Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 98/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 98/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn K tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
Bản án số: 98/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 19 - 9 - 2025.
V/v: Tranh chấp ly hôn, con chung.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Mạnh Toàn.
2. Bà Dương Thị Vui.
- Thư phiên toà: Ông Vũ Tuấn Thư Toà án nhân dân khu vực
11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên
tòa: Ông Trần Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2025, tại trụ sToà án nhân dân khu vực 11 - Ninh
Bình mở phiên toà xét xử thẩm công khai vụ án thụ số: 28/2025/TLST-
HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025. Về vụ án kiện xin ly hôn giải quyết con
chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày
25 tháng 8 năm 2025 Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2025/QĐST HNGĐ
ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa:
+ Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N - Sinh năm 1987;
Địa chỉ: Xóm F, xã Q, tỉnh Ninh Bình.
+ Bị đơn: Anh Trần Văn K - Sinh năm 1988.
Địa chỉ: Xóm A, xã R, tỉnh Ninh Bình.
Tại phiên tòa vắng mặt chị N, anh K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại phiên tòa hôm nay chBùi Thị N vắng mặt, trong đơn khởi kiện lời
khai của chị N tại các buổi làm việc với Tán thể hiện: Chị kết hôn với anh
Trần Văn K vào tháng 11/2016 trên sở tự nguyện, đăng kết hôn tại UBND
thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định (nay R, tỉnh Ninh Bình). Sau khi được
cấp đăng kết hôn vợ chồng về chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì
phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống,
không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân và anh K không quan tâm gì đến
2
chị, do đó chị đã về nhà ngoại tại xã N (nay là xã Q tỉnh Ninh Bình) để ở nhờ. Vợ
chồng ly thân nhau từ năm 2019, trong thời gian vợ chồng ly thân không ai quan
tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị anh K không còn,
vợ chồng chung sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị
đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn K.
Về con chung: Chị Bùi Thị N xác định giữa chị anh K một con
chung là cháu Trần Bùi Duy M, sinh ngày 13/3/2017. Kể từ khi vợ chồng ly thân
cháu M đang do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị xin
nhận trực tiếp nuôi cháu M, không yêu cầu anh K đóng góp cấp dưỡng nuôi con
chung cùng chị.
Về tài sản chung: Chị Bùi Thị N xác định vợ chồng không có, không yêu
cầu Toà án giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm chị đề nghị giải quyết theo quy định.
Tại phiên toà hôm nay anh Trần Văn K vắng mặt. Trong quá trình giải
quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh K nhưng anh K vắng mặt anh nhờ bố
mẹ đẻ anh Trần Thị B ông Trần Văn K1 làm việc với Tòa án tại các
buổi làm việc thể hiện: Vào năm 2016 được sự nhất trí của chính quyền địa
phương gia đình đã tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương cho anh K
chị N sau khi kết hôn vợ chồng anh chị ở cùng gia đình bà một thời gian ngắn thì
vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và chị N đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã N (nay là xã
Q tỉnh Ninh Bình) đở. Trong thời gian vừa qua gia đình nhận được văn bản
tố tụng của Tán nhân dân khu vực 11 Ninh Bình thông báo việc chị N
đơn xin ly hôn anh K, do anh K bận không về để nhận trực tiếp những văn bản tố
tụng của của Tòa án nên gia đình đã nhận thay và đã thông báo cho anh K đầy
đủ, anh có nhờ bà báo cáo với Toà án quan điểm của anh về việc giải quyết vụ án
như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N xin ly hôn anh thì anh không muốn ly
hôn nhưng chN nhất quyết xin ly hôn anh thì tùy chị N.
Về con chung giữa: Anh K xác định giữa anh chị N một con chung
cháu Trần Bùi Duy M, sinh ngày 13/3/2017. Hiện cháu D đang do chị N chăm
sóc nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị N nguyện vọng nuôi cháu M không
yêu cầu anh phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N thì anh nhất trí.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án cháu Trần Bùi Minh D trình bày: Từ khi
bố mẹ ly thân cháu ở với mẹ cháu. Bố mẹ ly hôn cháu xin ở cùng với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:
+ Vtố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án tkhi thụ đến xét xử
tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
3
+ Về nội dung: Hôn nhân giữa chị N anh K hôn nhân tiến bộ, hợp
pháp. Vợ chồng chung sống được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân
do bất đồng quan điểm sống vchồng ly thân nhiều năm. Xét thấy hôn nhân
giữa chị N anh K không còn nên: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều
56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình: Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh
Trần Văn K; Về con chung: Giao cháu Trần Bùi Duy M, sinh ngày 13/3/2017
cho ch N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh K không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con
chung cùng chị N; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều Điều 147; Điều
271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
tuyên chị N phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận
tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Anh Trần Văn K đăng hkhẩu thường trú hiện đang trú tại
thị trấn R, huyện N, tỉnh Nam Định (nay R tỉnh Ninh Bình). Chị N
đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 11 Ninh Bình thụ lý giải quyết
vụ án chị xin ly hôn anh K và được Tòa án nhân dân khu vực 11 - Ninh Bình thụ
giải quyết phù hợp với quy định tại Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố
tụng Dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay chị Bùi Thị N vắng mặt nhưng chị N đơn
xin xét xử vắng mặt. vậy a án xét xử vắng mặt chị N căn cứ phù
hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Tại phiên tòa hôm nay anh Trần Văn K vắng mặt nhưng anh K đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không do. Vì vậy,
Tòa án xét xử vắng mặt anh K là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 228
Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Văn K
vào tháng 11 năm 2016 kết hôn trên sở tự nguyện, được UBND thị trấn R,
huyện N, tỉnh Nam Định (nay là xã R tỉnh Ninh Bình) cấp đăng ký kết hôn là một
hôn nhân tự do, tiến bvà đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau
khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì thuẫn vợ
chồng phát sinh, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không
tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến cãi chửi nhau do không thể hàn
4
gắn chị N đã phải đưa con về nhà bmẹ đẻ để nhờ. Vợ chồng chị N anh K đã
sống ly thân nhau từ năm 2019 trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai.
Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng giữa chị anh K không còn đề nghị Tòa
án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Anh K quan điểm không muốn vợ
chồng ly hôn nhưng nếu chị N nhất quyết xin ly hôn thì tùy chị N, anh không
ý kiến gì. Xét việc xin ly hôn của chị N quan điểm của anh K: Thấy vợ chồng
ly thân nhiều năm, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, khả
năng đoàn tụ không còn mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N xin ly hôn
anh K nên chấp nhận là phù hợp.
[3] Về con chung: Chị Bùi Thị N anh Trần Văn K đều thống nhất xác
định vợ chồng một con chung cháu Trn Bùi Duy M, sinh ngày 13/3/2017.
K t khi v chng ly thân cháu M đang do chị N trc tiếp nuôi dưỡng. V
chng ly hôn ch N xin trc tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu M không yêu cu
anh K phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng mình, anh K quan điểm
nhất trí với yêu cầu của chị N. Xét vic xin nhn nuôi con chung không yêu
cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng mình ca ch N quan điểm gii
quyết con chung ca anh K thy hoàn toàn t nguyện, không trái đạo đc
hi, không vi phạm điều cm ca pháp lut, bn thân cháu M có nguyn vng xin
vi m vì vậy được chp nhn.
[4] Về tài sản chung vợ chồng: Chị Bùi Thị N và anh Trần Văn K đều
thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí dân sự thẩm chị Bùi Thị N phải nộp theo quy định của
pháp luật.
[6] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân là phù hợp.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 147; Điều 271 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015;
Căn cứ các Điều 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1- Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị N và anh Trần Văn K.
2- Về con chung: Xử giao con chung cháu Trần Bùi Duy M, sinh ngày
13/3/2017 cho chị Bùi Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh Trần Văn K
không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N. Không ai được ngăn
cản quyền chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và thăm nom con chung.
3- Án phí dân sthẩm chị Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng nhưng
được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai số 0000114 ngày
5
18/7/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 11 - Ninh Bình. Chị N đã nộp đủ
án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người
vắng mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống
đạt bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc b
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a 9 Luật thi hành dân
sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành
dân sự.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dânTỉnh.
- VKSND khu vực 11 - Ninh Bình.
- THADS tỉnh Ninh Bình.
- UBND xã Rạng Đông.
- Các đương sự.
- Lưu án văn
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN T
Trần Trọng Ích
Tải về
Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST Bản án số 98/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất