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P
kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Bùi Khánh D tại thời điểm
giám định là: 02% (Hai phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số B09/KLTTCT-
TTPY, ngày 29/8/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P đối với Bùi Khánh L1,
kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Bùi Thị Khánh L1 tại thời
điểm giám định là: 75% (Bảy mươi lăm phần trăm).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số B07/KLTTCT-
TTPY, ngày 13/8/2025 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh P, đối vi Bùi Ngọc K1,
kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương thể của Bùi Ngọc K1 tại thời điểm
giám định là: 68% (Sáu mươi tám phần trăm).
Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2026/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 17 Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều
260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật
hình sự; Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày
bắt tạm giam 24/9/2025.
Ngoài ra, bn án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí quyền kháng cáo
theo quy định của pháp luật.
5
Ngày 24/3/2026 bị cáo Đỗ Trọng K đơn kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về thời hạn kháng cáo thủ tục thực hiện quyền kháng cáo của những
người tham gia tố tụng đã được thực hiện trong thời hạn đúng hình thức theo
quy định của pháp luật.
Về nội dung: Nêu tóm tắt nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm, phân
tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, như thành khẩn khai báo, ăn năn
hối cải, đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ cho bị
cáo, đây những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm
b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nêu về nhân thân của bị cáo có một
tiền án (Chưa được xóa án tích) nên lần phạm tội này của bcáo thuộc trường hợp
tái phạm. Xét thấy mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là có
căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Tại phiên
tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệmnh
sự, gia đình Bố đẻ được tặng giấy khen, nên được xem xét áp dụng tình tiết
giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bản thân thời gian
phục vụ trong quân đội, nhưng không được tặng thưởng danh hiệu gì, đã tự nguyện
nộp số tiền 20.000.000 đồng, bồi thường thiệt hại của bản án trước, nhiều người
công với cách mạng, tuy nhiên các tình tiết này công chứng, chứng thực,
nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương về mối quan hệ thân nhân,
do vậy không có cơ sở xem xét áp dụng. Mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới
nhưng không làm thay đổi bản chất của hành vi phạm tội, do đó không có căn cứ
để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm
a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo
của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 17/3/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 17 – Phú Thọ. Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hsơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau
[1]. Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, quan
tiến hành ttụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thẩm đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, những người tham gia tố tụng không
ý kiến khiếu nại vhành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án cấp sơ thẩm tuyên án, bị cáo
đơn kháng cáo. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo trong hạn luật
định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
6
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo
phù hợp với lời khai của các bị hi, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm phương tiện giao thông, kết luận giám định lời khai những người
tham gia tố tụng khác, cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án.
Tòa án nhân dân khu vực 17 Phú Thọ đã xét xử bcáo Đỗ Trọng K về tội “Vi
phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản
3 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét kháng cáo xin được giảm hình phạt của bị cáo:
Hội đồng xét xử thấy rằng ; Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho
hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường
bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của nời khác, gây ảnh
hưởng đến người và phương tiện khác tham gia giao thông. t bị cáo đầy đ
năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy pp lái xe theo quy định, nhận thức rõ việc
điều khiển phương tiện tham gia giao thông không chấp hành đúng quy tắc an toàn
thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Việc bị cáo điều
khiển phương tiện vượt xe không đúng quy định, khi chướng ngại vật phía trước,
lấn hoàn toàn sang phía bên trái đường của phương tiện đi ngược chiều, dẫn đến
va chạm với xe mô tô đi ngược chiều, lỗi hoàn toàn do bị cáo gây ra, hậu quả làm
04 người bị thương, với tổng tỷ lệ tổn thương thể 231%. Do đó, Tòa án cấp
sơ thẩm đã căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điu
51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ lut Hình sự xét x bị cáocăn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ
nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét áp dụng các tình tiết tăng
nặng, giảm nhtrách nhiệm hình sự đối với bị cáo, như thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hi đơn xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo xử phạt bị cáo 07 năm 09 tháng có phần nghiêm khắc.
Trước khi xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự mới, bản thân thời gian phục vụ trong quân đội, đã tự nguyện nộp
20.000.000 đồng, tiền bồi thường thiệt hại của bản án trước, gia đình có chú là Đỗ
Trọng Đ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng Nhất, hạng Nhì,
hạng Ba, Ông nội được tặng thưởng huy hiu 50 năm tuổi Đảng, bố đẻ được
tặng giấy khen, nhiều người thân trong gia đình thành tích trong công tác,
đây những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ xem xét chấp nhận kháng cáo của
bị cáo, giảm một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng,
nhân đạo của pháp luật.
Đối với quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Hội
đồng xét xử thấy rằng, bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại
7
khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo,
việc đề nghị của Viện kiểm sát không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Các quyết định khác ca Bn án hình ssơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Về án phí: Do kháng cáo của bcáo được chấp nhận nên bị cáo không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố
tụng Hình sự;
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo ĐTrọng K. Sửa
bản án hình sự sơ thẩm số 10/2026/HS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 17 – Phú Thọ. Cụ thể:
Căn cứ khoản 3 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Trọng K phạm tội Vi phạm
quy định về tham gia giao tng đường bộ.
Xử phạt bị cáo 07 (B) năm tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giam 24/9/2025.
2. Các quyết định khác ca Bn án hình sự sơ thẩm không kháng cáo,
kháng nghị có hiu lc pháp lut, k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
08/7/2026).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Mạnh Hùng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 101/2026/HS-PT Bản án số 101/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất